Chiến Phan

Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn ván cờ tàn. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn ván cờ tàn. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2021

Ván cờ tàn (6) – Quân tử lỡ thời bất câu liêm sĩ

Thằng Phương chết rồi, mày biết chưa?

Hắn – một tên ngạo đời, sống qua nhiều thời kỳ khiến tâm hồn con người ta trơ lì đi, đến cả cái chết cũng nói một cách nhẹ nhàng như không. Gương mặt góc cạnh của hắn toát lên một nổi niềm hoài niệm về một người bạn đã từng ngồi cùng nhau trên ghế nhà trường, hay mài lủng đít quần để chờ đón mấy em nữ sinh Đồng Khánh, đến cả lúc đất trời ngợp giấy, cờ bay – kêu gọi kháng chiến, kêu gọi hòa bình… Giờ hắn ngồi trong nổi niệm hoài niệm cùng với thằng bạn già.

Sao không, tin tức đưa tin hà rầm mà. Thằng vậy mà hay, đi trước một cách nhẹ nhàng! Thiệt tình, cái thằng.

Gã nâng ly trà lên, bắt đầu trút cạn giữa công viên vắng người. Gã – một tên yêu đất, yêu làng, yêu cái thớ thịt của miền Tây theo chiều nắng đỗ; sau những phong ba của cuộc đời từ học hành nơi đất lạ quê người mang tên Hòn Ngọc Viễn Đông, đến ngồi với mấy thằng bạn ngạo đời trog chiều ngắm gái cho đến cả đi đầu trong mấy cuộc kêu gọi – chúng ta còn lại gì?...Giờ gã ngồi lại với hắn như một trong những thằng bạn già còn sót lại.

Hai tên ngồi trên thềm đá, gã nhấp chén trà thay rượu dưới cái nắng bàn bạc như hóng chuyện của hai tên già theo định nghĩa thời gian. Thành phố thưa người. Dịch đang bùng phát trở lại. Mấy đứa nhóc đã nhắc hai tên một lần cẩn thận…rồi đi gác tiếp.

Một nãi cuối xanh, ba bốn người giành cho mũ dính tay. Hắn bất ngờ nổi hứng nói mấy câu cách ngôn của cuộc sống xưa, cái chất văn vẽ của gốc miền Trung ăn sâu vào gã. Sài Gòn tụ hội, đám bạn bè tứ xứ ngồi học chung dưới một mái trường. Ấy vậy, giờ đây ngồi lại một Trung – một Tây.

Không biết mấy con bồ nó sao? Gã như bắt nhịp cùng hắn khi tư lự nói tiếp mấy điều tương tự, cái chủ đề gái thì bàn đến vô tận vẫn không thấy thời gian quá dài.

Ừ! Thì mấy con vợ, vài con bồ nên giờ kiếp sống của nó ra đi nhẹ nhàng. Hắn nói gì đấy như có phần ganh tỵ khi ở một kiếp nhân sinh này, hắn cũng năm, bảy bà vợ, gia phả thì tên con ghi hết một trang, chắc nghĩ ở khoảng cuối đời khi hắn nhắm mắt, có được như thằng bạn không – ra đi nhẹ nhàng trong vòng tay của người thân. Rồi hắn tự nhắn nhủ với mình: mà ở tầm này thì ganh cái gì với tỵ cái gì?

Thằng đó tao thích cái sự đa cảm của nó hơn sự đào hoa. Gã đổi đề tài, ngắm nắng xuyên qua tán lá, đậu trên cỏ xanh óng ánh nhìn một dinh Độc Lập với cánh cổng cao phũ bạc đang đóng lại. Cái tia nắng làm gã nhớ nhung mấy cái tia nắng rọi xuống đám lúa xanh ngợp đồng mát mắt hay chạy đùa trên mấy con sóng nước lăn tăn mỗi khi thuyền, ghe tạo sóng vỗ bờ mỗi đợt lướt ngang. Gã lại thấy thấp thoáng mấy em gái mới lớn gặt lúa trên đồng, má hồng theo tia nắng hay thoáng nụ cười nở trên sông từ ghe, thuyền vừa tạo sóng.

Chuyện. Thế nó mới đi theo con đường nhạc sĩ chứ! Hắn trở nhẹ cái chân – cái chân hắn thường hay chửi như một thứ để nhắc nhở hắn nhớ đến một thời thanh xuân vừa kiêu hùng vừa tủi hổ cho đến tận giờ vẫn chưa trả lời cho câu hỏi đó – chúng ta sống vì điều gì? Hắn đặt chén trà lên môi mình, nhấp nháp cái vị đắng thanh tao đấy. Hắn cực kỳ thích vị trà xứ Bắc vừa thanh, vừa tao để uống và đàm đạo cùng bạn già của hắn thì còn gì bằng. Nhất. Hắn chỉ thích hai loại hương vị: một chát của trà và hai là vị đắng của café. Hắn thích vì vị miêu tả rõ cuộc đời của hắn.

Ừ. Tao thật sự bất ngờ khi cái thằng đứng trú mưa dưới hiên một ngôi nhà, nhìn qua kẻ hở nhà người ta như..ăn trộm, thấy mẹ ngồi đưa con mà nó có thể sáng tác ra được bài Kiếp nghèo. Tao phục. Tao thì tao chịu. Gã như trở lại không gian của một Sài Gòn xưa với những con đường đi rợp bóng cây xanh, có chàng thanh niên với tâm hồn thơ mới, thấm đẫm những giai điệu để tạo thành một bản nhạc.

Vậy rồi nó đi! Bỏ lại tao với mày ở đây …cứ hát mấy câu của nó ở mỗi một mùa thu tới, rồi nhớ Việt Nam bỏ mẹ đi rồi không biết phải làm sao…rồi lại thành ra một bài hát mới. Thiệt tình. Chiều Tây Đô. Hắn bắt nhịp tiếp với thằng bạn về chủ đề sáng tác của thằng bạn đã mất.

Trời vào thu, Việt Nam buồn lắm ai ơi…à! Gã cất một câu hát của thằng bạn, miêu tả về cái cảm xúc xa xứ đó.

Quân tử lỡ thời thì bất câu liêm sĩ! Cái thằng cũng dở hơi! Hắn buông một câu giữa một trời Xuân. Mấy đứa nhóc lại tiếp tục đến nhắc nhở hai gã cẩn thận phòng chống dịch…rồi đi tiếp


Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

Ván cờ tàn (Phần 5: Chốt Tàn)

Thiếu thời huynh đệ nhất chính mộng. 
Tàn cục truyền thù vạn đạo chia 
 photo 10845983_456768994462326_7123294375159470241_n_zps9381c874.jpg
Còn nhiều thằng nữa tao chẳng nhớ nổi tên, chỉ biết có một lần tao với thằng Toàn ấy gặp nhau ở hai đầu chiến tuyến, anh em nhìn nhau dưới làn đạn. Tao thấy rõ mày nó châu lại khi thấy tao rồi đến cái nhăn mặt của nó khi vác súng bên mình, chỉa thẳng vào tao rồi làn đạn đi trượt qua tai tao. Thằng đấy chưa bao giờ bắn trật. Hắn như kẻ lạc loài giữa chiến trường dựng lại trong khung cảnh ấp ôm riêng mình. 
 photo 10300299_277345362451629_7157938081815200698_n_zpsd47ef966.jpg
Tao nhớ đến cái thời nó với tao còn ngồi chung bàn, họp cùng một lớp nó cứ hay ngủ khò với nước dãi ro ro chẳng biết ngày mai nó có làm nên trò trống gì không nhưng đâu ngờ nó trở thành anh hùng của cả một thế hệ. Gã tiếp lời thằng bạn già khi nốc tiếp một ly rượu. Gã ngắm lá cờ bay phấp phới trên dinh Độc Lập thấy ngậm ngùi vì thiếu vắng một tượng đài ghi công. 
Tao thấy người ta nói nhiều về nó, nói nhiều đến mức khó tin và tao thật sự không hiểu nó đã làm gì mà con người ta khắc sâu hình ảnh và tên của nó vào tim đến thế. Lời hắn tuôn trào như đập xã nước, đang cuốn phăng đi tất cả những gì bên dưới nó từ cây cỏ cho đến con người. 
Tao không nghĩ như vậy đâu. Con người ta khắc sâu qua những hình ảnh, thước phim để lại thì có chứ tên nó mấy ai còn nhớ tên. Có người lại nói cái thằng biệt động thành năm ấy lái xe tăng xông thẳng qua cánh cửa kia chỉ là một cảnh được dựng lên để làm tư liệu mà thôi. Gã chắc lưỡi chẳng biết vì men rượu cay hay vì vị đắng chát của câu chuyện được nhiều người viết lại còn cay hơn cả men rượu. 
 photo 10457773_1439424043002737_8490634774288385306_n_zps1806460e.jpg Tốt nhập cung Tướng khốn cùng
Mà có gì phải bận tâm, khi nó làm việc đó tao nghĩ nó chẳng hề nà câu chuyện hậu thế sau này viết sao đâu. Hắn cắt ngang dòng chua chát của thằng bạn hắn khi vài tia nắng bắt đầu liếm ngọt trên đầu ngọn cây. Vì nó đã chiến đấu hết mình cho một lý tưởng chung! Hắn nốc cạn ly rượu đưa ánh mắt về phía con đường đầy những chiếc xe qua, bỏ mặc hai thằng già ngồi đấy ngẩn ngơ. Tưởng khùng. 
Lý tưởng chung? Gã vừa hỏi vừa nhìn thằng bạn gì mình nốc cạn ly rượu để rót tiếp vào phần ly của mình. 
Lý tưởng hay có thể nói về một giấc mơ: ngày mai độc lập, đất nước thống nhất và máu không còn phải đỗ. Lý tưởng quá đúng không mậy? Thằng khùng đó. Hắn nói khi những giọt rượu đã được gã rót gần đầy ly. 
 photo mynuvietxuathatdaylungongvoitaaodaithuotthajpg1376536150_zps59187dd6.jpg
Ha ha. Sao mày nói tao nghe thấy giống khẩu hiệu kêu gọi kháng chiến quá mậy. Bên nào cũng kêu gọi như vậy mà. Gã cười cười. Ai cũng kêu gọi, Bắc – Nam kêu gọi, Việt minh với Cộng Hòa nhưng quên mất lời kêu gọi ấy đều có một điểm chung xót lòng: Việt Nam độc lập khi máu người Việt ngừng đổ. Thằng lính quèn ấy đã trở thành anh hùng trong tim những con người chứng kiến để rồi thằng lính quèn ấy được Tổ Quốc ghi công khi xác thân hắn nằm lại ở đâu đó nơi núi rừng biên giới khi tiếp tục cuộc chiến chinh đi theo tiếng gọi lòng mình. Hắn nốc cạn tiếp một ly rượu. 
Sao tự dưng tao thèm được ngồi nhậu với thằng đó mậy! Gã nói. Tao cũng vậy! Tao thèm được ngồi nhậu với thằng quỷ đó để được tiếp lửa. Tao ngán ngẫm lắm với tụi trẻ hôm nay rồi. Hắn bắt đầu đá đểu đến thời cuộc. Ừ! Thời tao với mày nhiệt huyết bao nhiêu, đến thời bây giờ tao thấy thương tụi nhỏ nhiều hơn, tụi nó cứ loay hoay đi tìm một cách sống. Gã đồng tình. 
Mất xe không bằng què Tượng 
Tướng mất Sĩ như đĩ mất váy... 
Chứ mày nghĩ xem ở thời buổi này, già như mày còn biết lên mạng xem phim sếch thì mấy đứa nhỏ tại sao không? Tao thấy mấy đứa cháu nó cứ thi nhau lên đấy xem báo viết về chém giết và dâm dục như một chuyện bình thường. Hắn thả mắt hắn nhìn về phía mãng tường bị thời gian bốc mãng da ngoài lòi cả phần thịt sỏi phía trong gồ ghề. 
 photo mynuvietxuathatdaylungongvoitaaodaithuotthajpg1376536149_zps9d275b35.jpg 
Khà khà. Nhớ cái thời đấy chép truyện người lớn mõi cả tay, chuyền hết thằng này đến thằng kia đọc đến rách cả giấy. Gã cười híp mắt khi nhớ lại chuyện xưa, đưa ly rượu lên môi làm một hơi khoái trá. 
Đấy mày xem, thời đấy khan hiếm là vậy mà vẫn vượt rào, giờ tụi nhỏ chẳng có rào để vượt đăm ra tui nó vào phòng làm mấy chuyện riêng. Có bầu rồi hỏi: nạo ở đâu? Tính ra thì lớp tao mày còn thua xa. Hắn nhìn hai đứa trẻ ngồi một góc công viên ôm ấp nhau khúc khích chẳng biết chuyện gì. 
Ừ! Tao cứ nghĩ ngày xưa mạng người rẻ, giờ thì chẳng thấy có đắt hơn. Gã lò mò theo ánh mắt thằng bạn già nhìn ra một góc công viên nơi có mấy đứa trẻ tồ quấn quýt rồi cười hô hô. 
Nhưng mà giận thì nói, buồn thì trách mấy đứa nhỏ vậy thôi chứ tao với mày đều hiểu thời nào cuộc đó, trách làm sao được khi mấy đứa nhỏ chẳng có ai chỉ đường để bản thân dò tiếp con đường đi. Tụi nhỏ cứ như mù đi giữa hai lằn ranh sáng tối chỉ biết nghe âm thanh, tiếng nói để định hình lối đi chứ chẳng biết tìm ở đâu sự kiểm chứng. Mà thôi! Mẹ! Nói chuyện với mày, tao cứ đăm ra triết lý sự cùn. Giờ muốn nhậu với nó chắc tao với mày phải bò lên núi vì tao nghe vợ nó vừa tìm thấy ở cánh rừng phía Đông. Mẹ bà! Cái thằng cũng biết chọn chỗ yên tĩnh để nằm thật. Ha ha. Hắn vỗ đùi cười. 
Sài Gòn gió thổi hiu hiu lạnh, hai thằng già ngồi ghế đá khà hơi ở một góc công viên nhìn về phía lá cờ bay.
(Ảnh: Internet)

Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2013

Ván Cờ Tàn ( Phần 1: Chốt Lùi )

photo ImageHandlerashx_zpsf13d43ab.jpeg 
Quan kỳ bất ngữ chân quân tử.  Hắn đưa ly rượu lên dốc cạn, thổi một cái phù đẩy bụi trên bàn cờ bay tứ tung, riêng các quân cờ thì y nguyên vị trí.
Bàn cờ đánh dở đã bốn mươi năm. 
Nắng cứ hanh hao, dùng dằng vì vẫn chưa vào được đất, thoảng chút gió hiếm hoi giữa nội thị Sài gòn giữa công viên ngợp lá vàng bay.
Hắn đưa bàn tay bốn ngón; lớp da chai sần u lên như những ụ kiến lâu ngày, đang bốc lấy từng lớp ni lông quấn chặt để giữ cố định mỗi quân cờ. Dù đã cố định bằng một lớp keo, hắn vẫn sợ làm dịch chuyển khỏi các vị trí trên bàn cờ dỡ dang. 

Tính từ lúc hắn hạ nước cờ cuối; gã đối đầu nói: Tao phải đi rồi! Tiếng súng như truyền từ bên ngoài mãnh đất Gòn tiến thẳng đến tai của hắn. 

Gã biết chuyện gì đến sẽ đến! 

Hắn đặt bàn cờ ở giữa công viên trước Dinh Độc Lập.

Bốn ngón tay hắn lướt nhẹ nhàng trên các quân cờ như người tình lâu ngày gặp lại, âu yếm trên từng thớ thịt. Một ngón tay gã đã gửi vào tuổi trẻ của mình, vẹn nguyên và tuyệt không hối hận vì điều đó

Hắn mừng vì ván cờ vẫn còn y nguyên. Hắn giữ cờ như con người ta giữ kỹ niệm, sợ phai mờ khi thời gian cứ như gã hung thần, hăm he cướp đi bằng việc bồi đắp từng lớp, từng lớp ngày tháng, như con sông bị bồi đắp phù sa mỗi độ lũ về rồi lũ qua người ta không còn nhớ được màu da sông cũ. Sợ thế thôi. Nhạt nhòa. 

Tóc bạc trắng, búi cao, lơ lững hai cọng ngang mài, dài thả lửng lơ như để cho chơi cùng với gió. 

Khởi thủ vô hồi đích trương phu. Gã đáp lại hắn một câu, bàn tay năm ngón với những vết sẹo chi chít của lưỡi lê một thời lướt qua, đón lấy chiếc ly rồi đưa lên dốc cạn. 
Giữa hừng đông, gã loay hoay với việc sấp xếp vị trí của bàn tiệc giữa trời với mồi nhắm: một con khô mực, một chai rượu XO đã cất giữ hơn ba mươi năm, hai chiếc ly thủy tinh màu lục như để tôn vinh một dòng chảy trong khi thằng bạn gã đang âu yếm những quân cờ. Gã vẫn cừ lèm bèm không tìm được vị rượu của quê hương nên dùng tạm thứ này.

Công việc sấp xếp với gã đã quá đỗi thường quen, giờ đây lại khiến gã có chút bối rối với cách bài biện, không được như bạn gã vẫn giữ một tình yêu bất diệt với mỗi quân cờ. Gã thấy chút gì thèn thẹn khi nhìn ván cờ được gìn giữ.
photo 36571_517876518223686_738798855_n_zps187f3a81.jpg
Ván cờ ngót nghét hơn bốn mươi năm tính từ ngày gã đã ra đi vẫn chưa phân thắng bại.
Pháo đầu, xuất Tướng, Xe đăm thọc – Binh bại tựa sơn đảo
Gã ra đi trước một ngày Sài Gòn rợp lá cờ bay. Kẻ vui, người mừng. Kẻ lo, người lắng. Không xác định.
Ngày gã bỏ lại Sài Gòn. 

Chuyến chuyên cơ cuối cùng cất cánh, mang theo những nuối tiếc, đau thương và cả hy vọng đến với một phương mới – một phương trời xa xăm, không biết được đâu là bến bờ, tương lai nào chờ đợi. Ba và mẹ gã nói rằng mọi thứ sẽ tốt đẹp thôi. Gã im lặng và chỉ nhìn ra cửa sổ. Đất mẹ cứ nhỏ dần, nhỏ dần bên dưới, tất cả những bạn bè, người thân như một viên đá rơi từ trên đỉnh núi cao, từ từ biến mất dưới màn trời mây che.
Nhớ in. Trên gương mặt, nước đã lưng tròng ở khóe mi. Không hay. Cứ thế ra đi, cứ thế đợi chờ. Đợi chờ dài ngày thành nỗi nhớ từng năm. Đếm đủ. Nỗi nhớ ngót ngét đã bốn mươi năm. Mơ. Một ngày trở về. 

Sinh ra không được lựa chọn. Gã đã mang lên mình họ Nguyễn, tự thêm cho mình một tên Tỵ 
Gã soi gương thấy những vết rạn của thời gian như những rãnh nước ngang dọc, chằng chịt đến ngập đồng trên khuôn mặt đã vượt qua thất thập cổ lại hi. 
Điểm lại một chặng đường, gã đã có một gia đình ly tán đúng nghĩa không tính thời gian và không gian. 
Ai cũng có một lý do. Vợ gã đã ra đi vì những lời nói mớ của gã trong giấc mơ vẫn còn ngập chìm ở mãnh đất hình chữ S, gã không hiểu, không tin và không nói được lời nào để giữ người gã ấp ôm từng đêm khi ngỡ đời mình đã sang trang với con đường ở phía trước chứ không phải ở phía sau khi bắt đầu từ ngã rẽ. Đó là do gã nghĩ đấy là lý do giải thích thuyết phục nhất cho việc người phụ nữ đã bỏ gã và ba đứa con.  
Trước mặt. Đứa con nhìn gã và người phụ nữ gọi là mom như hai người ngoài hành tinh đang trao đổi với nhau bằng một ngôn ngữ ở một hành tinh xa lạ nào đó. Tiếng Việt. Kẻ thù với con và cháu gã. Chúng nó nhất quyết không sử dụng tiếng Việt chỉ nói tiếng Anh như đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống hiện tại. Cám cảnh, quay về trên một chuyến bay đêm. Los Angeles. Xa dần những ánh đèn đêm mụ mị.
Trở về đất mẹ với tao. Câu nói của thằng bạn gã sau bao nhiêu năm mới liên lạc lại, ồm àm nhưng rất rõ từng từ bên đầu dây làm nước trong người hắn mở hẳn van. Tuôn trào. Câu hát của Hoài An giờ bổng cất lên trong đáy con tim gã. 

