Chiến Phan

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2026

[TFSVN] Workshop F&I - Phần 1 - Những mãnh vỡ tự do [FRAGMENTS of Freedom]

 






“Cánh chim bạt gió về đâu mất,

Hút bóng mây mờ, cá bặt tâm…”

Nó ngồi bên ô cửa kính nhỏ hẹp của chiếc Airbus, nhìn mây trời phiêu lãng tan ra thành từng vệt trắng xốp như bông gộp giữa khoảng không bao la, chiếc máy bay vừa tìm được độ cao của mình sau khi rời khỏi nhà ga T1, khỏi phi trường Tân Sơn Nhất. 

Sài Gòn phía dưới lưng chừng mây lùi dần, trả lại cho nó một khoảnh khắc tĩnh lặng hiếm hoi, rời xa văn phòng chật hẹp, rời xa những tập hồ sơ khô khốc và vòng xoáy cơm áo gạo tiền nghiệt ngã. Nó đang trên chuyến bay về Huế – mảnh đất kinh kỳ trầm mặc, nơi những con người của thế hệ F&I (Tài chính - Bảo hiểm) thuộc hệ thống Toyota sắp sửa hội tụ.

“Nếu không rực rỡ, cũng đừng làm lấm lem thêm” 

Một công tác không thường kỳ. Trong thâm tâm nó, đây là một cuộc hành trình nhặt nhạnh lại những mảnh vỡ của ký ức, gom đầy và ráp lại, nơi nó đối diện với những sự thật trần trụi về tình yêu, nghị lực, và cả quyết định buông tay. 

Tình yêu.

Nó chuyển chỗ, nhích người ngồi xuống bên cạnh Tuấn L – vị giám đốc kinh doanh dạn dạn sương gió nơi mảnh đất Bình Dương sầm uất.

L của ngày hôm nay đã là cha của hai đứa trẻ. Trên gương mặt từng một thời phong trần ấy, những đường hằn sâu cắm rễ như nét khắc của thời gian, mang trọn sự chín chắn, ưu tư của một người đàn ông đang tròng vào cổ chiếc ách gánh nặng gánh nhẹ trách nhiệm gia đình. Sự mệt mỏi không giấu nổi đọng lại nơi quầng mắt trũng sâu, có thể vì những đêm mất ngủ định kỳ, và cả những cái ngáp dài thượt, thảng thốt nối nhau suốt chuyến bay. Hồn thảng thốt. 

Những đứa trẻ sống lâu sáp lại ôn chuyện ngày qua. Trong tiếng động cơ máy bay rì rào đều đều như sóng vỗ, L của ngày hôm qua bất chợt dội về qua vài lời nhắc nhớ. Hai anh em ôn lại những chuyến đi chơi xa tếu táo, ngông nghênh từ Sài Gòn rủ nhau lao ra Vũng Tàu của một thời ngông nghênh. Ngày ấy, tuổi trẻ của chúng nó như cỏ dại đồng hoang, tự do và nổi loạn dưới cái mác "đời Sales". Ngày ấy, chúng nó sống trọn vẹn với những khát khao bản năng kiếm tiền và nhận lấy một sự khắc ghi, chưa bị những con số hay danh xưng đè nặng.

Nó nhìn L, rồi nhìn ra ô cửa kính máy bay. Ngoài kia, mây trời phiêu lãng vẫn thong dong trôi giữa khoảng không bao la, tha thẩn. 

Nghị lực

Trong tiếng động cơ máy bay rì rào miên man như sóng cồn, hai anh em vô tình nhắc đến Thùy L – cô em gái một thời xinh đẹp, tài năng, từng rạng rỡ như một vệt nắng xuân lan tỏa vào không gian showroom phía Đông Sài Gòn rộn rã.

Cuộc đời vốn chưa bao giờ trải đầy hoa hồng cho những tâm hồn mỏng mảnh. Sau những ngây thơ ban đầu và vô vàn biến cố trắc trở, Thùy L từ phố thị Sài Gòn về tận vùng đất Bình Dương lắm khói bụi. Một đời sales bước lên tầm quản lý, lặn lội đến từng ngõ xóm xa xôi, phát những tờ rơi vẫn còn rịn mồ hôi phơi nắng trưa oi nòng. Cô em gái đứng giữa hai bờ lựa chọn: rẽ lối bước tiếp trên con đường sự nghiệp công bộc đang thăng tiến, hay lùi lại phía sau để vỗ về hai đứa con thơ. Cô em gái chọn gia đình, sau cái giá phải trả là sự bào mòn sức khỏe đến kiệt quệ, trở thành nghị lực để em quyết tâm.

Những đêm trắng nối dài không ngủ. Sự vắt cạn lực kiệt sức đến khô khốc mà người ngoài nhìn vào chẳng thể nào thấu tỏ. Nhưng kỳ lạ thay, qua từng lời kể của đôi mắt ngời sáng của L ở một đêm Sài Gòn gặp lại, nó không hề thấy bóng dáng của sự gục ngã hay buông xuôi. Giữa những giọt mồ hôi tựa sương rơi và bộn bề âu lo cơm áo, cơ duyên từ chính sự suy kiệt sức khỏe đã mở ra một lối rẽ hoàn toàn mới: Thùy L trở thành cô giáo.

