Chiến Phan

Hiển thị các bài đăng có nhãn triết học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn triết học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2026

[Sách] Lịch sử liệu có dạy ta điều gì - Edgar Morin

"Lịch sử không phải là một con đường thẳng tắp dẫn đến tiến bộ. Lịch sử là một đại dương đầy những bất ngờ, những khúc quanh và những điều không thể dự đoán."

Nằm trong những đợt sách em gửi, có tác phẩm của Edgar Morin—một trong những triết gia đương đại vĩ đại nhất của nhân loại. Ông viết cuốn sách này khi bản thân đã tự mình đi xuyên qua một thế kỷ đầy biến động bão táp (ông sinh năm 1921). Morin dắt lối người đọc bằng một thứ văn phong từ tốn, tối giản nhưng chứa đựng một sức nặng thâm sâu, như thể muốn hiển ngôn rằng đối với triết học chân chính thì ngàn năm dường như chẳng hề dời đổi. Giữa cái guồng quay vô thường của thời đại, những dòng chữ của ông giống như một khoảng trắng thẩm mỹ tĩnh lặng, gột rửa đi những xô bồ, ngạo ngược ngoài kia.

Morin chứng minh một cách đanh thép rằng, bài học lớn nhất mà lịch sử dạy cho chúng ta chính là sự bất định (Incertitude). Những sự kiện mang tính bước ngoặt, những cú bẻ lái tàn nhẫn của số phận—như sự sụp đổ của các đế chế vĩ cuồng, những cuộc đại dịch hủy diệt, hay chính là cuộc khủng hoảng Covid mà cho đến tận hôm nay, năm 2026, thực tại vẫn mang một vết thương hoắm chưa thể phục hồi—tất cả đều nằm ngoài mọi biểu đồ tài chính nhảy múa, ngoài mọi thuật toán dự đoán của các bậc trí giả tạo chốn tháp ngà.

"Bài học duy nhất của lịch sử là chúng ta thường xuyên bị bất ngờ bởi những điều chưa từng có tiền lệ. Vì vậy, vũ khí duy nhất của con người là một tư duy mở và một tinh thần sẵn sàng đối diện với cái không biết."

Lần tìm về quá khứ dẫu biết chẳng thể đổi thay được những gì đã mất, nhưng may thay, cái đích của sự học lại là để thay đổi một hiện tại và kiến tạo một tương lai. Morin như trải bày chất thanh lich người Pháp, không khuyên chúng ta nhìn lại lịch sử bằng một thứ hoài niệm bi lụy, để mặc cho ký ức bị phủ kín bởi nhiều tầng lớp rêu phong hệt như đống dữ liệu thô vô hồn đang chờ đợi một sự quên đi có chủ đích. Ông muốn ta phải như Berinato, biết bóc tách dữ liệu lịch sử để tìm ra bản chất trinh nguyên của nhân tính. Phân tích lịch sử, suy cho cùng, là một hành vi thấu hiểu sâu sắc, từ đó gieo mầm cho một hệ sinh thái phức tạp cần được nuôi dưỡng, chứ không phải coi tổ chức hay xã hội như một cỗ máy khô khốc cần sửa chữa bằng những mệnh lệnh hành chính khô khốc.

Đọc "Lịch sử liệu có dạy ta điều gì" không khiến nó trở nên hoài nghi tiêu cực trước những tin đồn chằng chịt ngoài kia, mà ngược lại, làm lòng nó phẳng lại, điềm tĩnh và yên lòng đến lạ kỳ. Ngẫm. Nó thoáng ngồi lặng yên nơi góc văn phòng, đứng thẳng bên chiếc bàn cao của sự chính trực như để ngắm lại chính mình… của ngày hôm qua. Lịch sử có thể không dạy chúng ta cách làm giàu nhanh chóng, không chỉ cách luồn lách để xây dựng nên những căn biệt thự lộng lẫy triệu đô, nhưng nó dạy chúng ta cách làm người—cách giữ lại vẹn nguyên hơi ấm của sự tử tế và tình yêu thương giữa một thời đại hỗn mang.

***


History is not a straight path leading to progress. History is an ocean full of surprises, twists, and unpredictable events."

Nestled within the batches of books you sent was the work of Edgar Morin—one of the greatest contemporary philosophers of humanity. He penned this volume having personally journeyed through a century of tempestuous turbulence (born in 1921). Morin guides the reader with a deliberate, minimalist prose that nevertheless carries a profound gravity, as if to overtly declare that for true philosophy, a thousand years change absolutely nothing. Amidst the vô thường (impermanent) whirlpool of the era, his sentences behave like a tranquil aesthetic white space, cleansing the external vanity and arrogance of the world.

Morin demonstrates with unyielding strength that the greatest lesson history bestows upon us is uncertainty (Incertitude). Turning points, the ruthless bẻ lái (sharp turns) of destiny—such as the collapse of vĩ cuồng (grandiose) empires, devastating pandemics, or the precise crisis of Covid from which reality, even here in 2026, still bears a deep, unhealed wound—all dictate themselves entirely outside of dancing financial charts or the predictive algorithms of artificial intellectuals perched in their ivory towers.

"The only lesson of history is that we are constantly surprised by unprecedented events. Therefore, man’s only weapon is an open mind and a spirit ready to confront the unknown."

Tracing back into the past, though knowing it cannot alter what has already been lost, fortunately reveals that the true destination of learning is to transform the present and hand-draft a future of autonomy (Autonomy). Unfolding with a signature French elegance, Morin does not urge us to gaze back at history through a pathetic, melancholic nostalgia, leaving memory to be blanketed under multiple layers of moss like a mountain of soulless raw data waiting for a deliberate oblivion. He demands that we operate like Berinato, knowing how to dissect historical data to excavate the pristine essence of humanity. Analyzing history, after all, is an act of deep empathy, sowing the seeds for a complex ecosystem that must be nurtured, rather than treating an organization or a society like a dry, sterile machine to be fixed by mechanical administrative commands.

Reading “De quoi l'histoire nous instruit-elle?” does not reduce nó to a negative cynic amidst the chằng chịt (densely tangled) rumors out there; on the contrary, it flattens the turbulence within its chest, rendering it strangely composed and at peace. Contemplating. Nó momentarily sits in absolute stillness in the corner of the office, standing upright beside the high table of integrity as if to gaze back at itself… of yesterday. History may not instruct us on how to amass rapid wealth, nor does it maneuver the shortcuts to construct splendid, million-dollar villas, but it teaches us how to be human—how to preserve the unadulterated warmth of kindness and yêu thương (love) in the middle of a chaotic era.

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

[Sách] Quấy rối tinh thần - Marie France Hirigoyen


Sớm trời, lướt tin, chị chia sẻ một dòng tâm trạng về việc bắt nạt chốn văn phòng. Nó đọc, rồi ngẫm. Đời công bộc trôi qua, chẳng lẽ việc nhận ra sự tàn bạo lại khó đến thế sao? Hay con người ta vốn dĩ quá ngây thơ?

Nhớ. Ta bước ra từ học đường, được dạy rằng mình là những trang giấy trắng cần được viết thêm. Nhưng trang giấy ấy cứ bị viết rồi xóa miết, cho đến khi nhàu nát và lấm lem. Ẩn dưới những thớ giấy ấy là những vết chằng chịt, tì vết của những lần bị chà đạp tinh thần mà đôi khi chính ta cũng không gọi tên được.

Sự Im Lặng Của Những Kẻ "Tử Tế" Giả Tạo

Chuyện ở nhà hàng Liên Xô, khi chị đưa ra quan điểm, nó chỉ biết cười – một nụ cười chua chát, pha chút tự trách: "Thật ra bản thân cũng chẳng tốt hơn là bao?".