Nếu chỉ còn một ngày để sống, người đưa tôi về đến quê nhà, để tôi thăm làng xưa nguồn cội, cho tôi mơ mơ tiếng mẹ cha.
Mỉa mai. Ngày gã nhận được cuộc gọi lại là ngày gã ký giấy ly hôn.
photo user1312501_pic1034976_1316828855-1.jpg
Mã nhật, Tượng điền, Xe liền, Pháo cách – Tàn tồn diệt độc lộ
Tất cả cứ như một giấc mơ. Một giấc mơ dài đến hơn sáu mươi năm. Đến giờ. Hai thằng nhìn nhau, tóc đã hoa râm, trên gương mặt nhăn nhúm đến lụi tàn của thằng bạn, hắn không nghĩ rằng thời gian lại tàn phá bạn mình bằng những nổi niềm đến thế.
Mày còn nhớ chỗ này không. Hắn vừa ngồi vuốt ve những quân cờ, vừa ngồi lục lại những yêu thương.
Chỗ ngồi ngắm gái. Gã gật đầu, trả lời thằng bạn già, mắt hắn thả ra xa để cùng tìm lại những ký ức mà thằng bạn gã cố tìm trong thức gã, cứ như sợ gã đã vô ý làm mất đi để rồi giờ mang lại cho gã như một món quà. Món quà cuộc sống.
Lúc ngồi dưới mái trường.
Mỗi thằng mỗi cảnh nhưng cứ vui sao, hết ngắm nàng sinh viên trường luật lại lân la đến cô nàng nước da bánh mật của trường tư. Chỉ dám ngắm yêu thôi, chẳng dám làm gì. Chuyện phiếm thì cũng chỉ xoay quanh là gái trai và hỏi một mai đời ta sẽ thế nào khi chí trai phải chọn. Đến đấy thôi là câu chuyện tắt đài.
Nếu ngày ấy thằng không chọn Cộng Hòa, thằng không chọn phe còn lại thì đến hôm nay sẽ như thế nào!? Hắn đưa tay làm tiếp ly rượu thứ hai sau khi hỏi, câu hỏi mà hắn ôm ấp trong lòng hơn sáu mươi năm và hắn thấy mình may mắn khi được về lại, gặp lại thằng muốn hỏi. Thỏa lòng
( Ảnh: Sưu Tầm)

Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013

Ván cờ tàn ( Phần 3: Chốt Tình)

Mã nhật, Tượng điền, Xe liền, Pháo cách
 photo a6525acbjpg1376536516_zps99ecc78f.jpg
Không có gì xoá được kỷ niệm, chỉ có niềm đau là chôn dấu. Tất cả có thể phôi phai nhưng ký ức mãi mãi không bao giờ lụi tàn, nó chỉ lẩn khuất ở một góc nào đó tâm hồn rồi sống lại mạnh mẽ hơn cả lúc ban đầu khi khoảnh khắc nào chạm lại.
Hắn đã từng thế. Hắn đã từng khắc lên mình suy tư khi người con gái hắn yêu nói với hắn chỉ một điều duy nhất: Bỏ Sài Gòn đi anh. Sài Gòn ngày ấy với hắn ngợp những tờ giấy bay, những con người trẻ nung nấu trong con tim một ý chí, một sức sống thoát ra từ trong lồng ngực trẻ với những giấc mơ chung không còn ích kỷ riêng mình. Quốc gia được độc lập, đất nước được hoà bình.
Từ đó, quốc gia là một thứ gì đó thiết tha đến nghẹn ngào mà không có bất kỳ sách giáo khoa nào dạy hết.
Tổ quốc là một thứ gì đó thiêng liêng chứa chan yêu thương đến nấc nghẹn với mỗi lời nói ra, như dòng máu ấm áp không ngưng lại trong con tim bổng cháy mỗi khi muốn nói lên từ đấy.
Tổ Quốc thôi thúc bước đi, thôi thúc rời bỏ giảng đường với những trang sách và con chữ đầy mụ mị để bước đi theo tiếng gọi con tim mình. Có người nói đấy là ngu dại, có kẻ bảo đấy là mộng mị. Hắn cứ nghĩ ừ thì sau, đời ta đâu biết cháy được mấy lần, cứ nghĩ thế rồi đi theo tiếng gọi của con tim mình, bỏ đi một nhịp lỗi bên đời. Chờ đợi.
 photo a4655ac1bjpg1376536519_zps8a5f3652.jpg
Tiếng nói. Bỏ Sài Gòn đi anh. Mất đến gần bốn mươi năm. Dưới góc phượng vĩ già, vẫn còn có tiếng nói ấy quay về lại, cứ tưởng là chiêm bao. Không sao hiểu được. Cuộc sống lại luôn có những phép nhiệm mầu để cho chiêm bao thành thực.
Khuyết Sĩ kỵ Mã
 photo 6621178411_e52b6ab043_z.jpg
Gã thì sao. Gã cứ tưởng chôn dấu tất cả những gì của quá khứ là mọi thứ sẽ qua nhưng ở phương xa ấy, mùi thuốc súng vẫn còn âm ĩ với tiếng kêu gọi đứng lên. Hàng ngày. Thoảng đưa trong những lời kêu gọi, những tiếng nói đứng dậy khi tiếng súng đã lặng mấy chục năm, con tim gã đã thôi không còn lỗi nhịp như ngày nào. Không phải vì không còn yêu tổ quốc, không phải vì quên đất nước mà vì trái tim đã sợ mùi khói lửa, chiến tranh và thực tại đang đánh gục gã. Những đứa con & cháu gã đã quên đi đất mẹ, quê nhà và tiếng nói thiết tha đánh gục gã. Gã chỉ biết úp mặt vào tay khi vô tình nghe được tiếng ru đâu đó phát ra từ nhà hàng xóm, có người thân từ đất mẹ qua chơi, người bà đang ru cháu. Gã muốn chạy ù, kéo đứa con dâu đến để nghe hết trọn lời ru à ơi ấy, lời ru không thuộc về chốn này, lời ru ấy thuộc về máu, về con tim không quên nguồn cội nhưng rồi gã sợ không tìm ra được đâu câu trả lời khi con dâu gã hỏi: “for what?”
 photo Anh-32.jpg
Gã thôi không còn tranh cãi với những đứa cháu không muốn nói về đất mẹ hình chữ S hay tiếng Việt chọ chẹ, nói không thành từ thì hy vọng gì nói đến thành câu. Một bài hát đâu đó trên mạng search ra, có đứa bé hát một khúc đồng dao, không hiểu sao nước mắt gã tự dưng lấp lửng ở một khóe mi nức nghẹn. Cho trọn sao, gã cuốn tất cả nổi niềm vào những bao thuốc, từ điếu cao cho đến điếu thấp, từ điếu cháy cho đến điếu tàn, cứ thế, cứ thế trôi đi những miền xanh thẫm. Trên phố vẫn có đám đông người tụ tập, những truyền đơn, biểu ngữ vẫn cứ phấp phới bay trên đất mẹ thứ hai.
Giờ gã ngồi ở Việt Nam, giữa công viên với gã bạn già mà không hiểu sao hình ảnh cũ vẫn chưa chịu buông tha.
Khuyết Sỹ kỵ song Xa.
 photo 5250709795_de6086501c_z.jpg
Nếu ngày ấy thằng Hưng không chọn Cộng Hòa, thằng Tiến không chọn phe còn lại thì đến hôm nay sẽ như thế nào!? Gã nốc ly rượu thứ hai một cách dứt khoát; sau khi chuyển về đề tài cũ, câu hỏi mà gã ôm ấp trong lòng hơn sáu mươi năm và gã thấy mình may mắn khi được về lại, gặp lại thằng muốn hỏi. Thỏa lòng.
Nếu ngày ấy không chọn thì không biết bây giờ có còn không!? Hắn cứ thế, thích nói thẳng nói thật, tuyệt không vòng vo. Sự thật luôn là sự thật, vấn đề là ta có đối diện với nó hay không. Đó là câu hắn thường hay nói với mọi người, nhiều khi như tự nói với mình.
Thật sự khi chọn lựa đứng về một phe nào đấy, bá súng áp vai, mặn mòi sương gió, nhiều đêm canh gác cứ nghĩ đến vài trò ngày cũ, là thù hay là bạn vẫn không phân biệt được. Khó hiểu.
Thằng Hưng nghe gia đình nó nói nó nằm đâu đó ở đất Đồng Nai, qua một nhà ngoại cảm gì đấy báo đến giờ vẫn chưa về được với gia đình. Còn thằng Tiến thì trở về nhà với đôi nạn gỗ, nhiều lúc tao nghĩ nó định canh tranh với tao về chiến tích mang về vậy. Ha ha. Hắn ngửa mặt nhìn lên những chòi xanh đang nhú, cười hả hê như muốn giữ lại hai giọt sương nằm đọng trong khoé mắt như sợ đánh rơi một thứ gì quí giá của thiên nhiên ban tặng. Hắn làm một ly nhanh như chớp như muốn đáp lễ lại thằng bạn hắn.
…
Chẳng còn phe, cánh gì bây giờ nữa. Rồi mọi thứ cũng qua. Với tao, tao chỉ nhớ đến những lúc anh em kề vai nhau hát một bài hát trong nỗi nhớ nhà. Nói thật, lúc đó chả còn thiết tha gì cả chỉ thấy nhớ nhà kinh khủng mỗi khi ngồi gác súng trực đêm, hai phe chiến tuyền tưởng chừng như chẳng còn, lúc đó chỉ có biết đồng đội bên mình, thằng nào quê ở đâu, làm gì, gia cảnh ra sao, thuộc như học vẹt nhớ đến từng dấu chấm, phẩy.
Hai thằng già. Chẳng ai nhìn ai. Nốc cạn ly rượu thứ ba khi những tia nắng vẫn còn bò lồm cồm như sợ gió lạnh cuối năm giật mình làm đổ rượu vì một câu chuyện lỡ chừng.
( Ảnh: Internet)

Ván cờ tàn (Phần 2): http://chienphan.blogspot.com/2013/08/van-co-tan-phan-2-chot-chon.html

Thứ Ba, 6 tháng 8, 2013

Ván cờ tàn ( Phần 2: Chốt chọn)

photo HeadingTowardTheBasilicaOfOurLadyOf_zpsdc8f6d79.jpg
Mã nhật, Tượng điền, Xe liền, Pháo cách – Tàn tồn diệt độc lộ
Tất cả cứ như một giấc mơ. Một giấc mơ dài đến hơn sáu mươi năm. Đến giờ. Hai thằng nhìn nhau, tóc đã hoa râm, trên gương mặt nhăn nhúm đến lụi tàn của thằng bạn, hắn không nghĩ rằng thời gian lại tàn phá bạn mình bằng những nổi niềm nhiều đến thế.
            Mày còn nhớ chổ này không?.
          Hắn vừa ngồi vuốt ve những quân cờ, vừa lục lọi những yêu thương. Ngày cũ.
            Chỗ ngồi ngắm gái.
         Gã vừa gật đầu vừa cười. Thời gian có thể làm thay đổi mọi thứ, riêng với tính cách thì không, đúng với trường hợp của thằng bạn gã. Một thằng chân chất, ngô nghê đã bị gã gạt không biết bao nhiêu lần. 
            Tính từ cái lần đầu tiên, 
            Tiền Giang, 1970s, nơi quán nước La Pagode        
Ngay khi gã vừa đóng sập cửa lại, làn gió từ sông ngừng thổi vào trong quán nước với chất liệu chính là gỗ, một cái bóng vụt qua tung một cước song phi vào một trong bốn tên muốn "ăn chùa". 
Hắn là một thanh niên cao một mét bảy, xưng một tên Hùng, họ là Phan, tung một cú đấm vào mặt ba tên còn lại. Nộ khí bắn tung hết bàn ghế, ba tên bò lăn ngay cả khi đã dùng vũ khí mang theo mình. 
Kết quả, hắn phải ...đền bù cho những hư hỏng của quán. Gã giới thiệu mình là Nguyễn Kỵ, gương mặt đầy lạnh lùng, đầy vẻ tinh tưởng nói về Hòa Long võ đạo; môn phái của mà chàng trai trẻ Phan Hùng vừa sử dụng, là một người không biết võ, đồng ý theo Phan Hùng đến Sài Gòn để lấy tiền bồi thường sửa chửa quán. 

Chàng thanh niên Phan Hùng chỉ muốn biết thế giới này rộng lớn ra sao. 

Xuất phát là chuyến tàu từ Long Xuyên về Chợ Lớn. Gã Nguyễn Kỵ bỏ lại quán nước; nơi ngày ngày ngắm dòng sông trôi lửng lờ, lá rơi ơ hờ cho cả bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. 