Trút bỏ bộ suit văn phòng phẳng phiu đến tội tình, em tìm thấy niềm tin yêu đời và sức sống trở lại bên những lớp dạy Pilates. Em tự tay đập tan xiềng xích giam hãm mình, nương theo dòng chảy của hoa cỏ và hơi thở tự nhiên để chữa lành những thương tổn nội tại. Trong sự vươn lên nhẫn nại ấy, nó nhận ra một sự thật nhẹ nhàng mà phi thường: Cuộc đời chẳng bao giờ dồn ai vào bước đường cùng, miễn là con người ta còn đủ dũng khí để yêu thương và tái sinh từ chính trong cõi tro tàn.

“Chim trời, cá lội bặt tăm”

Thằng nhóc tếu táo ngoái đầu nhìn nó, bất chợt nhếch môi cười một điệu xòa xòa, xua tan cái không khí âm u vốn dĩ dễ manh nha trên chuyến bay dằng dặc.

Nó ngả đầu vào thành ghế bọc da lạnh ngắt, mắt đăm đăm nhìn ra vòm mây trắng xốp đang tan ra ngoài cửa sổ, lòng lại miên man nghĩ về Ng.. – một mảnh ghép gai góc nhưng chan chứa ân tình trong bức tranh nhân sinh nhiều va đập.

Thằng nhóc với nó cứ kè kè suốt một hành trình; như thể giữa một ngày tàn ôn lại, dội về ký ức của ngày nào đứa nhóc rỗn rãng giống mình khi lần đầu bước chân vào showroom phía Đông Sài Gòn rộn rã. Của những gì còn sót lại, là hành trình dặm dài từ đất Nhật trở về đất Việt, tính ra ngót nghét cũng đã gần hai mươi năm.

Hành trình ấy là một chuỗi ngày dài anh em đi cùng nhau, tếu táo sống dưới cái mác "đời sales". Những lần vai sát vai chiến đấu kiệt cùng để chốt cho bằng được một khách hàng, hay gần nhất là ở một đêm tàn của kỳ Workshop F&I đầu tiên, khi hai anh em rong đuổi từ Bình Thuận trở về lại Sài Gòn giữa đêm muộn. Chuyện trò. Thâu đêm. Ghé tạm một quán ăn xập xệ ven đường, nuốt vội từng miếng thức ăn sực mùi khói bụi. Ngoảnh đầu nhìn lại, hóa ra cũng đã hơn 5 năm trôi qua như một cái chớp mắt.

Giờ gặp lại, Ng.. mang trong mình một cuộc tình dở dang, một vết rạn nứt tưởng chừng khó lành của dĩ vãng. Người ta vẫn bảo, đằng sau những điệu cười toe loét thường trực của một kẻ từng trải là vô vàn thương đau được giấu kín vào nếp gấp tâm hồn. Nhưng khi nhìn Ng.., nó lại thấy đó chẳng phải sự giả tạo cố diễn để che đậy, mà là một sự nén chịu kiên cường, một thứ nghị lực âm thầm được tôi luyện qua bao giông bão. Anh em quý nhau, thương nhau cũng chính vì cái chất thật thà, không tráo trở ấy.

Cuộc trò chuyện giữa hai anh em, dù ở góc quán quen sực mùi cà phê đắng hay giữa những chặng bay dằng dặc, vẫn luôn xoay quanh đề tài về hai đứa trẻ của Ng..: một trai, một gái, hai giọt máu nối dài bóng hình cha mẹ. Thời gian trôi qua như bóng ngả qua cửa, hai cuộc đời mầm non ấy giờ đây đã lớn khôn và ngả sang hai hướng hoàn toàn khác biệt.

Thằng nhóc lớn chọn gắn bó với mảnh đất miền Trung Bình Thuận rực nắng, đầy gió và thừa cái vị mặn mòi của biển cả. Nó mang trên mình chiếc áo chức danh “Phó Tổng” khi tuổi đời còn rất trẻ – một cái danh xưng đủ nặng để nhốt bất kỳ ai vào cái "vòng lặp vô thường" của áp lực, toan tính của chốn thương trường. Thế nhưng, mỗi lần gặp lại, thằng nhóc vẫn giữ nguyên điệu cười ngoác miệng, ngông nghênh và vô tư đến lạ kỳ. Nhìn nụ cười sương gió ấy, nó chợt nhận ra một sự thật nhẹ nhàng đến thắt lòng: những thương tổn, đổ vỡ từ quá khứ của thế hệ trước chưa từng có đủ quyền năng để làm biến dạng hay chai sạn trái tim nó.

Thằng nhóc lớn lên, kiêu hãnh và sừng sững như cây đước găm rễ sâu vào lòng đất mẹ. Sự tan vỡ của người lớn, suy cho cùng, chưa bao giờ là cái cớ để người ta tự cho phép mình bôi bẩn lên những ký ức đẹp đẽ đã qua. Khi lòng người biết buông bỏ những oán giận để tìm lại sự thuần khiết của tình yêu thương, thì dù chim trời có bạt gió, cá lội có bặt tăm, những mầm sống vươn lên từ tro tàn vẫn sẽ tự biết cách nở ra những bông hoa rực rỡ nhất dưới ánh mặt trời.

***



“Where have the wind-swept wings vanished in the haze?

The clouds fade into shadow, the fish sink without a trace…”

"It" sat beside the narrow glass window of the Airbus, watching the wandering sky dissolve into soft, cotton-like wisps against the vast expanse of blue. The aircraft had just found its cruising altitude after banking away from Terminal 1, ascending far above Tan Son Nhat Airport.