Nó cay đắng nhận ra rằng, trong môi trường làm việc, ta thường huyễn hoặc mình dưới những danh xưng "chức sắc huyện làng". Ta mặc định mọi điều của bậc "trưởng thượng" đều là đúng, là hợp tình. Ta tự biện minh cho những điều sai trái, miễn là nó không chạm đến lợi ích của mình. Im lặng dù biết rằng chẳng vô can, vẫn cứ lặng im, rồi tự huyễn hoặc rằng đó là điều tử tế nhất bản thân có thể làm.

Marie-France Hirigoyen đã bóc trần sự im lặng đó trong cuốn sách:

"Quấy rối tinh thần không phải là một sự bùng nổ bạo lực nhất thời, mà là một quá trình hủy diệt âm thầm, bền bỉ, nhắm vào tâm hồn nạn nhân cho đến khi họ không còn là chính mình."

Trong cái bầy người nơi văn phòng ấy, khi tranh chấp xảy ra, người ta nhìn nhau như những con thú hung hăng đang vồ vập lấy con mồi. Chúng đánh hơi thấy trong bầy con nào đang yếu nhất, rồi tập trung xâu xé để khẳng định vị thế "mạnh" của mình. Có con công khai, có con ẩn mình chờ ăn xác thối.

Tiêu trừ nhân tính. Ở một chiều ngược lại, dường như ta không chỉ bị nạp mình, mà đôi khi ta tình nguyện để điều đó xảy ra, cứ nghĩ đơn giản: "Kệ đi, miễn chẳng phải mình là được" hoặc giản đơn "đó là việc của quản lý hoặc cấp trên".

Nhớ. Viết lại một góc nhìn người Việt, rút tỉa từ trong ánh mắt cười nhếch mép của người ngoài: Tính cá nhân cao, thích làm chuyện lớn lao, ngặt nổi lại luôn đặt câu hỏi tại sao lại chỉ có bản thân mình?

Ta vất vưởng chờ đợi, lấy thời gian làm thước đo huyễn hoặc, gom góp hết thảy để bắt chẹt những người tử tế. Hỏi anh, anh đáp: "Thế giới đó chẳng dành cho tình yêu thương". Lặng im.

Tu tiên. Chị cười nói về nó và nha: "Một gã nửa chân bước trên con đường ấy, một ông thì bước trọn vẹn hai chân, giờ cứ hỏi nhau" 

Đó là lúc nó kể về những cảnh tượng mình thấy được, đặc biệt là trong hôn nhân. Tự huyễn. Con người ta cứ thích đóng vai nạn nhân, một cách vô tình, cho phép những bậc "trưởng thượng" hay "chức sắc huyện làng" được quyền ném mình đi, giày xéo mình như một món đồ chơi cũ, chẳng khác gì đám trẻ con chưa biết tự vệ. Hỏi anh, anh đáp: "Chân thật". Lặng im.

Cuốn sách của Hirigoyen soi tỏ một loại tội ác không để lại vết sẹo trên da thịt, nhưng lại làm mục rỗng linh hồn. Những kẻ quấy rối tinh thần thường dùng sự mập mờ, những lời bóng gió và sự cô lập để tước đoạt "oxy" của nạn nhân.

"Kẻ quấy rối cần phải hạ thấp người khác để tự nâng cao bản thân mình. Họ sống bằng sức sống của nạn nhân, giống như một loài ký sinh tâm hồn."

Kết nối với triết lý của Liz Wiseman, đây chính là cấp độ cực đoan nhất của Nhà quản lý Tiêu trừ (Diminisher). Họ không chỉ bóp nghẹt trí thông minh, họ còn bóp nghẹt cả quyền được tồn tại của nhân viên. Họ nhân danh sự "nghiêm khắc" hay "truyền thống" để nhốt cấp dưới vào một chiếc lồng sắt của sự sợ hãi.

Nó nhìn lại những trang giấy đời mình. Những vết mực lấm lem ấy không chỉ đến từ kẻ ác, mà còn đến từ sự ngông nghênh của chính mình. Khi đứng ngoài cuộc nhìn một đồng nghiệp bị "xâu xé", nó đã vô tình trở thành một mắt xích trong chuỗi quấy rối đó. Chẳng tốt lành gì. 

Trang giấy trắng của một đứa trẻ sau bao năm làm công bộc đã không còn sạch sẽ. Mực đã lấm lem, thớ giấy đã rách. Sự "ngây thơ" thuở mới vào đời giờ đây đã bị thay thế bằng sự tỉnh thức đau đớn. Chẳng tốt lành chi.

"Nạn nhân của quấy rối tinh thần thường cảm thấy tội lỗi. Họ tự hỏi mình đã làm gì sai, trong khi kẻ quấy rối lại luôn cảm thấy mình là người công chính."

Hirigoyen nhắc nhở rằng, bước đầu tiên để giải thoát là phải gọi tên được sự tàn bạo đó. Đừng để những danh xưng "trưởng thượng" che mắt. Đừng để sự im lặng biến ta thành đồng phạm.

Đọc "Quấy rối tinh thần" không phải để uất ức, mà để nhìn thấu cái bản chất "mạnh – yếu" đầy giả tạo của xã hội loài người, từ một mái ấm nhỏ, cho đến một công sở rồi một cộng đồng. Nỗi buồn khi nhận ra mình từng "hùa vào" những điều không lành mạnh chính là một nỗi buồn có ích

Mọi tình yêu, và cả sự tự trọng, đều được chạm khắc từ những mất mát và va đập. 

***

MORAL HARASSMENT: CRUMPLED PAGES AND THE ILLUSION OF THE KIND

Early morning, scrolling through the news, she shared a status about workplace bullying. It (the character) read, then pondered. A lifetime of public service has passed; is it truly that difficult to recognize brutality? Or are people inherently too naive?

Remember. We emerge from school, taught that we are blank pages waiting to be written upon. But that page is written on and erased repeatedly until it is crumpled and stained. Beneath those fibers lie tangled scars—the marks of mental trampling that we sometimes cannot even name.

The Silence of the "Pseudo-Kind"

A story at a Soviet restaurant: when she offered her perspective, it could only laugh—a bitter laugh, tinged with self-reproach: "Truth be told, am I any better?"

It bitterly realized that in a work environment, we often delude ourselves with titles like "village dignitaries." We assume everything from the "elders" is correct and justifiable. We rationalize wrongdoings as long as they don't touch our interests. Silent despite knowing we are not innocent, we remain silent, deluding ourselves that it is the kindest thing we can do.

Marie-France Hirigoyen exposed this silence in her book:

"Moral harassment is not a sudden explosion of violence, but a process of silent, persistent destruction, targeting the victim's soul until they are no longer themselves."

In that human pack at the office, when conflict arises, people look at each other like aggressive beasts lunging for prey. They sniff out the weakest cub in the litter, then congregate to tear it apart to assert their "strong" status. Some do it openly; others hide, waiting to scavenge the remains.

The diminishment of humanity. On the flip side, it seems we don't just find ourselves caught in it; sometimes we volunteer for it. We think simply: "Forget it, as long as it's not me," or "That's the business of management or superiors."

Remember. Rewriting a Vietnamese perspective, distilled from the smirking gaze of an outsider: High individualism, a penchant for grand things, yet always plagued by the question: "Why am I all alone?"

We drift and wait, using time as a delusional yardstick, gathering everything just to entrap the truly kind. When asked, he replied: "That world is not meant for love." Silence.

Cultivating the Way (Tu tiên)

She laughed about it and him: "One guy has half a foot on that path, the other has both feet in; now they keep questioning each other."

That was when it spoke of the scenes it had witnessed, especially within marriage. Self-delusion. People love to play the victim, inadvertently allowing "elders" or "village dignitaries" the right to throw them away, to trample them like an old toy, no different from defenseless children. When asked, he replied: "Truthfulness." Silence.

Hirigoyen’s book illuminates a type of crime that leaves no physical scars but hollows out the soul. Moral harassers often use ambiguity, innuendo, and isolation to strip the victim of "oxygen."

"The harasser needs to belittle others to elevate themselves. They live off the victim's vitality, like a spiritual parasite."