Từ quán để đến nhà ga mất một giờ đi bộ, hành trình sẽ nhanh hơn nếu như hắn - Phan Hùng không can thiệp vào một vụ cướp hàng;    
, mắt gã thả trôi ra xa như để cùng thằng bạn già tìm lại những ký ức mà thằng bạn gã cố tìm trong tâm thức, cứ như sợ vô ý làm mất đi để rồi phải hối hận, giờ thằng bạn già đã lấy lại được cho gã như một món quà. Món quà cuộc sống.
photo OperaHouselookingwest_zps803dadb6.jpg
Lúc ngồi dưới mái trường.
Mỗi thằng mỗi cảnh nhưng cứ vui sao, hết ngắm nàng sinh viên trường luật lại lân la đến cô nàng nước da bánh mật của trường tư. Đặc biệt là thích mấy cô nàng Gia Long. Lúc đấy chỉ cần nhìn thấy chiếc áo dài tung bay với nón lá hay băng đô trên đầu, đạp xe ngườc chiều gió. Ngang qua. Mấy thằng con trai cứ ngồi lê la để chờ đợi như một thú vui một ngày không thể thiếu.
            Lúc đấy chỉ canh có em nào hở chút da thịt ở eo thôi mà tìm đỏ cả mắt, chẳng bù bây giờ...Gã đệm vào câu bỏ lửng bằng chút hơi dài.
            Chẳng bù bây giờ, mấy em ra đường thịt thấy tận mông, bỏ lưng ở trần, nhiều lúc chẳng còn biết gái trai...Chẳng bù bây giờ, tụi nhỏ chưa đủ tuổi làm giấy đã làm mẹ làm cha...Mà mày ganh tị hay tiếc nuối đấy? Hắn đá đểu gã một câu trong khi gã không ngưng vuốt ve những quân cờ.
            Ganh tị, tiếc nuối gì mậy, mỗi thời mỗi khác? Gã hơi bực vì câu đá đểu. Vẫn như ngày nào, gã chẳng thể nào thả hồn được với hắn, thằng cứ đăm hơi vào những lúc tâm trạng nhất.
            Ganh tị vì sao con trai bây giờ sướng thế không biết, ngày ngày rửa mắt đến đổ ghèn...ha ha. Tiếc nuối vì phải sống ở một thời thèm nhỏ dãi cũng chẳng dám đến nói một câu, cua gái nhìn đi nhìn lại chỉ biết cười rồi nắm tay. Chứ nếu sống ở thời này chắc mày giờ cũng đã làm ông ở tuổi ba mươi...Ha ha. Hắn tiếp tục móc họng gã và dậm thêm đấy là một tràng cười như muốn chọc tiết gã.
Gã chẳng thèm tranh cãi về mấy câu đùa của hắn. Đúng là có ganh tị và tiếc nuối thật. Đúng là hắn nhìn thấu được ruột gan của gã. Một phần. Những gì của một thời ngu ngơ. Chỉ dám ngắm yêu thôi, chẳng dám làm gì. Chuyện phiếm thì cũng chỉ xoay quanh là gái trai và hỏi một mai đời ta sẽ thế nào khi chí trai phải chọn. Đến đấy thôi là câu chuyện tắt đài.
photo nguyenhue-saigon1962b_zps3e9ff01b.jpg
Gã nhớ đến em. Phải nói chính xác là em đầu tiên vì theo phép tính cộng, trừ của riêng gã thì đời gã từng có ba em.
Em cuối cùng để lại gã một vết thương chí mạng, không có máu lại đau thấu tim.Đó là khi gã không còn tìm đâu ra được điểm nào ở đứa con gã có cùng một nguồn cội.
Em thứ hai trong đời gã là một cuộc tình chính trị. Gã đã chọn cho mình khi muốn bước tiếp nghiệp binh để rồi khi Sài Gòn lửa khói, bước sang kia đại dương, em không còn thuộc về gã. Đó là tất cả những gì gã nhớ.
Và chính em, người tình đầu tiên, tình đầu là tình dỡ dang, tình lỡ làng là tình thương nhớ.
Người con gái xinh xinh, má phúng phính, nụ cười thẹn thùng với chiếc áo phất phơ và mái tóc bồng bềnh dù cài băng đô, tóc vẫn bị gió nghịch đùa khiến tim gã ngọng nghịu. Em đẹp rất Tây trong bóng dáng Ta. Ngược đời. Ngày ấy gã là một thằng con trai lưu manh giữa đám học hành lại chỉ biết thập thò bên dưới góc cây để ngắm nhìn mỗi lần em qua. Gã thuộc lòng từng con đường em qua có bao nhiêu lá vừa mới rụng đầy sân phơi.
photo saigon67-09b_zps692a0f1a.jpg
Gã cũng như bao thằng thanh niên khác, viết thư tình khi biết yêu. Tuy nhiên, gã muốn làm điều khác biệt, viết thư tình trên lá cây khô, mỗi ngày một chữ và đặt lá vàng trên lối em đi khi biết em thích nhặt lá vàng rơi. Tổng cộng gã mất sáu mươi bảy ngày cho một câu tỏ tình. Hò hẹn.
Đường hoa Nguyễn Huệ. Gã với em đi suốt một đường hoa, có cảm giác như đi trên đường phố Paris vào một dịp lễ hội với cỏ hoa trang trí, chẳng nói được câu gì ra hồn ngoài những câu nói vô thưởng, vô phạt với mỗi một đề tài về hoa.
Cứ thế đi hết đường Nguyễn Huệ đến Tự Do và chẳng hiểu sao lúc ấy gã lại tặng em...cục xà bông. Gã cứ nghĩ đơn giản xà bông Việt Nam: tốt hơn hết - phẩm cao giá hạ, gã dốc hết tiền cho quà tặng đầu tiên. Một cục xà bông. Gã làm em ngượng chín rồi bật cười không ngưng khi sau này biết được lý do vì sao gã tặng em như món quà tỏ tình. Cục xà bông. Giữ gìn thương hiệu Việt.
Nhất Sỹ chòi góc, cóc sợ Mã công
            Tự dưng. Tao nhớ Hoa...!Trời vào thu Việt Nam buồn lắm em ơi, mây tím đang dâng cao vời, mà tình yêu chưa lên ngôi
            Gã nốc hết ly rượu thứ hai sau khi hắn rót đầy rồi rân cổ ca với giọng khàn.
            Nhớ gì nữa, mày bỏ người ta rồi giờ nhớ nhung gì.
            Hắn đá đểu lại thằng bạn già một cú chí tử. Hắn là thế, không nói thì thôi chứ một khi đã nói là khiến người ta cứng họng vì hắn nói đúng.
photo saigon67-13b_zps0ab6ae64.jpg
            Ừ! Thế còn Ly của mày sao rồi? Nhắc mới nhớ, tao quên chưa hỏi mày.
            Gã chuyển đề tài vì gã đuối lý, dù vậy không hiểu sao trong tâm trí gã vẫn có một niềm hy vọng gì đó đang nhen nhúm lên. Gã vẫn hy vọng có cơ hội gặp lại người xưa.
            Khà khà…Cứ như phim mày ạ! Gần nữa đời người và gần nữa vòng trái đất mới gặp lại nhau, níu kéo nhau vì một câu nói: Bỏ lại Sài Gòn đi anh! Để rồi gặp lại nhau ở giữa Sài Gòn.
            Hắn nhấp một nhụm rượu, khà ra một cách điệu nghệ rồi cười đắc thắng về câu chuyện của đời hắn. 
( Ảnh: Internet) 
Bài viết liên quan:

Thứ Hai, 25 tháng 8, 2014

Ván cờ tàn (Phần 4: Chốt Lùi)

Khuyết Tượng kỵ Pháo
 photo 10457773_1439424043002737_8490634774288385306_n_zps1806460e.jpg
Mày nhớ thằng Toàn không!?
Cái thằng đến giờ không biết suy nghĩ gì nhưng tao lại cứ suy nghĩ mãi về điều nó làm. Nó viết những dòng về lịch sử dù rằng nó chẳng phải là sử gia gì cả. Nó nói rằng nó nợ thế hệ này những dòng lịch sử. Thằng ngộ, tự dưng đeo lên mình một cục nợ không tên.
Gã cứ tiếp tục nói. Gã đã có một gia đình mới nằm trên đất nước có lá cờ hơn năm mươi mấy ngôi sao. Con gã lớn lên chẳng thiết tha gì đến quê nhà, dù rằng gã không thôi kể về nơi gã đã sinh ra và lớn lên. Gìn giữ. Quá khứ - điên khùng, rãnh rỗi…là những từ mà gã hay nghe nhất khi gã đem câu chuyện của bạn gã nói cho kẻ thứ ba – những kẻ cùng thời, khác thời và lạc thời; nhưng với gã thì không. Gã thấm thía lắm rồi khi những đứa con, đứa cháu gã không “thấm” những câu chuyện về đất nước hình chữ S mà gã cứ nói ra rã mỗi lần gặp, biết vậy những gã cứ nói, cứ nói như một cuốn băng được cài ở chế độ repeat. Điều gã cảm thấy “thấm” nhất là người phụ nữ mà gã quyết định chọn làm vợ cũng trở nên xa lạ trước mặt khi gã đặt những câu hỏi về quê cha, đất tổ trong những ngày đạn dội, bom rơi.
 photo 994439_1438094883135653_4801657594216244103_n_zps587b5e54.jpg 
Mày gặp nó à? Hắn hỏi. Thằng đó giờ cứ kẻ không nhà vậy, cứ lang thang hết chốn này đến chốn kia, chủ yếu là đi tìm những tên khoát áo lính như tao và mày, bất kể là Việt minh hay Cộng hòa. Nó muốn ghi chép lại sự thật để con cháu sau này biết được ngày ấy trên đất này đã diễn ra chuyện gì chứ không phải là câu chuyện dành cho “bên thắng cuộc”. Hắn không để gã trả lời cứ nói tiếp câu chuyện về thằng bạn.
Không! Nó gặp tao trên mạng! Gã trả lời.
À. Tụi bây công nghệ dữ ha, lên xem phim sếch gặp nhau à. Khà khà. Hắn cười hềnh hệch.
Mẹ! Giờ có xem thì xem nó ngã về phía bên nào ấy. Tao với nó tìm gặp nhau qua facebook. Gã đáp trả lời trêu chọc của thằng bạn.
Còn nó thì mò đến nhà tao rồi nói chuyện viết lách đó trong buổi nhậu. Cái thằng tao hỏi: Cái gì thúc đít mày viết đề tài này? Nó trả lời tao: Vì tao thương mấy đứa nhỏ. Hắn rít một hơi khói.
 photo 10492612_390533271085899_8886909847883914239_n_zpsadb97474.jpg
Cờ tàn, Pháo hoàn....
Trường tôi ở tại lối Nancy,
Trung học đường kia có bảng ghi.
Mượn hiệu người xưa Trương Vĩnh Ký,
Lẫy lừng danh tiếng đã bao thì.
Hắn vỗ đùi nhịp theo tiếng thơ ngâm như một thi sĩ khi tay nâng chén rượu, mắt nhìn về khoảng xa xăm, không biết khoảng trời nào trên nốc dinh Độc Lập được hắn ngắm, chỉ biết ly rượu trên tay chồng chềnh theo mấy nhịp rung.
 photo mynuvietxuathatdaylungongvoitaaodaithuotthajpg1376536129_zpsacda631c.jpg