Below, half-shrouded in clouds, Saigon slowly receded. In its place, the sky yielded a rare moment of stillness—a fleeting release from the suffocating enclosure of the office, away from the dry, withered stacks of files and the relentless, grinding cycle of livelihood. "It" was on a flight to Hue, a ancient, contemplative realm where the F&I (Finance & Insurance) generation of the Toyota network was about to converge.

“If you cannot shine brilliantly, do not stain the canvas further.”

This was no ordinary business trip. Deep within its soul, this was a pilgrimage to gather the scattered fragments of memory, to assemble them piece by piece, and to stand face-to-face with the raw, unvarnished truths of love, resilience, and the quiet courage of letting go.

Love.

"It" shifted in its seat, nudging closer to Tuan L—a sales director weathered by the sun and rain of the bustling, industrial land of Binh Duong.

L today was the father of two children. On a face that had once known the untamed freedom of the open road, deep-set lines had taken root like the carved etchings of time, carrying the heavy maturity and quiet anxieties of a man wearing the invisible yoke of family responsibility. An undeniable fatigue pooled beneath his hollowed eyes—perhaps the toll of chronic, sleepless nights—punctuated by long, startled yawns that followed one another throughout the flight. A startled, weary soul.

Yet, like children reunited after ages apart, they leaned in to reminisce about days gone by. Beneath the steady, rhythmic hum of the jet engines echoing like distant ocean waves, the L of yesterday suddenly rushed back through a few shared memories. The two brothers recalled those wild, reckless road trips, tearing away from Saigon to the coastal breeze of Vung Tau during the uninhibited days of their youth. Back then, their younger selves were like wild grass on open plains—free, rebellious, living under the casual banner of the "sales life." Back then, they lived fully for the primal instinct to earn, to prove themselves, and to leave a mark, utterly unburdened by dry targets or grand titles.

"It" looked at L, then turned its gaze back out the airplane window. Out there, the drift of sky floated casually through the boundless, vacant space, wandering without a care.

Resilience.

Amidst the endless, surging hum of the engines, the two brothers inadvertently mentioned Thuy L—a once radiant and talented girl whose presence was like a splash of spring sunlight across the bustling showroom floor of Eastern Saigon.

Life, however, rarely lays down a bed of roses for fragile souls. After the initial innocence and a succession of jagged life events, Thuy L drifted from the urban core of Saigon all the way to the dust-laden industrial expanse of Binh Duong. From a sales life rising into management, she trekked through distant alleys, handing out promotional flyers still damp with her sweat under the scorching midday heat. The younger sister stood at a painful crossroad: to continue forging ahead on the rising path of a corporate servant, or to step back into the shadows to cradle her two young children. She chose family. The price was a devastating toll on her health, an exhaustion so severe that it ultimately forged an unbreakable resilience within her.

Endless, sleepless nights followed. A draining of vitality so dry and severe that no outsider could ever truly comprehend it. Yet strangely, through the glowing eyes of L as he recounted her story during a reunion night in Saigon, "it" saw no trace of defeat or surrender. Amidst the falling drops of sweat and the heavy anxieties of daily bread, a chance encounter born out of her very physical breakdown opened an entirely new path: Thuy L became a teacher.

Shedding the crisp, painfully stifling office suit, she rediscovered her faith in life and an overflowing, moist vitality beside her Pilates classes. With her own hands, she shattered the iron shackles that had imprisoned her soul, leaning gently into the rhythm of nature and breath to heal her internal wounds. In her quiet, patient resurrection, "it" realized a soft yet extraordinary truth: Life never drives anyone into an absolute dead end, so long as one retains the courage to love and to be reborn from the very ashes of the past.

“The birds of the air, the fish of the sea, vanish without a trace…”

The mischievous younger brother turned around, his lips suddenly curving into an easy, nonchalant grin that effortlessly dissolved the somber haze threatening to settle over the long flight.

"It" rested its head against the cold leather seat, staring intently at the white, fluffy clouds melting outside the window pane. Its mind drifted back to Ng..—a jagged yet deeply affectionate piece in the complex mosaic of human life.

Ng.. had clung to "it" like a shadow throughout the journey; as if amidst the fading daylight of memory, the past echoed back to when that boisterous kid, so much like its younger self, first stepped into the bustling showroom of Eastern Saigon. Of all that remained, it was a long, winding journey from the land of Japan back to Vietnam, spanning nearly two decades.

That journey was a lengthy road traveled together, laughing off the hardships under the banner of the "sales life." There were the side-by-side battles, fighting to the absolute brink to close a client, or most recently, a late-night drive back to Saigon from Binh Thuận after the first F&I Workshop. Talking. Through the night. Stopping by a dilapidated roadside eatery, swallowing down hurried bites smelling faintly of dust and exhaust. Looking back, more than five years had slipped away in the blink of an eye.

Reunited now, Ng.. carried the weight of a broken romance, a jagged scar from the past that seemed impossible to mend. People often say that behind the perpetual, wide grins of a battle-tested soul lie countless hidden heartaches tucked neatly into the folds of the spirit. But looking at Ng.., "it" saw no theatrical pretense or forced performance. It was a stoic endurance, a quiet resilience tempered through relentless storms. The brothers cherished each other precisely for that raw, unvarnished honesty.