Connecting this to Liz Wiseman’s philosophy, this is the most extreme level of the Diminisher. They don't just stifle intelligence; they stifle an employee's very right to exist. They invoke "strictness" or "tradition" to imprison subordinates in an iron cage of fear.

It looks back at the pages of its own life. Those ink stains came not only from the wicked but from its own arrogance. By standing on the sidelines watching a colleague be "torn apart," it inadvertently became a link in that chain of harassment. No good at all.

The blank page of a child after years of being a public servant is no longer clean. The ink is smudged; the paper is torn. The "naivety" of entering the world has been replaced by a painful awakening. Nothing good about it.

"Victims of moral harassment often feel guilty. They wonder what they did wrong, while the harasser always feels righteous."

Hirigoyen reminds us that the first step toward liberation is to name that brutality. Do not let titles like "elders" blind you. Do not let silence turn you into an accomplice.

Reading "Moral Harassment" is not for the sake of resentment, but to see through the hollow "strong-weak" nature of human society—from a small home to an office, then to a community. The sadness of realizing one once "joined in" on unhealthy things is a useful sadness.

Every love, and every ounce of self-respect, is carved from loss and collision.

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2026

[Sách] Triết học có thể làm gì - What Philosophy Can Do - Gary Cutting


  • “Khoa học có thể cho chúng ta biết vũ trụ vận hành như thế nào, nhưng chỉ có triết học mới có thể giúp chúng ta quyết định xem cuộc đời mình nên vận hành như thế nào trong vũ trụ đó.”

Ở một trời cuối năm tại Saigon Center, nó từng ngồi với anh để cùng nhau nói về một chủ đề tưởng cũ mà chưa bao giờ xong: "Chúng ta là ai? Chúng ta từ đâu đến?". Khi những vui buồn của cuộc sống được giải bày qua lăng kính triết học, mọi thứ dần rạng rỡ hơn. Một trong những chủ đề đó là yêu thương và hạnh phúc.

Anh bảo: "Hạnh phúc nói chung khá phức tạp em ạ. Một cách phổ quát, hạnh phúc là trạng thái khỏe mạnh về thể chất và tinh thần một cách chủ quan". Nó nhận ra hạnh phúc chịu tác động tương đối bởi điều kiện bên ngoài như tiền bạc, sức khỏe, gia đình; nhưng đồng thời cũng bị chi phối trực tiếp bởi các yếu tố sinh hóa bên trong như Serotonin, Oxytocin hay Dopamine. 

"Triết học có thể làm gì" không phải là một cuốn giáo trình lịch sử triết học khô khan. Gary Gutting, một giáo sư triết học tại Notre Dame, đã viết cuốn sách này như một "bộ dụng cụ tư duy" để giúp chúng ta giải quyết những vấn đề nhức nhối nhất của thế giới hiện đại: từ tôn giáo, khoa học cho đến chính trị và nghệ thuật. Cuốn sách khẳng định một chân lý: Triết học không mang lại những câu trả lời cuối cùng, nhưng nó mang lại sự tỉnh táo và sáng rõ.

Gary Gutting lập luận rằng giá trị lớn nhất của triết học nằm ở khả năng làm sáng tỏ các khái niệm. Trong thế giới của "hậu sự thật", nơi cảm xúc lấn át lý trí, triết học giúp ta nhận diện đâu là ngụy biện, đâu là logic.

  • “Triết học không phải là một tập hợp các câu trả lời sẵn có; nó là một phương thức để làm sáng rõ những câu hỏi. Mục đích của nó không phải là kết thúc cuộc tranh luận, mà là nâng cao trình độ của cuộc tranh luận đó.”

Cuốn sách mổ xẻ mối quan hệ giữa triết học và khoa học. Giống như cách Ray Kurzweil dự đoán về "Điểm kỳ dị", Gutting nhắc nhở rằng dù khoa học có thể giải thích "thế nào", thì triết học vẫn cần thiết để trả lời câu hỏi "tại sao". Khoa học cung cấp dữ liệu, nhưng triết học cung cấp ý nghĩa.

Kết nối với triết học của Jung về Thăm dò tiềm thức, Gutting khuyến khích độc giả hãy nghi ngờ những "nguyên mẫu" và những định kiến mà chúng ta coi là hiển nhiên. Cho dù đó là tôn giáo hay những hệ tư tưởng chính trị, triết học giúp chúng ta tìm thấy một "vùng đệm" của sự hoài nghi lành mạnh để không trở nên cuồng tín.

Đến đây, triết học của Gutting lại lên tiếng. Nếu hạnh phúc chỉ là các phản ứng sinh hóa, thì ý nghĩa cuộc sống nằm ở đâu? Anh nhắc đến quan điểm Phật giáo: hạnh phúc có nguồn cơn từ bên trong, nhưng kết quả mang lại là một sự giải phóng hoàn toàn khỏi những lệ thuộc. Hạnh phúc không chỉ là một cảm xúc dễ chịu chủ quan, mà là sự thấu thị về bản ngã. Đây là một tầng nấc tư duy mà nếu không có triết học làm "chiếc la bàn", chúng ta sẽ mãi lạc lối giữa những định nghĩa hời hợt.

  • “Tranh luận không phải là để chiến thắng đối phương, mà là để hiểu thấu đáo hơn những gì chính mình và đối phương đang thực sự tin tưởng.”

"Triết học có thể làm gì" là một cuốn sách thanh tẩy và đầy bản lĩnh. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, dù công nghệ AI hay các thuật toán có phát triển đến đâu, thì khả năng suy tư phản biện vẫn là đặc quyền và là trách nhiệm lớn nhất của con người.

***


Science can tell us how the universe works, but only philosophy can help us decide how our lives should work within that universe."

On a year-end day at Saigon Center, it (the character) once sat with a mentor to speak of a topic that feels old yet is never quite finished: "Who are we? Where do we come from?". When the joys and sorrows of life are laid bare through the lens of philosophy, everything gradually becomes more radiant. One of those topics was love and happiness.

The mentor said: "Happiness is generally quite complex. Universally speaking, happiness is a subjective state of physical and mental well-being." It realized that happiness is relatively influenced by external conditions like money, health, and family; but simultaneously, it is directly governed by internal biochemical factors such as Serotonin, Oxytocin, or Dopamine.

"What Philosophy Can Do" is not a parched textbook on the history of philosophy. Gary Gutting, a professor of philosophy at Notre Dame, wrote this book as a "thinking toolkit" to help us navigate the most aching issues of the modern world: from religion and science to politics and art. The book affirms a truth: Philosophy does not provide final answers, but it brings sobriety and clarity.

Gary Gutting argues that the greatest value of philosophy lies in its ability to clarify concepts. In a "post-truth" world, where emotion overwhelms reason, philosophy helps us identify fallacies and recognize logic.

"Philosophy is not a set of ready-made answers; it is a method for clarifying questions. Its goal is not to end the debate, but to elevate the level of that debate."

The book dissects the relationship between philosophy and science. Much like how Ray Kurzweil predicts the "Singularity," Gutting reminds us that while science can explain the "how," philosophy remains essential to answer the "why." Science provides the data, but philosophy provides the meaning.

Connecting with Jung’s philosophy in "Man and His Symbols," Gutting encourages readers to doubt the "archetypes" and prejudices we take for granted. Whether it be religion or political ideologies, philosophy helps us find a "buffer zone" of healthy skepticism to prevent fanaticism.

Here, Gutting’s philosophy speaks up again. If happiness were merely biochemical reactions, then where does the meaning of life reside? The mentor mentioned the Buddhist perspective: happiness originates from within, but its result is a total liberation from dependencies. Happiness is not just a pleasant subjective emotion, but an insight into the Self. This is a level of thinking where, without philosophy as a "compass," we would forever remain lost amidst superficial definitions.

"Debate is not about defeating the opponent, but about thoroughly understanding what both you and the opponent truly believe."