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt
Tâu Âu khoa học yếu minh tâm
Gã tiếp mấy câu cùng thằng bạn già, đầu gật gật ra dáng thi sĩ chẳng thua. Gã nhớ đến những đứa bạn cùng thời – thời binh biến, thời của những con người trẻ đi theo giấc mộng thiên thu lưu giữ, những giá trị cốt lõi đều thuộc nằm lòng, không phải lăn tăn để rồi ủ rũ, tư lự và nhiều khi gã chẳng hiểu tuổi trẻ đào ở đâu ra mà lắm những nỗi buồn từ cuộc sống mang lại. Gã nhớ đến thời của gã, những con người sống với những khát vọng và chiến đấu quên mình vì những giá trị đã khắc ghi vào tim từ những con người với vầng trán cao, tóc phai màu nhưng nhiệt huyết đầy dâng trong những bài giảng không chỉ còn là sách vở ra để nói nhau nghe mà sách vở kia có ích gì với đời không. Thiệt tình. Gã nhớ những cô, thầy của gã biết bao. Với gã, những người đó chưa bao giờ chết trong tim, gã tiếp tục đi tìm những con người như vậy cho con cháu mình để rồi hơn bốn mươi năm chẳng đặng hoài gã phải thú nhận những con người ấy chỉ thấy ở đất nước một thời biến binh.
(Ảnh: Internet)

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2026

[Story] Gió về miền Trung (9) - Vàng mã - The Central Winds (9) – Japer Money


Bình Trị Thiên - 1965
 Đổi đời nghỉ gớm câu dâu bể

Thổ lộ cùng ai chuyện núi sông?  

(Nguyễn Quang Diêu)

Giữa sân từ đường lót gạch Bát Tràng rêu phong. Mụ Cả cười khẩy, nheo đôi mắt hằn học:

– Có trèo cao mấy cũng chỉ là bùn đất bám chân phượng hoàng mà thôi. 

Mụ Nuôi hoàn toàn phớt lờ. Bà không mảy may liếc nhìn mụ Cả lấy một nhịp, đôi bàn tay gầy guộc vẫn thong thả miết chặt nếp giấy bản, xếp lại những xấp giấy tiền vàng mã tinh xảo lên chiếc sập gụ. Đối với mụ, sự ghen tuông hẹp hòi ấy thật nhỏ bé trước cái đói, cái nghèo đang bủa vây dân làng ngoài kia sau trận lũ dữ.

Đột nhiên, cánh cửa gỗ nặng nề đẩy ra. Ông Liên bước vào, dắt theo một người đàn bà sực nức mùi gió biển phương Nam, nét mặt sắc sảo. 

Mụ Cả trố mắt nhìn người đàn bà mới đến, khuôn mặt biến dạng vì nhục nhã. Mụ gào lên, lao thẳng về phía bà Tư:

– Đồ con đĩ Salem phương Nam! Mày dám vác mặt đến đây cướp chồng, bôi nhọ cái gia phong này à? Làng mạc đang tang hoang sau lũ, tông đường đang khốn đốn, mà ông Liên lại rước cái loại sặc sỡ này về đây chọc tức tôi sao?

Bà Tư một tay đỡ phắt lấy cú cào xé của mụ Cả, dứt khoát đẩy mạnh ra rồi chống nạnh, cong cớn đáp trả:

– Ngon nhào vô đi chị lớn! Tưởng làm dâu trưởng họ Phan là ngon lắm hả? Mặt mũi thì cau có như khỉ ăn ớt rớt, hèn chi chồng đi biền biệt không thèm ngó ngàng! 

– Mày… mày là cái thá gì mà dám lên giọng ở đất Thần Kinh này! – Mụ Cả tức đến run bần bật, định lao vào lần nữa.

Đứng giữa hai người vợ đang giằng co nảy lửa, ông Liên lại hoàn toàn phớt lờ họ. Ông không thèm can ngăn, cũng chẳng thèm liếc nhìn sự ghen tuông của hai người đàn bà. Ánh mắt ông dời qua vết bùn lũ trên tường từ đường, rồi dừng lại trên vóc dáng lầm lũi của mụ Nuôi. Ông dằn mạnh chiếc ba lô xuống đất, cất giọng miền Trung rặt, khàn đục nhưng chứa đầy sự mệt mỏi và gánh nặng thời cuộc:

– Im hết đi! Mấy mụ không thấy làng mạc ngoài kia đang xơ xác, dân tình đang đói rách sau trận lũ dữ rứa sao? Tôi về đây không phải để coi mấy mụ đánh ghen làm trò hề. Nợ nần nương rẫy, thuế má của tô tộc, rồi cả đống việc cứu tế cho bà con họ tộc đang đè nặng trên vai, trật tự cái nhà ni phải thu xếp cho nhanh để tôi còn lo việc lớn! Ai không chịu được thì bước ra khỏi cổng từ đường!

Lời nói bạc bẽo và uy quyền của ông khiến mụ Cả và bà Tư khựng lại, không gian bỗng chốc im bặt. Ông Liên quay sang nhìn mụ Nuôi, ánh mắt sững lại, dịu đi vài phần. 

Mụ Nuôi dằn mạnh chiếc khay trà gụ xuống mặt bàn đá giữa sân. Một tiếng “Chát!” khô khốc vang lên, mụ bình thản đứng dậy, nhìn ông Liên rồi quay sang thu xếp cục diện:

– Chị Cả nờ! Coi lại cái tư cách dâu trưởng của chị đi, đừng để người ngoài nhìn vào lại cười cho. Còn cô Tư, đất miền Trung ni tuy nghèo, vừa qua trận bão lũ xơ xác thật, nhưng ‘đói cho sạch, rách cho thơm’, cô vào gian tả vu bên trái mà ở. 

Bà Tư nhìn mụ Nuôi, cái vẻ đanh đá lúc nãy bay biến. Mụ Nuôi bấy giờ mới tiến lại gần mụ Cả, đặt bàn tay gầy guộc lên bờ vai đang run rẩy vì nhục nhã của người vợ cả, nói nhỏ:

– Chị lau nước mắt đi, vào nhà lo cho thằng Sơn. Đời mình coi như nát rồi, phải giữ cái đầu tỉnh táo để lo cho tương lai tụi nhỏ. Đừng để tụi đàn ông coi mình như cái áo cũ, muốn cởi là cởi, muốn mặc là mặc!

Mụ Cả ngước nhìn mụ Nuôi, nghẹn ngào rồi quay lưng đi thẳng vào trong nhà, buông bỏ hoàn toàn ý định đánh ghen.

Mụ Nuôi quay người, tiếp tục quẩy gánh giấy tiền vàng mã bước trở lại gian nhà chính. Bà cần phải tìm cái ăn, bao nhiêu cái miệng đang chờ bà, từ đám con thơ đến những mảnh đời nghèo đói ngoài kia; còn sự trở về cùng những toan tính gia phong của ông Liên chẳng phải là mối bận tâm của bà lúc này.



Tháng Chạp

Rời khỏi từ đường họ Phan ồn ã, mụ Nuôi quẩy gánh đi thẳng về phía cuối làng Sình, nơi gian nhà tranh vách đất sực nức mùi mực nho, mùi điệp và gỗ mứt của Ôn Biện — người nghệ nhân mộc bản già, bậc kỳ tài đứng sau những bức tranh mà mụ mang đi Đấu xảo. Ôn Biện dáng người gầy guộc như một thân tre già, đôi bàn tay chi chít những vết sẹo và thâm đen vì nhựa cây, đang lặng lẽ tỉ mẩn đục đẽo một thanh gỗ thị.

Thấy mụ Nuôi bước vào với gánh giấy tiền vàng mã trên vai, ông lão không ngước lên, chỉ cười khà khà, giọng trầm khàn đặc sệt chất Huế cổ: – Mụ Nuôi nờ, về rồi đó à? Cơn bão Đấu xảo trên phố quét sạch sành sanh rồi, giờ về quẩy gánh đồ mã đi bán cuối năm đó phỏng?

Ôn Biện đặt chiếc đục xuống, ngước đôi mắt kèm nhèm nhưng tinh anh nhìn mụ, khẽ nhấp một ngụm trà gừng rồi hỏi tiếp, giọng đầy thắc mắc: – Ta hỏi thật, ở cái chảo lửa Đấu xảo đó, người ta tranh nhau sứt đầu mẻ trán để chọn một cái phe mà nương tựa, sao mụ lại gạt tay từ chối hết thảy? Cơ hội đổi đời mười mươi trước mắt. Phe triều đình cũ muốn gầy dựng lại một giang sơn vàng son — thứ mà mụ Cả đang bán mạng đứng về. Rồi bên nền Cộng Hòa đưa ra lập luận về sự khai sáng bởi văn minh, khoa học, chính là con đường mà những doctor như cậu Địch và cả bà Thục Đoan tin tưởng lựa chọn. Ngay cả một cuộc đấu tranh đầy lý tưởng từ cánh miền Bắc, kêu gọi giải phóng qua những xấp truyền đơn của đám thiếu nữ dưới trướng Sư bà... Tất cả những tiếng nói ấy, lập trường ấy, răng lại chẳng gợi lên trong mụ một chút dao động nào rứa?

Mụ Nuôi khẽ gạt lọn tóc mai lốm đốm bạc, bình thản xếp lại những nếp giấy bản, khóe môi nhếch lên một nụ cười thâm trầm: – Ôn nờ, thói đời “trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết”, phe nào thì cũng là bắt phận đàn bà, dân cày mình làm quân cờ mà thôi. Người ta lo tranh giành ngôi thứ, lo chọn phe chính trị, còn tôi... tôi bận lo cái mạng mình còn giữ được hay không.

Bà khẽ kéo nhẹ chéo áo nâu sồng, để lộ vết sẹo đỏ quạnh mới lên da non bên bả vai. Đó là bí mật kinh hoàng về trận ám sát hụt đêm Đấu xảo mà mụ giấu nhẹm, giấu luôn cả chồng mình là ông Liên. Phát đạn bắn tỉa của gã mật vụ Bình suýt chút nữa đã lấy mạng mụ nếu không có sự can thiệp từ bóng tối của người quen cũ. Đêm đó, chính cậu Địch đã thầm lặng, tự tay sát trùng và điều trị vết thương cho mụ trong mật thất, tuyệt đối giữ kín kẽ với gia tộc.

Mụ Nuôi thở dài, giọng ráo hoảnh: – Đi qua lằn ranh sinh tử rốt cục mới biết, cái danh phận chính thất hay dâu thứ, ngôi thứ trong nhà cổ họ Phan cũng chỉ là trò múa rối. Đến cái mạng mình mà tụi nó còn muốn tước đoạt một cách có sắp xếp, thì sự xuất hiện của bà Tư Vũng Tàu hay cái uy quyền gia phong của ông Liên bấy giờ có là chi đâu để tôi phải bận tâm, ghen tuông cho mệt xác? Tôi còn bao nhiêu cái miệng chờ ăn, đám con tôi còn đói rách sau lũ. Ôn cứ giao khuôn in tiền vàng loại tinh xảo nhất ngày xưa tiến cung cho tôi. Cuối năm rồi, người sống cần gạo, người chết cần đức tin, mình cứ lo kiếm tiền cứu mạng bà con trước đã, nghe ôn?