Their conversations—whether in a familiar corner cafe rich with the aroma of bitter espresso or across endless flight routes—always revolved around Ng..’s two children: a boy and a girl, two living streams carrying forward the bloodline and shadows of their parents. Time passed like shadows gliding across a doorway; those two young lives had grown up and branched into two completely different directions.

The elder son chose to anchor himself to the sun-drenched, wind-swept land of Binh Thuan in Central Vietnam, steeped in the sharp saltiness of the sea. He carried the title of “Vice President” at a very young age—a weight heavy enough to trap anyone in the dry, endless loop of corporate calculation and pressure. Yet, every time they met, the young man maintained that same wide, unapologetic, and fiercely innocent grin. Looking at that weathered smile, "it" felt a gentle yet poignant realization: the trauma and heartbreaks of the previous generation had never possessed the power to deform or harden his heart.

The young man grew up, proud and towering like a mangrove tree thrusting its roots deep into the nourishment of mother earth. The undoing of adults, in the end, is never an excuse to stain the beautiful memories of the past. When the human heart learns to release resentment and embrace the pure, moist warmth of love, then even if the birds lose their way in the gale and the fish sink without a trace, the sprouts rising from the ashes will always find their way to bloom into the most brilliant flowers beneath the sun.

[Sách] Tiến hóa sáng tạo - Henri Bergson

 

"Thế giới vật chất và quy luật máy móc chỉ là những chướng ngại vật cứng đờ trên con đường tiến bước. Sự sống không phải là một mô hình đã được xếp đặt sẵn; nó là một nhịp xung bứt phá trần trụi, một dòng sinh khí vươn lên bất tận để chiến thắng sự trì trệ của hư vô."

Hoa nở rồi hoa tàn. Thị trường "cắm đầu" lao dốc. Những đồ thị tăng trưởng từng được tô vẽ lóng lánh chốn đô thị giờ đây chao đảo, hoang hoang. Màn hình điện thoại nhấp nháy liên hồi những dòng tin bốc "phốt", những vụ đấu tố rứt rách, xé tạc chiếc mặt nạ dối trá của những kẻ từng tự xưng là đế chế. Ngộ thay. Con người ta ngóng chờ sự thất bại của kẻ tiếp theo sau mình.

Người ta quay cuồng trong những vòng lặp đơn điệu, gồng gánh những lo hãi sa thải hay nỗi hoang mang hoại tử, để rồi rốt cuộc nhận về một cõi lòng cạn kiệt, bợt bạt.

Giữa thinh không ấy, nó tiếp tục tiếp cận một chủ đề của tiến hóa, "Tiến hóa sáng tạo" (L'Évolution créatrice / Creative Evolution) của Henri Bergson. 

Henri Bergson—nhà triết học đoạt giải Nobel với văn phong đẫm tính thơ và sự mẫn cảm tuyệt đối—không viết nên một luận thuyết phân tích xơ cứng, hàn lâm. Bằng thứ ngôn từ giàu nhạc điệu, ngắt câu dứt khoát nhưng cuồn cuộn chiều sâu chiêm nghiệm, Bergson bóc tách sự đối lập giữa hai trường lực: Sự nguội lạnh của vật chất (Matter) và Sức mạnh bứt phá của Dòng sinh khí (Élan Vital).

Bergson nêu rõ: Thuyết tiến hóa cơ học hay thuyết mục đích luận đều phạm phải cùng một sai lầm chết người. Họ coi sự sống như một cỗ máy đã được lắp ghép hoặc một kịch bản đã được viết sẵn từ trước. Nhưng cuộc sống không vận hành như một mô hình tài chính hay một thuật toán tối ưu hóa!

"Sự sống là một xung lực tạo tác không ngơi nghỉ (Élan Vital). Nó đâm thủng mọi khuôn mẫu xơ cứng, đập tan những chướng ngại vật của vật chất thụ động để liên tục kiến tạo nên những hình thái mới trinh nguyên."

Gặp lại tư duy về thời gian sống (Durée) trong "Thời độ và Không độ" , Bergson đã đưa ra lời giải thích rõ hơn về:

  • Trực giác (Intuition): Trí năng (Intellect) chỉ biết đo đếm, phân tích những mảnh vỡ đã chết của quá khứ. Chỉ có Trực giác mới giúp con người dầm mình vào dòng chảy sự sống hiện tại.

Nó khép lại cuốn sách "Tiến hóa sáng tạo" của Henri Bergson. Nhận ra.

Sự sáng tạo phi thường nhất của một đời người không nằm ở những kỳ tích; nó nằm ngay trong khả năng nuôi dưỡng dòng sinh khí để trọn vẹn hiện diện và yêu thương mỗi ngày.

***



"The material world and mechanical laws are but rigid obstacles strewn across the path forward. Life is no prearranged template; it is a raw, surging impulse—an infinite drive of vital force rising up to conquer the inertia of emptiness."

Flowers bloom only to wither. The market plunged headlong into a steep decline. Growth charts once painted so glitteringly across the urban landscape now wobbled and wavered. Phone screens flickered relentlessly with expose threads and bitter public denouncements—tearing to shreds the deceitful masks of those who once proclaimed themselves empires. Strange, indeed. Human beings quietly waited, watching for the failure of the next person in line.

People spun wildly within monotonous loops, carrying the crushing weight of layoff dread or the necrotic panic of decay, only to inherit in the end an exhausted, sickly pale soul.