"What Philosophy Can Do" is a purifying and courageous book. It reminds us that no matter how far AI technology or algorithms develop, the capacity for critical reflection remains both the greatest privilege and the greatest responsibility of a human being.


Thứ Tư, 7 tháng 1, 2026

[Book] Thăm dò tiềm thức - Carl Gustav Jung


  • “Mọi nỗ lực tìm kiếm ở bên ngoài chỉ là sự bù đắp cho sự nghèo nàn bên trong. Hãy quay về, thăm dò tiềm thức của chính mình, đó mới là nơi bắt đầu của mọi cuộc cách mạng.”

"Thăm dò tiềm thức" không chỉ là một cuốn sách tâm lý học; nó là một chiếc chìa khóa vạn năng để mở cánh cửa vào thế giới nội tâm huyền bí của con người. Carl Jung, trong những năm cuối đời, đã chấp nhận một thách thức lớn: diễn đạt những khái niệm trừu tượng về vô thức, biểu tượng và giấc mơ bằng một ngôn ngữ mà bất kỳ ai cũng có thể thấu hiểu. Cuốn sách là lời nhắc nhở rằng: bên dưới lớp vỏ lý trí hiện đại, chúng ta vẫn là những sinh vật được dẫn dắt bởi những huyền thoại cổ xưa.

Nghỉ lễ, nó chọn rời bỏ phố thị để về lại với quê. Cao Thành những đêm này se se lạnh, cái lạnh len lỏi vào từng nếp nhà, cũng là dịp để anh em con cháu tụ về. Giữa những câu chuyện không đầu không cuối, đứa cháu nhỏ được khơi gợi hỏi han về cuộc sống, để rồi nó chia sẻ về ba nó—người anh mà nó vừa có dịp gặp lại sau bao biến cố trong một giấc mơ. Câu hỏi của thằng nhóc lửng lơ: "Chú có giận ba vì chuyện con bỏ ngang không?". Nó chỉ mỉm cười, một nụ cười nhẹ tênh sau khi đã đi qua quá nửa đời người: "Không".

Lời khẳng định "không giận" ấy như một sự giải phóng, không chỉ cho đứa trẻ mà cho cả chính nó. Nó nhận ra rằng, việc quay trở lại gặp Jung không chỉ là để đọc sách, mà là để tìm hiểu thêm về một giấc mơ—giấc mơ về sự hòa giải, về việc chấp nhận những mảnh vỡ của quá khứ. Nó tự hỏi, đằng sau những lựa chọn "bỏ ngang" hay "tiếp tục" của đám trẻ, có bao nhiêu phần là sự thúc đẩy âm thầm từ một "vùng tối" mà chúng ta gọi là tiềm thức? Tại sao những hình ảnh về quê hương và những gương mặt thân thuộc cứ lặp đi lặp lại trong những đêm mất ngủ?

Jung trả lời rằng: đó là những Biểu tượng. Chúng không chỉ là ký ức, chúng là những sứ giả từ tiềm thức gửi đến để giúp chúng ta tìm lại sự cân bằng. Cuốn sách này là hành trình học cách đọc những "mật mã" ấy để không còn thấy mình lẻ loi giữa dòng đời, dù là ở Sài Gòn lộng gió hay ở Cao Thành se lạnh.

Jung lập luận rằng giấc mơ không phải là những hình ảnh ngẫu nhiên. Chúng là những nỗ lực của vô thức nhằm bù đắp cho những sai lệch của ý thức.

“Giấc mơ không phải là một sự lừa dối. Nó là một thông điệp chân thực từ phần sâu thẳm nhất của chúng ta, nói bằng ngôn ngữ của biểu tượng – thứ ngôn ngữ mà con người đã sử dụng từ thuở bình minh của lịch sử.”

Điểm độc đáo nhất của cuốn sách là khái niệm Vô thức tập thể. Jung chỉ ra rằng tất cả chúng ta chia sẻ chung một kho tàng biểu tượng cổ xưa: Người mẹ vĩ đại, Người hùng, và sự Trở về.

Tại sao nó lại chọn về Cao Thành mỗi dịp lễ? Có lẽ vì trong nó, nguyên mẫu của "Sự trở về" (The Homecoming) đang trỗi dậy mạnh mẽ. Tại sao đứa cháu lại chọn "bỏ ngang"? Đó có thể là một sự phản kháng của bản thể trước những khuôn mẫu áp đặt, một hành trình đi tìm cái Tôi (Self) riêng biệt.

  • “Tâm hồn con người không chỉ bao gồm những trải nghiệm cá nhân, mà còn chứa đựng cả một lịch sử vĩ đại của tổ tiên. Những biểu tượng trong giấc mơ của bạn có thể đã từng xuất hiện trong những hang động hàng ngàn năm trước.”

Toàn bộ cuốn sách hướng về mục tiêu cao nhất: Sự toàn vẹn. Jung gọi đó là Cá thể hóa – quá trình một người học cách chấp nhận mọi phần của mình. Sự hòa giải với người anh, sự tha thứ cho đứa cháu chính là một phần của tiến trình này. Không phải là loại bỏ nỗi đau, mà là tích hợp nó vào cuộc đời để trở nên vững chãi hơn.

  • “Tôi không phải là những gì đã xảy ra với tôi, tôi là những gì tôi chọn để trở thành. Cá thể hóa là khi bạn ngừng đóng kịch và bắt đầu sống cuộc đời thực sự của chính mình.”

"Thăm dò tiềm thức" nhắc nhở chúng ta rằng: Thành công không chỉ là việc chinh phục thế giới bên ngoài, mà là việc hòa giải với thế giới bên trong.

Đêm Cao Thành về khuya, bếp lửa đã tàn nhưng lòng nó ấm lại. Nó gấp sách lại, nhận ra rằng nỗi sợ thất bại hay sự cô độc chỉ là những biểu tượng trên con đường dẫn về cái Tôi toàn vẹn. Hãy lắng nghe những giấc mơ, bởi ở đó, ba của đứa cháu, người anh của nó và cả chính nó đều đang cùng nhau bước đi trên hành trình tìm lại bản ngã.

https://chienphan.blogspot.com/2025/12/sach-ban-o-tam-hon-con-nguoi-cua-jung.html

***



"All external searches are merely compensations for internal poverty. Return, explore your own unconscious—that is where every revolution begins."

Man and His Symbols is more than just a psychology book; it is a master key to the mysterious inner sanctum of the human soul. In his twilight years, Carl Jung embraced a profound challenge: to translate abstract concepts of the unconscious, symbols, and dreams into a language anyone could grasp. The book serves as a haunting reminder: beneath our modern, rational shell, we remain creatures driven by ancient myths.

During the holiday, it (the character) chose to flee the urban sprawl to return to its roots. In Cao Thanh, the nights were biting—a chill that crept into every corner of the wooden houses. It was an occasion for family to gather. Amidst aimless conversations, a young nephew was prompted to ask about life, leading it to share memories of the boy’s father—an older brother it had only recently re-encountered, after countless life upheavals, in a dream. The boy’s question hung in the air: "Are you angry with my father for me dropping out?" It simply smiled—a weightless smile of one who has traversed more than half a lifetime: "No."

That affirmation, "No," was a liberation—not just for the child, but for it as well. It realized that returning to Jung’s work was not merely about reading; it was about deciphering a dream—a dream of reconciliation, of accepting the jagged shards of the past. It wondered: behind the choices of these youngsters to "drop out" or "continue," how much is driven by the silent nudging of that "shadow zone" we call the unconscious? Why do images of the homeland and familiar faces keep recurring during those sleepless nights?

Jung answers: these are Symbols. They are not just memories; they are messengers from the unconscious sent to help us regain balance. This book is a journey of learning to read those "codes" so that one no longer feels isolated amidst the currents of life, whether in wind-swept Saigon or the chilly air of Cao Thanh.