Ôn Biện nghe xong, im lặng một hồi lâu rồi thở dài, ánh mắt nhìn xoáy vào vết thương chưa lành trên vai mụ, giọng chùng xuống đầy thấu cảm: – Giờ ta ít nhiều rõ hơn rồi... Sự lựa chọn của ta giúp mụ thêm một lần nữa với đống giấy này vậy, nếu không được với kẻ sống thì biết đâu được với kẻ chết. Mà thời buổi ni, người sống và kẻ chết chẳng phân biệt được, quá nhiều kẻ đang sống sờ sờ ra đó mà cái tâm cái hồn như đã chết rồi đấy thôi.

Mụ Nuôi tự tay rót bát nước chè xanh đặt bên cạnh ông lão: – Ôn đã biết trước kết cục, rứa sao ngày đó ôn vẫn cặm cụi thức thâu đêm để vẽ, để giao hết mộc bản gia bảo cho tôi mang đi?

Ôn Biện bấy giờ mới hạ chiếc đục xuống, ngước đôi mắt kèm nhèm nhưng tinh anh nhìn mụ. Ông vuốt chòm râu bạc, thở dài một tiếng đầy thâm sâu:

– Đời ni làm chi có chuyện công bằng cho những sản vật của dân cày, hả mụ? Cái hội đồng Đấu xảo đó, ngay từ đầu đã là cái sân khấu chính trị của đám quan chức Cộng hòa và giới thượng lưu cung đình cũ. Tụi nó xài tiền đô-la, xài mưu hèn kế bẩn để dìm chết tranh làng Sình của mụ, ta đã lường trước từ khi mụ chưa bước chân lên xe đò. Ta giúp mụ, không phải vì cái giải hữu danh vô thực kia. Ta giúp mụ vì ta muốn mụ thấy rõ bộ mặt thật của thế cuộc. Thua một ván cờ sòng phẳng với kẻ tiểu nhân, để cái đầu mụ tỉnh ra, biết đường mà dấn thân vào con đường lớn hơn. Đó mới là cái đích của ta.

Mụ Nuôi khẽ gật đầu, lòng chợt nhẹ tênh. Sự thất bại có sắp xếp ấy hóa ra lại là một bài học nhân sinh đắt giá. Ôn Biện chỉ tay vào đống khuôn gỗ mới đục, hạ giọng: 

– Trên phố người ta chuộng vàng son, còn dưới làng ni sau lũ, người sống cần ăn, người chết cần được sưởi ấm bằng đức tin. Cuối năm rồi, biết đâu nghề làm giấy tiền vàng mã ni sẽ cứu sống cái gia đình mụ và đám góa phụ làng Sình. Ta đã chuẩn bị sẵn khuôn in vàng mã mụ cứ đem về mà làm. Đàn ông lo việc súng đạn, đàn bà mình lo việc giữ mạng và giữ nghề.

Trước khi mụ Nuôi quẩy gánh ra về, Ôn Biện dắt mụ vào gian buồng tối, trao cho mụ một xấp giấy bản được gói bọc vô cùng cẩn mật trong lớp vải thô: 

– Mụ Nuôi có đường đi lối lại trên phố Thần Kinh. Mang cái ni đến quán cà phê bên sông Hương, tìm gặp mấy người quen ta. Bảo với họ: “Mực làng Sình không phai dưới nước lũ, cốt cách người miền Trung không quỳ dưới họng súng.” Đi đường vòng để cứu người, việc ni chỉ có cái đầu lạnh của mụ mới làm nổi.

Mụ Nuôi siết chặt bọc giấy vào lòng, bước chân dứt khoát đạp lên lớp bùn non sau lũ. Một chương mới trong cuộc đời giao liên và sinh kế của mụ chính thức mở ra giữa những ngày cuối năm xám xịt mùi khói đạn. Nghề làm giấy tiền vàng mã. Ít ai biết, mụ đã thừa hưởng những bí kỹ làm đồ mã cốt cách cung đình, từng được tạo tác tinh xảo để tiến cung triều Nguyễn. 

…

Vượt Ngục

Cơn bão gia tộc tạm lắng, trả lại cho gian nhà tả vu một bầu không khí im lìm, đặc quánh mùi ẩm ướt của đất sỏi miền Trung sau lũ. Chiếc đèn măng-xông vặn nhỏ hết cỡ, hắt lên vách đất những chiếc bóng lay lắt.

Mụ Nuôi bước vào, trên tay bưng một bát cháo hành nóng hổi cùng đĩa gừng nướng xắt lát — thứ thuốc dân dã nhưng linh nghiệm nhất của xứ này để chống lại cái khí lạnh độc sau bão. Bà dừng lại ở bực cửa, im lặng nhìn người đàn bà phương Nam đang ngồi trên chiếc phản gỗ.

Khác với cái vẻ dữ dằn, cong cớn dắt con thách thức mụ Cả lúc ban chiều, bà Tư lúc này bộc lộ rõ cái cốt cách của một người con gái đất Sài Gòn — Vũng Tàu. Bà Tư có vóc dáng nhỏ bé, mảnh mai, nhưng ở người đàn bà ấy toát ra một vẻ kiêu kỳ lạ lùng, thứ kiêu kỳ không đến từ lụa là cung đình như mụ Cả, mà đến từ tư tưởng tự do, phóng khoáng của một vùng đất mới. Mái tóc uốn lọn thời thượng kiểu phòng trà đã hơi rối, đôi mắt sắc sảo mang cái nhìn thẳng thắn, không chút kiêng dè hay giấu giếm. Dù mặc bộ đồ bộ lụa satin sặc sỡ đã lấm lem bùn đất, bà vẫn giữ cái lưng thẳng tắp, phong thái tự chủ của một người đàn bà đã đứng độc lập trong vùng duyên hải đầy sóng gió.

Thấy mụ Nuôi vào, bà Tư khẽ sửa lại tà áo, nhướng đôi mày thanh tú: – Chị Hai… Tôi tưởng chị vô đây để đưa cho tôi một cái luật gia phong nữa chứ?

Mụ Nuôi bình thản đặt bát cháo xuống mặt phản, hương gừng hành bốc lên cay nồng. Bà ngồi xuống chiếc đòn tre đối diện, khẽ vuốt lại nếp áo nâu sồng rách gấu, cất giọng thâm trầm: 

– Cô Tư nờ, thói đời “ớt nào mà ớt chẳng cay, gái nào mà gái chẳng hay ghen tuông”. Nhưng mụ Nuôi ni đi qua hai làn sóng đạn rồi, cái mạng còn suýt mất dưới tay tụi mật vụ, thì ba cái trò ghen tuông ngôi thứ có mài ra mà ăn được mô? Cô ăn hết bát cháo ni cho ấm người, rồi tụi mình nói chuyện sòng phẳng.

Bà Tư khẽ khựng lại trước sự điềm nhiên đến lạnh lùng của mụ Nuôi. Bà bưng bát cháo lên, húp một ngụm, cái vị cay ấm lập tức chạy rần rật trong huyết quản. Bà nhìn mụ Nuôi, ánh mắt bộc lộ sự ngạc nhiên và một chút ngưỡng mộ ngầm: – Chị Hai nờ, nói thiệt lòng, ở trong Nam tôi nghe người ta đồn đàn bà miền Trung phong kiến, cam chịu dữ lắm. Chiều nay thấy mụ Cả khóc lóc, đòi lôi vong linh mệ chồng ra để ăn hiếp tôi, tôi cứ nghĩ chị cũng vậy. Nhưng cái cú dằn khay trà của chị chiều nay… thiệt tình làm tôi tỉnh người. Chị không giống đám đàn bà quanh quẩn xó bếp ở cái phủ này.

Mụ Nuôi bật cười, tiếng cười khan nhưng lạnh lẽo, sắc lẹm: – Cam chịu à? Đàn bà xứ ni nếu cam chịu thì đất cày lên sỏi đá, bão lũ triền miên làm răng mà sống nổi qua mấy đời? Mệ ruột tôi ngày xưa dứt khoát bước thêm bước nữa để tự định đoạt đời mình. Tôi lớn lên dưới bờ vai của cậu Vệ quốc đoàn, lèo lái cả một tiệm cơm lính tráng, thầu cả chuyên cơ chở hàng từ Nam ra Trung. Đời tôi tự cầm lái, chứ không đợi một gã đàn ông nào ban phát.

Nghe đến đó, đôi mắt bà Tư chợt sáng lên, một luồng tư tưởng đồng điệu va đập mạnh vào tâm trí. Người đàn bà Sài Gòn ấy hạ bát cháo xuống, dấn người tới trước, cái vẻ cong cớn đanh đá ban chiều bay biến, chỉ còn lại sự nhạy bén của một thương nhân thạo đời. Bà hạ giọng xuống cực thấp: – Vậy mà ông Liên về đây cứ nghĩ tụi mình chỉ là lũ đàn bà quanh quẩn xó bếp để ông ấy dùng luật gia phong áp đặt. Ở Sài Gòn, tôi mở tiệm buôn, tự tay giao dịch với giới thương hồ phương Tây, từ chối cả mật vụ Mỹ. Tôi yêu ông Liên vì dáng đứng khẳng khái dưới trận mưa đòn ở nhà tù Côn Đảo, và tôi bồng con lặn lội về tận cái làng Sình xơ xác này chịu tiếng "vợ theo", chịu nhục nhã... cũng là vì một mật cơ. Ông Liên... ông ấy là Việt Cộng nằm vùng, chị Hai nờ!

Hai chữ "Việt Cộng" vừa buông ra, mụ Nuôi bàng hoàng đến lặng đi. Bát nước chè xanh trên tay bà khẽ sóng sánh. Cả cuộc đời mụ đã quá chán ghét những danh xưng phe phái mang mùi máu và khói súng tàn nhẫn ấy. Nhưng sự tỉnh táo của người đàn bà thép lập tức kéo bà trở lại thực tại. Mụ Nuôi xoáy sâu ánh mắt vào bà Tư: – Lão Liên giấu tụi mình để làm đại cục, dắt cô về đây với cái cớ gia phong thực chất là một nước cờ ngầm. Cô mang tài chính từ miền Nam ra, lão có đưa cô giữ thứ gì không?

Bà Tư khẽ giật mình, chiếc kiềng vàng trên cổ lay nhẹ: – Ông Liên đưa cho tôi một mật mã tài chính và một danh sách điền địa cổ của dòng họ Phan - Trần, bảo tôi phải tính toán luân chuyển dòng tiền. Ông ấy nói... dưới lòng đất từ đường chi thứ có một thứ mà cả mật vụ lẫn cựu thần triều đình đều đang thèm khát.

– Đúng rứa! Và cái thứ dưới lòng đất đó, mụ Cả này cũng đã biết từ lâu!