Amidst that heavy silence, nó continued to approach yet another dimension of evolution: Creative Evolution (L'Évolution créatrice) by Henri Bergson.

Henri Bergson—the Nobel laureate philosopher endowed with a deeply poetic prose style and absolute sensitivity—did not construct a rigid, pedantically academic treatise. Through a cadence rich in rhythm and incisive, measured phrasing that surged with contemplative depth, Bergson dissected the opposition between two forces: the cold inertia of Matter and the breakthrough power of the Vital Impulse (Élan Vital).

Bergson laid it bare: Mechanical evolutionism and finalism both committed the same fatal error. They treated life as an assembled machine or a script written in advance. But life does not operate like a financial model or an optimization algorithm!

"Life is a ceaseless creative impulse (Élan Vital). It pierces through every rigid mold, shattering the obstacles of passive matter to continuously forge untarnished, pristine forms."

Revisiting the concept of lived duration (Durée) from Time and Free Will, Bergson offered a clearer illumination of:

  • Intuition: The intellect (Intellect) merely measures and analyzes the dead fragments of the past. Only Intuition enables human beings to immerse themselves directly within the living current of the present.

Nó closed Creative Evolution by Henri Bergson. A realization dawned.

The most extraordinary creation of a human life resides not in grand feats; it lives right within the capacity to nourish that vital impulse—to be fully present, and to love (yêu thương) each and every day.

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

Nhật ký của cha - Nhạc [Dad's diary - The First Batch]




Ông già khép bớt cánh cửa ban công tầng thượng, nhấp ngụm cà phê phin đã nguội ngơ nguội ngắt. Chiều Sài Gòn hôm nay ngộ lắm. Bầu trời trên cao bị vắt kiệt nắng, khoác lên mình tấm áo xám xịt, xù xì như mặt lưng của một con cá voi cổ đại đang trôi dạt giữa đại dương không trọng lực, báo hiệu một trận mưa giông mùa này sắp trút xuống lòng phố. Nhưng trái ngược hoàn toàn với cái vẻ đe dọa, nặng trịch của vũ trụ bao la ngoài kia, góc bếp nhỏ dưới nhà ông già lại ấm sực, sáng rực ánh đèn vàng và thơm nức nở mùi bơ đường nướng chín.

Đó là nơi thằng nhóc Merci – cậu con trai lớn từ hội hoa chuyện sang nghiện nấu ăn và dạt dào tình cảm của ông già – đang chủ trì cho sự ra đời của mẻ bánh cookie đầu tiên trong đời.

Mẻ Bánh Đầu Tiên

Nói về cái nết ăn, nết nấu của thằng nhóc Merci thì phải ngược dòng thời gian một chút. Chẳng biết cái sự thay đổi sở thích này từ đâu ra. Thích thì chìu. Ông già lặn lội theo chia sẻ từ bạn bè, lùng sục từ hang cùng, ngỏ hẻm, những món ăn ngon, lạ để cho một chú nhóc của ông già tìm hiểu thêm về sắc, hương, vị. Trầm trồ. Chiêm nghiệm ra điều chuyên gia. Ông già nhớ của những ráng chiều nơi quê cũ, tìm tòi những món quê, hay những trưa trời hửng nắng, ngất ngư với những hương vị từ các nước tràn về một Sài phố.

Từ mấy xe bánh mì nướng bơ tỏi lề đường bùng nhùng khói bụi, mấy gánh bánh bò, bánh đúc truyền thống đậm chất Nam Bộ nơi góc chợ cũ, cho tới những tiệm bakery chuẩn Pháp sang chảnh đắt đỏ nằm nép mình dưới bóng các tòa nhà cao tầng quận 1. Ông già muốn Merci được nếm, được ngửi, được cảm nhận cái tinh túy của ẩm thực từ bánh Ta cho tới bánh Tây, để con hiểu rằng món ăn ngon không nằm ở cái giá tiền, mà nằm ở cái chất của người làm ra nó.

Đêm qua, Sài Gòn rỉ rả mưa như thút thít vì tủi thân, giận một nổi chẳng ai chịu hiểu mình. Thằng nhóc Merci, cứ đứng ngồi không yên, ánh mắt van lơn nhìn ông già: "Ba ơi, mai cuối tuần rồi, mình đi mua nguyên liệu làm bánh đi ba!". Ông già và thằng nhóc, chở nhau trên chiếc xe máy cà tàng, lao vào cơn mưa của Sài Gòn thút thít đó. 

Bếp Bánh chào đón hai cha con. Thằng nhóc Merci nâng niu từng túi bột mì số 11, từng thỏi bơ Anchor thơm phức, hạt chocolate chip nhỏ xíu cho tới cái phới lồng đánh trứng bằng inox bóng loáng. Danh sách đã được soạn sẵn trong đầu trước khi đi.

Nhìn cái nét mặt hân hoan, rạng rỡ của con dưới ánh đèn neon giữa đêm mưa rỉ rả, ông già thấy lòng mình ấm lạ. Sự hồn nhiên của con trẻ mang đến những nụ cười tự nhiên, ngơ ngác và chân thật nhất. Nó khác xa với mấy cái clip dàn dựng tấu hài ồn ào, gượng gạo trên mạng xã hội – nơi người ta cố tạo tình huống để câu vài cái click ảo. 

Cuối tuần, căn nhà trong hẻm cụt. Rộn ràng và tếu táo. 