Jung argued that dreams are not random flickers. They are the unconscious’s attempt to compensate for the imbalances of the conscious mind. "A dream is not a deception. It is a truthful message from our deepest self, spoken in the language of symbols—the language humanity has used since the dawn of history."

The most unique point of the book is the concept of the Collective Unconscious. Jung points out that we all share a treasure trove of ancient archetypes: The Great Mother, The Hero, and The Homecoming. Why did it choose to return to Cao Thanh every holiday? Perhaps because within it, the archetype of "The Homecoming" was surging powerfully. Why did the nephew choose to "drop out"? It might be the self’s resistance against imposed molds, a journey to find one’s unique Self.

"The human soul is not composed only of personal experiences but contains a grand history of ancestors. The symbols in your dreams might have appeared in caves thousands of years ago."

The entire book points toward the ultimate goal: Wholeness. Jung calls this Individuation—the process where one learns to accept every part of themselves. Reconciling with the brother, forgiving the nephew—these are all parts of this progression. It is not about eliminating pain, but integrating it into life to become more resilient.

"I am not what happened to me; I am what I choose to become. Individuation is when you stop acting and start living your true life."

Man and His Symbols reminds us: Success is not just about conquering the external world, but about reconciling with the world within. As night deepened in Cao Thanh, the hearth fire had faded, but its heart grew warm again. It closed the book, realizing that the fear of failure or loneliness were merely symbols on the path leading to the whole Self. Listen to the dreams, for there, the boy's father, its brother, and it itself are all walking together on the journey to find the soul.

Thứ Ba, 28 tháng 10, 2025

[Sách] Bước chậm lại giữa thế gian vội vã - Hae Min

 

  • "Đừng chạy. Hãy bước. Điều bạn đang tìm kiếm sẽ xuất hiện khi bạn chậm lại."

Quà anh tặng cho mỗi lần gặp gỡ, dịp này là sinh nhật chị, cũng là trùng hợp vào một dịp gặp gỡ thế thôi. Quyển sách là quà anh tặng; quyển sách này hoàn thiện trọn bộ của Đại đức Hae Min, người tác giả được nhắc đến trong buổi gặp gỡ cùng người bạn đồng nghiệp cùng ngành. Thân hay chẳng thân, đến giờ chẳng biết, chỉ biết có quá nhiều điểm tương đồng trong cuộc sống và cách nghĩ.

Bước chậm lại giữa thế gian vội vã" không phải là một cuốn sách triết học khô khan, mà là một tập hợp những lời thủ thỉ, những câu chuyện ngắn và những lời khuyên sâu sắc từ Đại đức Hae Min. Sách được viết như một liều thuốc an thần cho tâm hồn, dành riêng cho những người đang cảm thấy kiệt sức, lạc lối, hoặc bị cuốn vào vòng xoáy hối hả của cuộc sống hiện đại.

Cuốn sách nổi bật bởi giọng văn nhẹ nhàng, nhân hậu và đầy bao dung. Hae Min không giảng giải về đạo lý cao siêu; ông chỉ đơn thuần nhắc nhở chúng ta về những giá trị đã bị lãng quên: sự chấp nhận bản thân, tầm quan trọng của việc hiện diện trọn vẹn trong từng khoảnh khắc, và sức mạnh của lòng biết ơn.

Triết lý "Không làm gì cả"

Điểm cốt lõi của cuốn sách nằm ở thông điệp: Thế giới không vội vã, chỉ có ta vội vã. Hae Min chỉ ra rằng, phần lớn nỗi bất an, lo lắng của chúng ta không đến từ thế giới bên ngoài, mà đến từ chính sự chạy đua, sự đánh giá và kỳ vọng mà ta tự đặt lên mình.

"Nếu bạn làm chậm lại, thế giới sẽ không bị bỏ lại phía sau. Chỉ là những điều bạn không thể thấy trước đó sẽ xuất hiện."

Ông khuyến khích người đọc dừng lại, nhìn vào bên trong. Khi chúng ta ngừng chạy, chúng ta mới thực sự thấy được những gì đang diễn ra xung quanh và trong chính tâm hồn mình. Sự chữa lành không phải là tìm kiếm giải pháp từ bên ngoài, mà là chấp nhận sự không hoàn hảo của chính mình.


Sự cô đơn và Lòng trắc ẩn

Hae Min dành nhiều chương để nói về nỗi cô đơn, các mối quan hệ và những khó khăn trong công việc. Ông nhắc nhở rằng, mọi người đều đang phải chiến đấu với những cuộc chiến riêng của mình. Sự cảm thông và lòng trắc ẩn không chỉ dành cho người khác mà còn phải dành cho chính bản thân mình.

"Điều quan trọng không phải là người khác nhìn bạn như thế nào, mà là cách bạn nhìn nhận chính mình."

Khi chúng ta tự yêu thương và chấp nhận bản thân, chúng ta sẽ không còn quá phụ thuộc vào sự chấp thuận hay đánh giá từ người khác. Đó là nền tảng vững chắc để xây dựng sự bình yên nội tại.

  • "Đừng cố gắng trở thành một người hoàn hảo. Hãy chấp nhận bạn là một người đang học hỏi."

"Bước chậm lại giữa thế gian vội vã" là một cuốn sách cần thiết cho bất kỳ ai đang sống trong nhịp độ nhanh của thế kỷ 21. Nó là một lời nhắc nhở sâu sắc rằng, việc chăm sóc tâm hồn cũng quan trọng như việc theo đuổi mục tiêu. Đọc cuốn sách này sẽ mang lại cảm giác bình yên, như thể bạn đang ngồi xuống bên một người bạn hiền triết, người lắng nghe bạn vô điều kiện. Đây là một tác phẩm để lại dư âm dài lâu, thôi thúc bạn sống chậm hơn, trọn vẹn hơn.

https://chienphan.blogspot.com/2025/06/sach-khi-moi-ieu-khong-nhu-y-hae-min.html

https://chienphan.blogspot.com/2019/02/review-sach-yeu-nhung-ieu-khong-hoan.html

***

This book was a gift from my brother for my sister's birthday, a mere coincidence during a casual get-together. The book completed my set by Venerable Hae Min, the author mentioned during a conversation with a colleague in the same industry. Whether we're close or not, I still don't know, but there are so many similarities in our lives and ways of thinking.

"The Things You Can See Only When You Slow Down" is not a dry philosophical text, but a collection of intimate whispers, short stories, and profound advice from Venerable Hae Min. The book is written like a balm for the soul, intended for those who feel exhausted, lost, or caught in the hurried vortex of modern life.

The book stands out for its gentle, compassionate, and embracing voice. Hae Min does not lecture on high doctrines; he merely reminds us of the forgotten values: self-acceptance, the importance of being fully present in every moment, and the power of gratitude.

The Philosophy of "Doing Nothing"

The core message of the book is: The world is not rushing; only we are. Hae Min points out that most of our anxiety and unease comes not from the external world, but from the race, judgment, and expectations we place on ourselves.

"If you slow down, the world won't be left behind. It's just that things you couldn't see before will appear."

He encourages readers to stop and look within. When we stop running, we truly see what is happening around us and within our own souls. Healing is not about seeking external solutions, but about accepting one's own imperfection.

Loneliness and Compassion

Hae Min dedicates several chapters to discussing loneliness, relationships, and difficulties at work. He reminds us that everyone is fighting their own private battles. Empathy and compassion must be extended not only to others but also to oneself.

"What matters is not how others see you, but how you see yourself."

When we love and accept ourselves, we no longer rely excessively on approval or judgment from others. That is the solid foundation for building inner peace.

  • "Don't run. Walk. What you are looking for will appear when you slow down."

"The Things You Can See Only When You Slow Down" is an essential book for anyone living in the fast pace of the 21st century. It is a profound reminder that caring for the soul is just as important as pursuing goals. Reading this book will bring a sense of tranquility, as if you are sitting beside a wise friend who listens to you unconditionally. This is a work that leaves a long-lasting resonance, urging you to live slower and more fully.