Một giọng nói trầm đặc, lạnh lẽo bất ngờ vang lên từ phía bực cửa tối. Mụ Cả bước vào, khuôn mặt không còn vẻ điên loạn ghen tuông của một người đàn bà bị phụ tình, mà là sự sắc sảo, thâm trầm của kẻ đứng đầu chi trưởng. Mụ khẽ khép cánh cửa buồng, nhìn thẳng vào hai người đàn bà kia: – Hai người tưởng tôi chỉ biết có ghen tuông hẹp hòi thôi sao? Ông Liên tưởng ông ấy đi biệt tích thì tôi không biết ông ấy làm gì à? Tôi bám lấy phe triều đình cũ, bắt tay với mật vụ Bình cũng là để tìm cách giữ lại cái mạng cho thằng Sơn, con Thúy trước ván cờ sinh tử của cái dòng họ này. Ông Liên mang người đàn bà phương Nam về đây, dùng cái uy quyền gia phong để che mắt thiên hạ, thực chất là muốn kích hoạt huyết mạch tài chính ngầm trước khi bão táp ập tới.

Không gian gian nhà tả vu bỗng chốc trở nên nghẹt thở. Ba người đàn bà — ba thế lực, ba luồng tư tưởng đại diện cho ba miền và ba thế cuộc khác nhau — giờ đây đang đứng chung một chiến tuyến ngầm. Sự xuất hiện của bà Tư, sự nhẫn nhịn của mụ Nuôi và sự thức tỉnh của mụ Cả đã tạo nên một thế chân kiềng đầy toán tính. Họ nhận ra, ông Liên dẫu có bản lĩnh ngoài chiến khu, nhưng trong ngôi nhà này, ông đã đánh giá thấp những người đàn bà đầu gối tay ấp.

Mụ Nuôi đứng sừng sững, ánh nhìn sắc lẹm lướt qua mụ Cả rồi dừng lại ở bà Tư. Khuôn mặt tạc bằng đá núi của mụ hiện lên một quyết định tối hậu: – Đàn ông lo việc vĩ mô, lo chọn phe chính trị, còn đàn bà mình phải lo giữ lấy cái mạng sống và cốt cách cho con cái mình trước. Lão Liên muốn dùng tụi mình làm quân cờ che mắt thiên hạ, thì tụi mình sẽ tự tay lật ngược thế cờ. Cô Tư có cái đầu tính toán của thương trường, chị Cả có mối quan hệ của chi trưởng, còn tôi có cái mạng lì của đàn bà miền Trung.

Mụ Nuôi hạ giọng, thanh âm đầy uy lực đưa cả ba bước vào một âm mưu kinh hoàng: – Cái mật hộp dưới lòng đất từ đường kia... đêm rằm tới khi con nước sông Hương trở dạ, ba đứa mình phải tự tay đào nó lên trước ông Liên. Danh sách phản gián và long mạch dòng họ, phải do đàn bà chúng ta nắm giữ!

Mụ Cả và bà Tư nhìn nhau, một cái gật đầu ngầm đầy quyết đoán được thiết lập giữa ba người đàn bà thép. Bí mật thực sự về danh tính ông Liên, danh sách phản gián đứng đầu dòng họ và ván cờ lật đổ uy quyền gia phong vẫn còn nằm im lìm trong bóng tối, chờ đợi một đêm trăng máu định mệnh sắp tới...

Phần 1:https://chienphan.blogspot.com/2023/04/gio-ve-mien-trung-nguoi-ba-o-au-song.html

Phần 2: https://chienphan.blogspot.com/2023/04/gio-ve-mien-trung-2-lang-sinh.html

Phần 3: https://chienphan.blogspot.com/2026/05/story-gio-ve-mien-trung-3-tu-uong.html

Phần 4: https://chienphan.blogspot.com/2026/06/story-gio-ve-mien-trung-4-imperial.html

Phần 5: https://chienphan.blogspot.com/2026/06/story-gio-ve-mien-trung-5-ben-thuy.html 

Phần 6: https://chienphan.blogspot.com/2026/06/story-gio-ve-mien-trung-6-song-khua.html

Phần 7: https://chienphan.blogspot.com/2026/06/story-gio-ve-mien-trung-7-au-xao.html

Phần 8: https://chienphan.blogspot.com/2026/06/story-gio-ve-mien-trung-8-phong-thu.html

***



Changing destiny, one grieves over the shifting tides of life, To whom can one confide the matters of mountains and rivers? (Nguyễn Quang Diêu)

In the middle of the courtyard paved with mossy Bát Tràng bricks, Mụ Cả stood arrogantly, narrowing her malicious eyes as she hurled bitter insults at Mụ Nuôi following the latter's failure at the Grand Exhibition the previous year:

"No matter how high you try to climb, you are nothing but mud clinging to the feet of a phoenix."

Mụ Nuôi ignored her completely. She did not cast so much as a single glance at Mụ Cả; her gaunt hands calmly smoothed down the sheets of coarse bamboo paper, neatly stacking the intricate bundles of joss paper and ghost money onto the heavy wooden bed. To her, such narrow-minded jealousy was entirely insignificant compared to the starvation and poverty plaguing the villagers outside after the recent devastating flood.

Suddenly, the heavy wooden doors were pushed open. Ông Liên walked in, leading a sharp-featured woman who carried the distinct scent of the Southern sea breeze.

Mụ Cả stared wide-eyed at the newcomer, her face contorting with humiliation. She shrieked, lunging straight at Bà Tư:

"You Southern Salem whore! How dare you show your face here to steal my husband and defile this clan's traditions? The village is ruined after the flood, the clan line is in dire straits, and yet Ông Liên brings this flamboyant creature back here just to spite me?!"

Bà Tư parried Mụ Cả's scratching hands with one arm, decisively thrusting her away. Standing with her hands on her hips, she retorted with sharp defiance:

"Bring it on, Eldest Wife! You think being the eldest daughter-in-law of the Phan clan makes you special? Your face is as sour as a monkey eating chili, no wonder your husband stays away and never bothers to look at you!"

"You... who the hell do you think you are to talk back like that in this Imperial Capital?!" Mụ Cả shook with absolute rage, preparing to lunge again.

Standing between his two fiery wives, Ông Liên ignored them completely. He made no effort to intervene, nor did he spare a glance at their petty jealousy. His gaze drifted across the flood-mud stains on the ancestral hall walls, before settling on Mụ Nuôi's gaunt silhouette. He slammed his backpack onto the ground, his voice—rattling with a thick, gravelly Central accent—heavy with exhaustion and the burden of the times:

"Quiet down, all of you! Can't you see the villages out there are devastated and the people are starving after that brutal flood? I didn't come back to watch you play the fool with your jealousy. The debts on the farms, the clan taxes, and a mountain of relief work for our relatives are weighing heavily on my shoulders. We need to settle the order of this house quickly so I can attend to greater matters! Anyone who can't stand it can walk right out of those gates!"

His callous, authoritative words made both Mụ Cả and Bà Tư freeze, plunging the courtyard into sudden silence. Ông Liên turned to look at Mụ Nuôi, his sharp gaze softening slightly.

Mụ Nuôi slammed her heavy tea tray onto the stone table in the center of the yard. A sharp, dry “Clack!” echoed through the space. She stood up calmly, looked at Ông Liên, and turned to take control of the situation:

"Sister Cả! Mind your dignity as the eldest daughter-in-law; don't let outsiders look in and laugh at us. As for you, Cô Tư, this Central land is poor and truly ravaged by the flood, but 'starve in clean clothes, stay pure in rags.' Move into the left wing of the side house."

Bà Tư looked at Mụ Nuôi, her previous shrewish demeanor vanishing instantly. Only then did Mụ Nuôi approach Mụ Cả, placing her gaunt hand on the eldest wife's trembling, humiliated shoulder, whispering softly:

"Wipe your tears and go inside to look after Sơn. Our lives are already ruined; we must keep a clear head to care for the children's future. Don't let men treat us like old coats—to be put on or cast off whenever they please!"

Mụ Cả looked up at Mụ Nuôi, choked back a sob, and turned to walk straight into the house, completely abandoning her intention to fight.

Mụ Nuôi turned and hoisted her shoulder poles laden with joss paper, heading back toward the main house. She needed to find food; too many mouths were waiting for her, from her own infants to the impoverished souls out there. Ông Liên's return and his schemes regarding clan hierarchy were none of her concern at this moment.

December

Leaving the clamorous ancestral hall of the Phan clan behind, Mụ Nuôi carried her gánh poles straight toward the far edge of Sình Village, where a mud-and-thatch house stood thick with the scent of ink, nacreous pigments, and persimmon wood. This was the home of Ôn Biện—the old woodblock artisan, the rare genius behind the very prints she had taken to the Grand Exhibition. Ôn Biện, gaunt as an old bamboo stalk, his hands scarred and blackened by wood resin, was quietly and meticulously carving a block of persimmon wood.

Seeing Mụ Nuôi enter with the poles of ghost money on her shoulders, the old man did not look up, only chuckling dryly in his gravelly, ancient Huế accent:

"So you're back, Nuôi? The storm of that Exhibition on the streets swept everything clean, eh? Now you're back to carrying a gánh of paper money to sell for the year-end, I reckon?"

Ôn Biện set his chisel down, his rheumy but piercingly sharp eyes fixing upon her. He took a sip of ginger tea and asked, his voice full of curiosity:

"Tell me honestly, in that cauldron of an Exhibition, where people were tearing each other apart just to pick a side to lean on, why did you wave them all away? A golden opportunity to change your life was right in front of you. The old imperial court faction wanted to rebuild a golden kingdom—the very side Mụ Cả is risking her life for. Then the Republic offered their arguments of enlightenment through Western civilization and science—the path that doctors like Young Master Địch and Madame Thục Đoan faithfully chose. Even the idealistic struggle from the North, calling for liberation through the leaflets of those young girls under the Reverend Matron... Why didn't any of those voices or stances sway you even a little?"

Mụ Nuôi faintly brushed back a strand of her silver-streaked hair, calmly folding the sheets of bamboo paper. The corner of her lips curved into a thâm trầm smile:

"Ôn nờ, as the proverb goes, 'when buffaloes fight, it's the flies that die.' Whichever side wins, they just use us women and farmers as mere pawns. Let them squabble over hierarchy and political sides. As for me... I'm too busy worrying about whether I can keep my own life."

She gently pulled aside her brown rustic tunic, exposing a dark red scar just healing into fresh skin on her shoulder. This was the terrifying secret of the botched assassination attempt on the night of the Exhibition—a secret she hid completely, even from her husband, Ông Liên. The sniper bullet from agent Bình would have claimed her life had it not been for the intervention from the shadows by her old acquaintance. That night, it was Young Master Địch who had quietly, by his own hand, sterilized and treated her wound inside the secret chamber, keeping it absolutely hidden from the clan.

Mụ Nuôi sighed, her voice flat:

"Only after crossing the boundary of life and death do you realize that the titles of primary or secondary wife, or one's rank in the ancient house of Phan, are nothing but a puppet show. When they can orchestrate an attempt to snatch my very life, why should the arrival of Bà Tư Vũng Tàu or Ông Liên's grand clan authority bother me? Why waste my breath on jealousy? I still have too many mouths to feed; my children are starving after the flood. Just hand over the finest paper-money molds that were once used for imperial tributes. It's the end of the year; the living need rice, and the dead need faith. Let us focus on making money to keep our people alive first, alright, Ôn?"