Cả nhà quây quần trong căn bếp nhỏ ngày cuối tuần. Đó là một khung cảnh nháo nhiệt nhưng ngập tràn hạnh phúc.

Công đoạn làm bánh cookie bắt đầu bằng việc Merci cẩn thận dùng rây lọc lại bột mì cho thật mịn. Em – mẹ của đám nhỏ – đứng bên cạnh trợ xướng, hướng dẫn Merci cách tán bơ nhạt ở nhiệt độ phòng với đường nâu và đường trắng. Tiếng máy đánh trứng kêu "rè rè" rộn rã. Thằng nhóc Lavie thì phụ trách việc đập và tách trứng, nhưng vụng về thế nào làm văng cả lòng trắng ra bàn, có cô em gái Julie cũng lăng xăng tham gia tạo hình chiếc bánh ở quanh bàn.

Nấu nướng là công việc cần nhẫn nại. Ông già thấy có quá nhiều khâu, công đoạn, Merci nhẫn nại vô cùng. Thằng nhóc không hề nổi giận khi em làm hỏng hay quấy rầy. Ngược lại, nó vừa khéo léo gạt tay em ra vừa vỗ vai: "Julie ngoan, đợi anh Merci trộn bột xong rồi cho Julie nặn hình con giun nha!". Khi hỗn hợp bột, bơ, trứng và chocolate hòa quyện thành một khối mềm mịn, Merci dùng chiếc muỗng múc từng viên bột tròn xoe đặt lên khay đã lót sẵn giấy nướng.

Khay bánh được đưa vào lò. Trong lúc chờ đợi, cả nhà ngồi quanh chiếc bàn ăn. Qua lớp cửa kính của lò nướng, những viên bột bắt đầu nở xòe ra, bơ chảy tràn tỏa ra một mùi thơm ngọt ngào, béo ngậy lấp đầy căn nhà. Khi tiếng "ting" vang lên, mẻ bánh cookie đầu tiên ra lò, vàng ươm, giòn rụm ngoài vỏ nhưng mềm dẻo bên trong. Thằng nhóc Merci hào hứng chia cho từng người, đôi mắt sáng rực niềm tự hào. Thơm ngạt ngào, hồn lơ lửng bay.

Giấc Mơ con

Khi cái giòn tan của mẻ bánh nổ lách tách trong miệng, thằng nhóc Merci bắt đầu bộc bạch những suy nghĩ bên trong cái đầu nhỏ nhắn nhưng chứa đầy những hoài bão bao la của mình.

Thời gian gần đây, ông già thấy thằng nhóc thường trao đổi với nhau một chủ đề chung: nơi nào dạy nấu ăn. 

Lụm khụm, ông già săn lùng thông tin về mấy ngôi trường high school cho tới đại học quốc tế, tìm miết chẳng đâu, quẩn quanh vẫn là ở mãnh đất nhà có vài cộng đồng dựng xây trên facebook. Phong phanh đâu đó, ông già cũng tự mình đi tìm hiểu. Nghe người ta đồn về mấy festival ẩm thực của các chef danh tiếng diễn ra ở Úc hàng năm, ông già lại lò mò lên trang web của họ, đọc từng thủ tục, xem xét điều kiện đăng ký, thầm chuẩn bị cho con một bệ phóng nếu mai này con cần.

Thụy Sĩ – vùng đất của những dãy núi tuyết hùng vĩ và những học viện quản lý khách sạn, ẩm thực danh tiếng thế giới – là địa điểm thằng nhóc tự tìm thấy trên mạng. "Ông già ơi, trường này có lò nướng bự lắm, người ta dạy mình làm từ bánh mì đen cho tới pastry cao cấp luôn đó, đi học cũng có lương!" – Merci chia sẻ thông tin mình tìm kiếm.

Gật gù, ông già tự rà lại mạng lưới bạn bè, dặn lòng sẽ tìm thêm để cung cấp cho một cánh chim gần như sẵn sàng cần được “chấp cánh” bay đến một chân trời mới, nơi cảm thấy yêu thích, thỏa sức với đam mê. 

Giấc mơ con. Thằng nhóc tâm sự sau này lớn lên sẽ mở được một chuỗi nhà hàng của riêng mình. "Ít nhất phải mười cái nha ông già!" – Thằng nhóc nói khi ngồi sau yên xe, gió bạt lời. "Còn nếu không mở được chuỗi nhà hàng, thì con sẽ đi làm công. Nhưng con phải quan trọng với người sếp".

Lặng im. Hai từ "gánh vác" và "giá trị" thoảng qua đầu ông già, hệt như một trendy mà giới trẻ bây giờ ngán ngẩm, chẳng thiết tha chạy theo trên các nền tảng truyền thông để khẳng định bản thân trước áp lực thay đổi. Tự hỏi, liệu mình đủ lớn để giải thích đủ đầy, liệu đủ sâu để giải thích cho trẻ hiểu? 

Rồi thằng nhóc cứ thế tiếp tục câu chuyện của riêng mình, tự thoại, bắt đầu dùng mệnh đề "nếu... thì" – cái mệnh đề chứa đựng tất cả những giả định tươi đẹp của tuổi thơ:

"Nếu sau này con làm bếp trưởng, kiếm được thiệt là nhiều tiền... thì con sẽ không chỉ mua nhà cho ba mẹ đâu. Con sẽ mở một ngôi trường đặc biệt, một ngôi trường không có chấm điểm, không có áp lực thi cử, để ai thích nấu ăn thì vô học nấu ăn, ai thích vẽ thì vô vẽ như Julie, ai thích đá banh thì vô tập đá banh như Lavie. Một ngôi trường mà ai cũng có thể học những điều mình thích!"