Thứ Hai, 7 tháng 7, 2025

[Sách] Tư duy như một triết gia - Peter Cave

"Thảo luận triết học thì có lợi gì? Nó hệt như một giờ học piano vậy." 

Môi trường tác động đến con người; sự hình thành cách tư duy và thậm chí trở thành nhân vật nổi tiếng được thấy rõ trong cách dẫn dắt người đọc tìm hiểu về tiểu sử của từng nhà triết học.

"Tư duy như một triết gia" của Peter Cave không phải là một cuốn sách giáo trình khô khan; đó là một lời mời gọi đầy hóm hỉnh và sâu sắc đến một cuộc phiêu lưu trí tuệ, nơi những câu hỏi lớn của cuộc đời được khám phá qua lăng kính của 30 nhà tư tưởng vĩ đại nhất lịch sử. Cuốn sách này, nằm trong bộ sách "Tư duy" (cùng với "Tư duy như chính trị gia" và "Tư duy như kinh tế gia"), là một minh chứng cho thấy triết học không chỉ dành cho các học giả mà còn là một công cụ hữu ích để mỗi chúng ta sống ý nghĩa hơn.

"Khi bạn khởi đầu trên con đường đến Ithaka, bạn nên ước mình có cuộc hành trình dài, đầy phiêu lưu và kiến thức." 

Cuốn sách nổi bật bởi cách Peter Cave đã biến những ý tưởng phức tạp trở nên dễ hiểu và hấp dẫn, mà vẫn giữ được tính học thuật. Ông không chỉ giới thiệu về cuộc đời và tư tưởng cốt lõi của các triết gia từ Đông sang Tây (như Socrates, Nietzsche, Lão Tử, Simone de Beauvoir...), mà còn liên hệ chúng với những vấn đề hiện đại như tự do ngôn luận, quyền động vật, biến đổi khí hậu hay đạo đức lãnh đạo. Mỗi chương là một bức chân dung sống động, phác họa cách những tư tưởng này ra đời và phát triển, đồng thời cung cấp một phần hướng dẫn "suy nghĩ như" triết gia đó, giúp người đọc áp dụng ngay vào cuộc sống.

Giọng văn của Peter Cave hài hước, dí dỏm nhưng không kém phần minh triết và sâu sắc. Ông phá vỡ định kiến rằng triết học là khô khan, đưa người đọc vào một cuộc đối thoại thân mật với các nhà tư tưởng, khuyến khích sự suy ngẫm và tư duy phản biện. Cuốn sách là một lời nhắc nhở rằng, triết học không phải là một môn học xa vời, mà là một cách sống, một công cụ để chúng ta hiểu rõ hơn về bản thân, về thế giới và về cách chúng ta nên hành xử.

"Tư duy như một triết gia" là một cuốn sách không chỉ mở rộng kiến thức mà còn khơi gợi sự tò mò và thúc đẩy hành động, khuyến khích chúng ta không ngừng đặt câu hỏi và tìm kiếm ý nghĩa trong mọi khía cạnh của cuộc sống.

Peter Cave, qua "Tư duy như một triết gia," đã mang đến một tác phẩm độc đáo, làm sống dậy những tư tưởng triết học vĩ đại và chứng minh rằng chúng vẫn còn nguyên giá trị trong thế giới hiện đại. Cuốn sách không chỉ mở rộng tầm hiểu biết mà còn khuyến khích người đọc tự mình suy ngẫm, đặt câu hỏi và tìm kiếm con đường sống ý nghĩa. Đây là một tác phẩm đáng đọc, để lại dư âm dài lâu và truyền cảm hứng cho một lối tư duy sâu sắc hơn.

***

"What's the point of philosophical discussion? It's just like a piano lesson."

The environment influences people; the formation of thought processes and even becoming a famous figure is clearly seen in how the author guides the reader through the biographies of each philosopher.

"How to Think Like a Philosopher" by Peter Cave is not a dry textbook; it is a witty and profound invitation to an intellectual adventure, where life's big questions are explored through the lens of 30 of history's greatest thinkers. This book, part of the "Thinking" series (along with "How to Think Like a Statesman" and "How to Think Like an Economist"), is a testament that philosophy is not just for academics but a useful tool for each of us to live more meaningfully.

"When you set out on the road to Ithaca, you should wish for your journey to be long, full of adventure and knowledge."

The book stands out for how Peter Cave has made complex ideas understandable and engaging, while still maintaining academic rigor. He not only introduces the lives and core ideas of philosophers from East to West (such as Socrates, Nietzsche, Lao Tzu, Simone de Beauvoir...), but also connects them to modern issues like freedom of speech, animal rights, climate change, and ethical leadership. Each chapter is a vivid portrait, sketching how these ideas emerged and developed, and also provides a "think like" guide for each philosopher, helping readers apply these insights to their lives immediately.

Peter Cave's writing style is humorous, witty, yet profoundly wise and insightful. He breaks the stereotype that philosophy is dry, drawing readers into an intimate dialogue with thinkers, encouraging reflection and critical thinking. The book is a reminder that philosophy is not a distant subject, but a way of life, a tool for us to better understand ourselves, the world, and how we should behave.

"How to Think Like a Philosopher" is a book that not only expands knowledge but also ignites curiosity and prompts action, encouraging us to constantly ask questions and seek meaning in all aspects of life.

Peter Cave, through "How to Think Like a Philosopher," has delivered a unique work, bringing great philosophical ideas to life and proving that they remain relevant in the modern world. The book not only broadens understanding but also encourages readers to reflect, question, and seek a meaningful path for themselves. This is a book worth reading, leaving a lasting impression and inspiring a deeper way of thinking.

Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2025

[Sách] Cái Bi - Karl Jaspers


Cảm xúc thăng hoa là khi người ta cười hoặc khóc.

 “Cái Bi” (tựa gốc tiếng Đức: Über das Tragische) là một tác phẩm triết học ngắn gọn nhưng sâu sắc của Karl Jaspers, được dịch sang tiếng Việt bởi Bùi Văn Nam Sơn. Dù chỉ vỏn vẹn 132 trang, cuốn sách mở ra một hành trình tư duy về bi kịch – không chỉ như một chủ đề trong nghệ thuật, mà còn như một trải nghiệm hiện sinh không thể tránh khỏi của con người.

Jaspers không xem bi kịch là điều tiêu cực cần né tránh, mà là một phần thiết yếu trong quá trình thức tỉnh của con người. Ông cho rằng, chính trong những “hoàn cảnh ranh giới” – như cái chết, tội lỗi, khổ đau hay sự cô đơn – con người buộc phải đối mặt với giới hạn của mình, từ đó tìm kiếm ý nghĩa và tự do đích thực.

“Cái gì thúc đẩy ta ‘thắp sáng hiện sinh’? Đó chính là những ‘hoàn cảnh ranh giới’ đẩy ta ra khỏi giấc ngủ êm đềm của ‘giường chiếu hẹp’, đặt ta vào chân tường để phải thức tỉnh, lựa chọn và quyết định.”

— Bùi Văn Nam Sơn,

Trong quan điểm của Jaspers, bi kịch không phải là một định mệnh bất biến, mà là cơ hội để con người vượt qua chính mình, hướng tới một tồn tại sâu sắc hơn.

Tác phẩm không chỉ dừng lại ở triết lý hiện sinh mà còn mở rộng sang các lĩnh vực thần thoại, tôn giáo, văn hóa và nghệ thuật. Jaspers phân tích cách mà các nền văn hóa và tôn giáo đã phản ánh và diễn giải bi kịch, từ đó giúp người đọc hiểu sâu hơn về bản chất của sự bi đát và cách con người đối mặt với nó.

“Cái Bi” không phải là một cuốn sách dễ đọc, nhưng chính sự cô đọng và chiều sâu của nó khiến người đọc phải dừng lại, suy ngẫm và đối thoại với chính mình. Đây là một tác phẩm dành cho những ai đang tìm kiếm sự hiểu biết sâu sắc về bản thân và thế giới xung quanh.