Hearing this, Ôn Biện fell silent for a long time before letting out a heavy sigh, his gaze drilling into the unhealed wound on her shoulder. His voice dropped with deep empathy:

"Now I understand a bit better... My choice will aid you once more with this pile of paper, then. If we cannot prevail with the living, then perhaps we can with the dead. Though in these times, there is little difference between the living and the dead; too many are walking around alive when their minds and souls have long been dead."

Mụ Nuôi poured a bowl of green tea with her own hands and set it beside the old man:

"You knew the outcome beforehand, Ôn. So why did you still toil through the nights to carve those blocks and hand over all your ancestral woodblocks for me to take away?"

Only then did Ôn Biện lower his chisel and look up at her. Stroking his silver beard, he sighed deeply:

"Since when has there ever been justice for the fruits of a farmer's labor, my dear? That Exhibition committee was, from the very start, nothing but a political stage for Republican officials and the old court aristocracy. They used US dollars and foul plots to bury your Sình Village prints; I foresaw it before you even stepped onto the bus. I didn't help you for some hollow prize. I helped you because I wanted you to see the true face of the world. Losing a fair game to a scoundrel clears your head, showing you how to embark on a greater path. That was my true goal."

Mụ Nuôi nodded slightly, her heart suddenly feeling light. That orchestrated failure had turned out to be a priceless lesson in life. Ôn Biện pointed at the pile of freshly carved wooden molds, lowering his voice:

"On the streets, they crave gold and splendor, but down here in the village after the flood, the living need food, and the dead need to be warmed by faith. It is the end of the year; perhaps this trade of making joss paper will save your family and the widows of Sình Village. I have prepared the molds for the gold-leaf paper; take them home and work. Let the men worry about guns and ammunition; we women will worry about keeping our lives and our craft."

Before Mụ Nuôi hoisted her gánh poles to leave, Ôn Biện led her into the dark inner room, handing her a stack of bamboo paper wrapped with absolute care in a piece of coarse cloth:

"You have your ways and connections on the streets of the Imperial Capital. Take this to the café by the Hương River and find my acquaintances. Tell them: 'The ink of Sình Village does not fade under floodwaters, and the character of the Central people does not kneel before the barrel of a gun.' To save people, we must take the winding path, and only your cold head can manage such a task."

Mụ Nuôi pressed the paper bundle tightly against her chest, her steps resolute as she trod upon the fresh mud left by the flood. A new chapter in her life as a liaison and provider officially opened amidst the year-end days grayed by the scent of gunpowder. The trade of making joss paper. Few knew that she had inherited the secret techniques of crafting palace-grade paper offerings, once meticulously created to be presented to the Nguyen Dynasty court.

The Escape

The clan's storm temporarily subsided, leaving the side house with a still, heavy atmosphere thick with the damp scent of Central Vietnamese gravel after the flood. The Coleman lamp was turned down to its lowest setting, casting flickering shadows against the dirt walls.

Mụ Nuôi walked in, carrying a hot bowl of scallion rice porridge and a plate of sliced grilled ginger—the most rustic yet potent remedy of this region against the toxic cold following a storm. She stopped at the threshold, silently observing the Southern woman sitting on the wooden platform.

Far from the fierce, shrewish creature who had brandished her child to challenge Mụ Cả earlier that afternoon, Bà Tư now revealed the true character of a daughter of the Saigon-Vũng Tàu region. She was small and slender, yet she exuded a strange, haughty elegance—an elegance that did not stem from imperial silks like Mụ Cả’s, but from the free, liberated ideals of a new land. Her fashionable, parlor-style curled hair was slightly tousled, and her sharp eyes held a direct, unblinking gaze that hid nothing. Even though she wore a colorful satin pajama set now stained with mud, her back remained perfectly straight, bearing the self-assured poise of a woman who had stood independent in the stormy coastal regions.

Seeing Mụ Nuôi enter, Bà Tư slightly adjusted her collar and raised her elegant eyebrows:

"Eldest Sister... I thought you came in here to enforce another clan rule upon me?"

Mụ Nuôi calmly set the porridge bowl onto the wooden platform, the pungent aroma of ginger and scallions rising warmly. She sat opposite her on a bamboo stool, gently smoothing the frayed hem of her brown tunic, and spoke in a deep, grounded voice:

"Cô Tư, as the saying goes, 'no chili lacks heat, no woman lacks jealousy.' But this Mụ Nuôi has walked through two crossfires and nearly lost her life to the secret police; what use do I have for petty games of household rank? Eat up this porridge to warm your body, and then we will talk straight."

Bà Tư paused, caught off guard by Mụ Nuôi's chilling composure. She lifted the bowl and took a sip, the warm spice immediately rushing through her veins. She looked at Mụ Nuôi, her eyes betraying surprise and a hint of quiet admiration:

"Eldest Sister, to be honest, down South I heard people say Central women are feudal and submissive. This afternoon, when Mụ Cả was crying and invoking the spirit of the mother-in-law to bully me, I thought you would be the same. But the way you slammed that tea tray... it truly woke me up. You are nothing like the women who tether themselves to the kitchen corners of this estate."

Mụ Nuôi let out a dry, witty chuckle:

"Submissive? If the women of this land were submissive, how could we have survived for generations when the soil turns to stone and the floods are relentless? When my own mother was abandoned by my father for a new wife, she decisively remarried to claim her own happiness; she believed if men could do it, why couldn't women? I grew up under the broad shoulders of a National Guard uncle, ran an eatery swarming with soldiers, and thầu-ed an entire cargo charter from the South to the Central region. I captain my own life; I do not wait for a man’s charity."

Hearing the mention of running a "cargo charter," Bà Tư's eyes flashed as a powerful wave of shared perspective struck her mind. The Saigon woman set her bowl down and leaned forward, her voice vibrant with the spirit of liberation yet tempered with gravity:

"Yet Ông Liên comes back here acting as though we are just a bunch of kitchen-bound hens he can suppress with clan rules. In Saigon, I run my own trading business, sign my own checks, and deal directly with Western merchants, turning away even the American secret service. We women have hands and minds; we are not old coats to be put on or cast off at a man's whim!

Bà Tư paused, her gaze drifting toward the darkened courtyard where Ông Liên’s silhouette had just vanished into the secret chamber. Her voice dropped, carrying a fierce, nostalgic pride:

"I don't love Ông Liên because he is rich or powerful. Lord knows Saigon is full of men begging to look after me. I love him because of the unyielding way he stood beneath the rain of blows at Côn Đảo prison. When I used my money and business connections to smuggle supplies to him, I saw a man who would rather break than bend. It was that fiery ideal that seduced a girl who previously cared for nothing but money and independence. Even my choice to leave the glitz of the city, carry my infant child, and travel all the way to this desolate, flood-ravaged Sình Village—enduring the humiliation of being labeled a 'tag-along wife' and slandered by Mụ Cả... it was all because he entrusted me with a mission. He said this village is holding the lifeblood of a grand game. Eldest Sister, do you know the true ideal that made him endure the chains of Côn Đảo rather than bow to the American-Ngụy regime? Ông Liên... he is a deep-cover Việt Cộng!"

The words "Việt Cộng," slipping from Bà Tư’s elegant lips, struck Mụ Nuôi like a bolt of lightning, leaving the iron woman completely stunned. The bowl of green tea in her hand trembled, nearly spilling over.

Mụ Nuôi's chest heaved as a bitter, terrifying wave from the past surged back. Her entire life, she had detested those grand political factions. To a woman who had lost everything—her eatery, her livelihood shattered by bombs, and nearly her firstborn son—labels like "Việt Cộng" or "Republic" carried nothing but the stench of blood and tany tành warfare. She had only wanted to make joss paper in peace to save the villagers. Yet, by a cruel twist of fate, the husband sharing her pillow, the man who had brought Bà Tư back to dictate clan order, was a central gear in the very machinery of conflict she had spent her life fleeing.

Suppressing her shock, Mụ Nuôi locked her sharp gaze onto Bà Tư, her voice hardening:

"Cô Tư, if Ông Liên were merely an underground operative, he wouldn't need to bring you back here to enforce clan order so ruthlessly upon Mụ Cả and me. He is hiding something else from us."

Bà Tư startled slightly, the golden collar around her neck shifting with her quickened breath:

"What do you mean by that? In Vũng Tàu, when he was preparing me to head Central, he gave me a financial cipher and a list of ancient land deeds belonging to the Phan and Trần clans, telling me to calculate the circulation of funds through the trading houses in Saigon. He said... the soil of this Sình Village is not just farmland after a flood. Beneath the ground of the secondary branch's ancestral hall lies something that both secret agents and the old court officials are desperate to possess."

"Exactly! And that very thing beneath the ground, this Mụ Cả has known about for a long time!"

A deep, chilling voice suddenly cut through the darkness from the threshold. Mụ Cả stepped inside, her face stripped of the hysterical jealousy from earlier, replaced by the sharp, calculating coldness of the head of the primary branch. She quietly closed the chamber door and looked directly at the two women:

"Did the two of you think I am only capable of narrow-minded jealousy? Did Ông Liên think that because he vanished into the war zones, I remained oblivious to what he was doing? I aligned myself with the old court faction and shook hands with agent Bình precisely to find a way to keep Sơn and Thúy alive before this clan's game of life and death plays out. Ông Liên brought a Southern woman here and used clan authority to blind the world, but in truth, he wants to activate that underground financial vein before the storm hits."

The air inside the side house grew agonizingly thin. Three women—three distinct forces and schools of thought representing three regions and three separate fates—now stood on a single, covert battle line. The arrival of Bà Tư, the endurance of Mụ Nuôi, and the awakening of Mụ Cả had formed an iron tripod of calculated strategy. They realized that however brilliant Ông Liên might be out in the war zones, within this house, he had severely underestimated the women sharing his life.

Mụ Nuôi stood towering, her piercing gaze sweeping across Mụ Cả before resting on Bà Tư. Her face, carved like mountain stone, hardened with a final, unyielding decision:

"Let the men worry about their macro-politics and choosing sides. We women must focus on safeguarding the lives and character of our children first. If Ông Liên wants to use us as pawns to deceive the world, then we will use our own hands to overturn the chessboard. Cô Tư has the calculating mind of the Southern markets, Sister Cả has the connections of the primary branch, and I have the stubborn grit of a Central woman."

Mụ Nuôi lowered her voice, her tone vibrating with an authority that drew all three into a terrifying plot:

"That cryptic box beneath the ground of the ancestral hall... on the upcoming full moon night when the waters of the Hương River go into labor, the three of us must dig it up with our own hands before Ông Liên can touch it. The counter-espionage list and the clan’s dragon vein must be held by our hands!"

Mụ Cả and Bà Tư exchanged a look, a silent nod of absolute resolve locking between the three iron women. The true secret of Ông Liên's identity, the counter-espionage list sitting at the top of the clan, and the grand strategy to dismantle his patriarchal authority remained buried in the dark, awaiting the fateful blood moon night...

[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...