Tự dưng, ông già nhớ tới hình ảnh Totto-chan bên cửa sổ và thầy hiệu trưởng Kobayashi – người đã làm được điều đấy... trên trang sách. Sách viết về đời hiếm khi, và sách viết về điều chưa với tới. Lời nói ngô nghê của Merci khiến ông già sững người. Một hành trình dài rồi sẽ trôi đi, thằng nhóc rồi sẽ lớn, sẽ bước ra khỏi tổ ấm nhỏ bé để đối mặt với sóng gió đời người. 

Bầu trời ngoài cửa sổ sau trận mưa giông cuối cùng cũng chuyển mình. Mảng mây đen xám xịt tan ra, nhường chỗ cho vệt hoàng hôn rực rỡ sắc cam hồng trải dài trên những mái nhà Sài Gòn. Khung cảnh đối nghịch giữa sự u tối lúc ban chiều và nét rạng ngời hiện tại hệt như tâm trạng ông già: mọi muộn phiền, lo âu về tương lai đã bị xua tan bởi ước mơ trong sáng của đứa con trai.

Merci nhét miếng bánh cookie còn ấm nóng vào tay ông già: "Bánh giòn không ba? Ngon hơn tiệm mình mua tuần trước không?".

Cắn một ngụm, vị ngọt thanh của đường nâu, vị béo ngậy của bơ và chút đắng nhẹ của chocolate hòa quyện lan tỏa trên đầu lưỡi, ông già xưng tụng: "Ngon xuất sắc!".

Ông già khép cuốn nhật ký lại, lòng tràn ngập niềm yêu đời phơi phới. Cuộc sống dù áp lực hay biến động, chỉ cần nhìn các con lớn lên hồn nhiên, biết yêu thương và mơ những giấc mơ tử tế, thì với ông già, đó đã là điều viên mãn nhất.

Chẳng mong giấc mơ con đè nát cuộc đời con.

***

The old man partially closed the rooftop balcony door, taking a sip of his stone-cold drip coffee. Saigon this afternoon was quite strange. The sky above had been squeezed dry of sunlight, wearing a dark gray coat, rough like the back of an ancient whale drifting through a zero-gravity ocean, signaling a seasonal thunderstorm about to pour down on the streets below. Yet in stark contrast to the heavy, threatening look of the vast universe outside, the small kitchen downstairs was cozy, warmly lit with yellow lights, and filled with the intoxicating aroma of baked butter and sugar.

That was where the kid Merci—the old man's eldest boy who had switched from drawing to an addiction for cooking, overflowing with affection—was presiding over the birth of the very first batch of cookies in his life.

The First Batch

Talking about the kid Merci's appetite and passion for cooking requires rewinding time a bit. Where this shift in interest came from, nobody knew. If he liked it, the old man humored him. The old man trudged along based on tips from friends, scouring every hidden alley and corner for delicious, unique dishes so his little boy could learn more about color, aroma, and flavor. Awestruck. Reflecting like an expert. The old man recalled late afternoon glows in his old hometown, searching for rustic dishes, or bright sunny middays dazed by flavors pouring into Saigon from all over the world.

From roadside garlic butter bread carts swirling with dust and smoke, traditional Southern bánh bò and bánh đúc stalls in the old market corners, to pricey, fancy French bakeries tucked beneath the shadows of District 1’s high-rises. The old man wanted Merci to taste, smell, and feel the essence of cuisine, from Eastern pastries to Western baked goods, so the child would understand that delicious food lies not in the price tag, but in the soul of the person who makes it.

Last night, Saigon dripped with rain as if whimpering out of self-pity, upset that no one understood it. The kid Merci was restless, his eyes pleading as he looked at the old man: "Dad, tomorrow is the weekend, let's go buy baking ingredients, Dad!" The old man and the kid hopped on their battered old motorbike, riding straight into that whimpering Saigon rain.

The baking supply shop welcomed father and son. The kid Merci cherished every bag of No. 11 flour, every block of fragrant Anchor butter, tiny chocolate chips, down to the shiny stainless steel balloon whisk. The list had been prepared in his head before heading out.

Looking at the joyful, radiant expression on his child's face under the neon lights amidst the drizzling night rain, the old man felt his heart warm up strangely. The innocence of children brings the most natural, unpretentious, and genuine smiles. It was a world away from those loud, forced comedy clips staged on social media—where people try to manufacture situations just to bait a few virtual clicks.

Weekend in a dead-end alley. Lively and playful.

The whole family gathered in the small kitchen over the weekend. It was a bustling yet deeply happy scene.

The cookie-making process began with Merci carefully sifting the flour until it was extra fine. Em—the mother of the kids—stood beside him as an assistant, guiding Merci on how to cream room-temperature unsalted butter with brown and white sugar. The electric mixer hummed cheerfully. The kid Lavie was in charge of cracking and separating eggs, but clumsily managed to splash egg whites all over the table, while little sister Julie bustled around joining in to shape the dough around the table.