“Cái Bi” là một tác phẩm triết học đáng đọc, không chỉ vì giá trị tư tưởng mà còn vì khả năng khơi gợi sự tự vấn và khám phá bản thân. Trong một thế giới đầy bất định và khổ đau, cuốn sách này như một ngọn đèn soi sáng con đường hiện sinh, giúp chúng ta hiểu rằng: chính trong bi kịch, con người mới thực sự tìm thấy tự do và ý nghĩa sống

***

"The Tragic" (original German title: Über das Tragische) is a brief yet profound philosophical work by Karl Jaspers, translated into Vietnamese by Bùi Văn Nam Sơn. Though only 132 pages long, the book opens a journey of thought about tragedy—not merely as a theme in art, but as an inevitable existential experience of human life.

Jaspers does not see tragedy as something negative to be avoided, but rather as an essential part of the awakening process of the human being. He believes that it is precisely in these "boundary situations"—such as death, guilt, suffering, or loneliness—that one is forced to confront the limits of the self, and through that, seek meaning and true freedom.

“What drives us to ‘illuminate existence’? It is these very ‘boundary situations’ that push us out of the comfortable sleep in our ‘narrow beds,’ cornering us until we awaken, choose, and decide.”

— Bùi Văn Nam Sơn

In Jaspers’ view, tragedy is not an unchangeable fate, but rather an opportunity for individuals to transcend themselves and move toward a deeper form of being.

The work does not stop at existential philosophy but extends into the realms of myth, religion, culture, and art. Jaspers analyzes how various cultures and religions reflect and interpret tragedy, helping the reader gain deeper insights into the essence of human despair and the ways we confront it.

"The Tragic" is not an easy read, but its very conciseness and depth compel readers to pause, reflect, and engage in dialogue with themselves. It is a work for those who are seeking a profound understanding of both themselves and the world around them.

"The Tragic" is a philosophical work well worth reading—not only for its intellectual value but also for its ability to spark introspection and self-discovery. In a world full of uncertainty and suffering, this book serves as a light illuminating the path of existence, helping us realize that: it is within tragedy that human beings truly discover freedom and the meaning of life.

Chủ Nhật, 4 tháng 6, 2023

[Sách] Triết học lục địa - Simon Critchley



"Triết học Lục địa là tên gọi một giai đoạn 200 năm trong lịch sử triết học vốn bắt đầu với việc xuất bản các công trình triết học phê phán của Kanat trong thập niên 1780. Sự kiện này dẫn đến những phong trào chủ yếu như: 1) Thuyết duy tâm Đức và chủ nghĩa lãng mạn Đức và hệ quả của nó, 2) Phê phán siêu hình học và "các bậc thầy về hoài nghi" , 3) Hiện tượng học Đức ngữ và Triết học hiện sinh, 4) Hiệ tượng học Pháp, thuyết Hegel và thuyết phản Hegel, 5) Thông diễn học, 6) Chu nghĩa Marx phương Tây và trường phái Frankfurt, 7) Thuyết cấu trúc Pháp" 

Triết học lục địa là một lĩnh vực triết học mà Simon Critchley đã đóng góp và phát triển. Simon Critchley là một triết gia người Anh và hiện đang là Giáo sư Triết học tại Trường Đại học New School for Social Research ở New York.

Triết học lục địa tập trung vào việc khám phá và phân tích các vấn đề triết học từ một góc nhìn lịch sử và địa lý. Ý tưởng cơ bản của triết học lục địa là rằng không thể hiểu một khía cạnh nào đó của triết học mà không xem xét ngữ cảnh lịch sử, văn hóa và địa lý mà nó xuất hiện.

"sức hút của triết học Lục đỉa ở chỗ có vẻ như nó gần hơn với tinh yếu và toàn diện của tồn tại con người" 

Simon Critchley đã áp dụng triết học lục địa vào các lĩnh vực như triết học chính trị, triết học ngôn ngữ và triết học về tồn tại. Ông đã viết nhiều cuốn sách về triết học lục địa, bao gồm "Continental Philosophy: A Very Short Introduction" (Triết học lục địa: Giới thiệu rất ngắn), "Infinitely Demanding: Ethics of Commitment, Politics of Resistance" (Yêu cầu vô tận: Đạo đức cam kết, chính trị kháng cự) và "The Faith of the Faithless: Experiments in Political Theology" (Niềm tin của kẻ không có niềm tin: Cuộc thử nghiệm trong thần học chính trị).

Triết học lục địa của Simon Critchley thúc đẩy một cách tiếp cận đa chiều đối với triết học, nhấn mạnh vai trò của ngữ cảnh lịch sử và địa lý trong việc hiểu các vấn đề triết học.

***

"Continental Philosophy, also known as Continentalism, is a term used to describe a 200-year period in the history of philosophy that began with the publication of Kant's critical philosophical works in the 1780s. This event led to major movements including: 1) German Idealism and German Romanticism and their consequences, 2) Critiques of metaphysics and the 'masters of suspicion,' 3) German hermeneutics and phenomenology, 4) French phenomenology, Hegelianism, and post-Hegelianism, 5) Semiotics, 6) Western Marxism and the Frankfurt School, 7) French structuralism."

Continental Philosophy is a field of philosophy in which Simon Critchley has contributed and developed. Simon Critchley is a British philosopher who currently holds a professorship in Philosophy at the New School for Social Research in New York.

Continental Philosophy focuses on exploring and analyzing philosophical issues from a historical and geographical perspective. The fundamental idea of Continental Philosophy is that one cannot understand a particular aspect of philosophy without considering the historical, cultural, and geographical context in which it emerges.

"The appeal of Continental Philosophy seems to lie in its closer proximity to the essence and comprehensiveness of human existence."

Simon Critchley has applied Continental Philosophy to areas such as political philosophy, philosophy of language, and philosophy of existence. He has written several books on Continental Philosophy, including "Continental Philosophy: A Very Short Introduction," "Infinitely Demanding: Ethics of Commitment, Politics of Resistance," and "The Faith of the Faithless: Experiments in Political Theology."

Simon Critchley's Continental Philosophy promotes a multidimensional approach to philosophy, emphasizing the role of historical and geographical contexts in understanding philosophical issues."

Thứ Năm, 17 tháng 1, 2019

[Sách] Tôi là ai - và nếu vậy thì bao nhiêu? Richard David Precht

Kết quả hình ảnh cho tôi là ai sách

"Welcome to Việt Nam" – Nó cười trước cái nhìn ngạc nhiên của chú nhóc Evan. Chú mặc một chiếc áo phông trắng thùng thình, quần sọt đen, túi đeo chéo vai với mái đầu tóc húi cua thịnh hành, trông chú dễ bị nhầm là một người Việt. 

Chú nhóc hai mươi tám tuổi đến từ một miền Nam của Trung Quốc xa xôi, đang lần mò qua những trang review của TikTok để khám phá Sài Gòn những ngày cuối năm. Nó trả tiền cho tô mì chú nhóc ăn, nhìn cách chú nhóc hào phóng cho tiền người phụ nữ ôm xấp vé số, nó mỉm cười mời lại. Một sự chào đón dành cho kẻ lữ hành đang đi tìm thế giới — và tìm chính mình.

Nhớ. Tuổi trẻ cũng đi hoang, để tìm lại chính bản thân mình ở một thế giới bao la, như gã bước ra từ "bắt trẻ đồng xanh" đã từng 

Sài Gòn những ngày cuối năm, sự nhộn nhịp dường như bắt đầu cũng vơi đi theo từng năm, nhìn dòng xe chen nhau từng met ngoài kia, nó bắt đầu cảm nhận rõ hơn về chính bản thân mình. Ánh mắt nó sáng lên khi nhận ra bản thân trong những giây phút nhắc mình quay lại với hiện tại—tỉnh táo, thoát khỏi sự quyến rũ của sự lười biếng và những bám víu tâm linh vô định.

Tôi Là Ai - Và Nếu Vậy Thì Bao Nhiêu?: Chuyến Du Hành Vào "Nhà Hát" Của Bản Ngã

Nó vốn ngán sách Triết, nhưng cuốn sách của Richard David Precht—một tác giả "trẻ" (sinh năm 1964)—đã khiến nó không thể buông xuống ngay từ những trang đầu tiên. Sự mạch lạc và cách đặt vấn đề đầy lôi cuốn đã biến một chủ đề khô khan thành một chuyến du hành triết luận thực thụ. Đã mua, đã đọc và hoàn toàn công nhận: đây xứng đáng là một quyển sách "gối đầu giường" về căn tính con người.

1. Bản Ngã Là Một "Nhà Hát" Đa Vai

Cái tiêu đề "Và nếu vậy thì bao nhiêu?" không phải là một câu nói đùa. Precht chứng minh rằng cái "Tôi" mà chúng ta hằng bảo vệ không phải là một khối đồng nhất. Theo bước chân của các nhà thần kinh học và triết học, ta nhận ra mình là một "nhà hát" với nhiều diễn viên cùng lúc sắm vai.

Có một cái "Tôi" lý trí của "Trương Tử", một cái "Tôi" đầy trắc ẩn như Atticus Finch, và cả cái "Tôi" đang loay hoay tìm điểm chạm giữa nhân gian và địa ngục như Van Gogh. Precht khái quát lịch sử triết học theo từng luận điểm: từ sự thật, nguồn gốc, cấu tạo não bộ cho đến những khái niệm trừu tượng như Chúa, tình yêu, tự do và sở hữu. Ông kết nối các luận điểm này với những tên tuổi tiêu biểu từ khoa học đến nghệ thuật như Röcken, Johanson, Cajal... hay cả Anselm, Niklas và Sinatra.

2. Vòng Lặp Thời Gian Và Những Vị "Tổ Sư"

Chuyến du hành triết luận này, sau khi đi qua những phòng thí nghiệm hiện đại và những lý thuyết tân thời, lại quay trở về với những "tổ sư" của triết học như Platon và đặc biệt là Epicurus. Nó đặc biệt lưu tâm đến các quy tắc của Epicurus tại "Vườn mộng tưởng"—những chỉ dẫn để đạt được sự an lạc thực sự:

  1. Kích hoạt não bộ hoạt động: Luôn giữ cho tư duy nhạy bén.

  2. Sống theo xã hội: Kết nối và chia sẻ với cộng đồng.

  3. Tập trung: Sống trọn vẹn trong hiện tại, tránh phân tâm.

  4. Hy vọng một cách thực tế: Đừng xây lâu đài trên cát.

  5. Nghĩ điều hay: Nuôi dưỡng những hạt giống tích cực trong tâm trí.

  6. Thanh thản xử lý bất hạnh: Chấp nhận sự "không suôn sẻ" như một phần của đời người.

  7. Vui trong công việc: Tìm thấy ý nghĩa trong những gì mình làm hàng ngày.

3. Đạo Đức Và Hạnh Phúc: Để Năm Tháng Chứa Đầy Sự Sống

Kết nối với tư tưởng của Tenzin Priyadarshi, Precht khẳng định rằng khả năng tự vấn chính là thứ giúp con người vượt thoát khỏi định mệnh sinh học. Chúng ta bảo vệ "con chim nhại" trong tâm hồn mình không phải vì luật lệ, mà vì đó là cách duy nhất để cái "Tôi" không tan rã trong sự dối trá và lười biếng tâm linh.

Thông điệp cuối cùng của tác giả chính là một lời nhắc nhở đắt giá: "Hãy giữ tính tò mò ham hiểu biết, hãy thực hiện các ý tưởng tốt đẹp của mình, hãy làm cho năm tháng chứa đầy sự sống chứ đừng để cuộc sống phè theo năm tháng."

Nó nhấp nốt ngụm cà phê, chữ vẫn chạy trước mặt. Cuốn sách của Precht như một chiếc gương soi đa diện giúp nó hiểu rằng mình là "bao nhiêu". Đừng cố đóng khung mình. Hãy cứ lơ lửng, cứ giữ lấy tâm thế người mới bắt đầu để khám phá miền bí ẩn của chính mình.

(Update ngày 10022026, một ngày cuối năm chiều xuân lơ lửng)

***


WHO AM I - AND IF SO, HOW MANY?: A JOURNEY INTO THE "THEATER" OF THE SELF

"Welcome to Vietnam," it (the character) smiled at the surprised look of young Evan. Dressed in an oversized white T-shirt, black shorts, and a crossbody bag, with a trendy buzz cut, the boy could easily be mistaken for a local.

The twenty-eight-year-old lad from a distant part of Southern China was navigating through TikTok reviews to explore Saigon in these year-end days. It paid for the boy's bowl of noodles; seeing how generously he gave money to the woman carrying a stack of lottery tickets, it smiled and returned the hospitality. A welcome for a traveler searching for the world—and searching for himself.

Memory. In its youth, it too wandered to find itself in the vast world, much like the lad who stepped out from "The Catcher in the Rye" once did.

In Saigon's final days of the year, the usual hustle seems to have thinned out year by year. Watching the stream of vehicles jostling for every meter out there, it began to feel its own self more clearly. Its eyes lit up as it recognized itself in the moments that reminded it to return to the present—alert, escaping the allure of laziness and aimless spiritual attachments.

Who Am I - And If So, How Many?: A Journey into the "Theater" of the Self It usually dreads philosophy books, but the work by Richard David Precht—a "young" author (born in 1964)—kept it from putting the book down right from the first pages. The clarity and captivating way of presenting problems transformed a parched subject into a true philosophical expedition. Bought, read, and fully acknowledged: this deserves to be a "bedside book" on human identity.

1. The Self is a "Theater" of Many Roles The title "And if so, how many?" is not a joke. Precht proves that the "Self" we desperately protect is not a monolithic entity. Following the footsteps of neuroscientists and philosophers, we realize we are a "theater" with many actors performing simultaneously. There is the rational Self of "Truong Tu," the compassionate Self like Atticus Finch, and even the Self struggling to find a point of contact between humanity and hell like Van Gogh. Precht summarizes philosophical history point by point: from truth, origins, and brain structure to abstract concepts like God, love, freedom, and possession. He connects these points with prominent names from science to art, such as Röcken, Johanson, Cajal... or even Anselm, Niklas, and Sinatra.

2. The Time Loop and the "Grandmasters" This philosophical voyage, after passing through modern laboratories and contemporary theories, returns to the "grandmasters" of philosophy like Plato and especially Epicurus. It took particular note of Epicurus’s rules at "The Garden of Illusions"—the guidelines for achieving true tranquility:

  • Activate the brain: Always keep the mind sharp.

  • Live socially: Connect and share with the community.

  • Focus: Live fully in the present, avoid distractions.

  • Hope realistically: Do not build castles on sand.

  • Think good thoughts: Nurture positive seeds in the mind.

  • Serenely handle misfortune: Accept "lack of smoothness" as a part of life.

  • Find joy in work: Find meaning in what you do every day.

3. Ethics and Happiness: Filling the Years with Life Connecting with the thoughts of Tenzin Priyadarshi, Precht asserts that the capacity for self-questioning is what helps humans transcend biological destiny. We protect the "mockingbird" in our souls not because of rules, but because it is the only way for the "Self" not to disintegrate in deceit and spiritual laziness.

The author's final message is a valuable reminder: "Maintain your curiosity, implement your good ideas, and make your years full of life rather than letting life just drag on through the years."

It takes the last sip of coffee; the words still dance before its eyes. Precht’s book is like a multifaceted mirror helping it understand "how many" it is. Do not try to frame yourself. Just remain suspended, keep a "Beginner’s Mind" to explore your own hidden mysteries.

[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...