Cooking is a job that demands patience. Seeing so many steps and stages, the old man realized Merci was remarkably patient. The kid didn't get angry at all when his siblings messed up or bothered him. On the contrary, he gently pushed his sister's hand away while patting her shoulder: "Be a good girl, Julie. Wait until Brother Merci finishes mixing the dough, then I'll let you shape a little worm, okay!" Once the mixture of flour, butter, eggs, and chocolate blended into a smooth dough, Merci used a spoon to scoop round balls onto a baking tray lined with parchment paper.

The tray went into the oven. While waiting, the whole family sat around the dining table. Through the oven's glass door, the dough balls began to spread out, the melting butter releasing a sweet, rich aroma that filled the entire house. When the "ding" sounded, the first batch of cookies came out of the oven, golden brown, crispy on the outside yet soft and chewy inside. The kid Merci excitedly shared them with everyone, his eyes glowing with pride. A rich, sweet fragrance filled the air, leaving souls floating with delight.

A Child's Dream

As the crunch of the cookies crackled in their mouths, the kid Merci began to open up about the thoughts inside his small head, which was packed with vast ambitions.

Lately, the old man noticed the kid frequently bringing up a common topic: where to learn cooking.

Trudging along, the old man scoured for information on high schools up to international universities, searching endlessly to no avail, revolving mostly around a few Facebook community groups back home. Hearing rumors here and there, the old man also looked into things himself. Hearing about annual food festivals featuring famous chefs in Australia, the old man blindly navigated their websites, reading every procedure and checking registration requirements, secretly preparing a launching pad for his child should he ever need it in the future.

Switzerland—a land of majestic snowy mountains and world-renowned hospitality and culinary institutes—was a location the kid found on the internet by himself. "Dad, this school has a huge oven! They teach everything from dark rye bread to high-end pastries, and you even get paid while studying!" Merci shared the information he found.

Nodding, the old man privately reviewed his own network of friends, promising himself to look further to provide for a pair of wings that were nearly ready to soar toward a new horizon—a place where the kid could enjoy and indulge his passion.

A child's dream. The kid confided that when he grows up, he wants to open his own chain of restaurants. "At least ten of them, Dad!" the kid said while sitting behind the motorbike seat, his words carried away by the wind. "And if I can't open a restaurant chain, I'll work for someone else. But I have to be important to my boss."

Silence. The words "shoulder responsibility" and "value" drifted through the old man's mind, much like a trend that today's youth grow weary of, lacking interest or care to chase on media platforms just to assert themselves under the pressure of change. The old man wondered: Is he big enough to explain it fully, deep enough to explain it thoroughly for a child to understand?

Then the kid simply carried on with his own story, monologuing, starting to use the "if... then" clause—the clause holding all the beautiful assumptions of childhood:

"If I become a head chef later and make a ton of money... I won't just buy a house for Mom and Dad. I'm going to open a special school—a school with no grades, no pressure from exams. Whoever likes cooking can come learn cooking, whoever likes drawing can draw like Julie, and whoever likes soccer can practice soccer like Lavie. A school where everyone can learn what they love!"

Out of nowhere, the old man recalled the image of Totto-Chan: The Little Girl at the Window and Headmaster Kobayashi—a man who actually accomplished that... on the pages of a book. Books rarely write about real life, and books write about things yet reached. The kid Merci's naive words left the old man stunned. A long journey will eventually pass; his little boy will grow up and step out of this small nest to face the storms of life.

The sky outside the window finally transformed after the thunderstorm. The dark gray clouds dispersed, giving way to a brilliant orange-pink sunset stretching across Saigon's rooftops. The contrasting scene between the earlier gloomy afternoon and the current radiance mirrored the old man's mood: all worries and anxieties about the future were swept away by his son's pure dream.

Merci pushed a still-warm cookie into the old man's hand: "Is it crunchy, Dad? Is it better than the shop-bought ones from last week?"

Taking a bite, the subtle sweetness of brown sugar, the richness of butter, and a hint of dark chocolate blended and melted on his tongue. The old man praised him: "Utterly delicious!"

The old man closed his diary, his heart brimming with a buoyant love for life. No matter how pressurized or unpredictable life gets, as long as he sees his children growing up innocently, knowing how to love and dreaming decent dreams, for the old man, that is already the most fulfilling thing of all.

May a child's dream never crush a child's life.



Thứ Ba, 8 tháng 9, 2026

[Sách] Triết học Phật giáo Ấn Độ - Amber D. Carpenter


 "Bản ngã không phải là một thực thể kiên cố đứng vững trước thời gian. Nó chỉ là một chuỗi liên tục của những khoảnh khắc sinh diệt, một dòng chảy thẩm thấu nơi nỗi đau xuất hiện khi ta cố bám chấp vào những ảo ảnh hữu hình."

"Sách về Phật giáo!? Đọc xong anh cho em mượn."

Thằng nhóc ngồi kế bên bất ngờ chồm sang, ánh mắt tò mò xoáy vào trang sách đang mở.

"Chơi chán rồi à? Giờ muốn tu?" Nó ngẩng mặt lên nhìn và hỏi. Đó là lúc nó đang chiêm nghiệm dở dang công trình nghiên cứu chuyên sâu "Triết học Phật giáo Ấn Độ" (Indian Buddhist Philosophy) của học giả Amber D. Carpenter. Ngoảnh sang, nhìn gương mặt trẻ mẫn cảm nhưng chưa kinh qua phong sương của cậu thanh niên, nó rù rì khái quát sơ qua về khối lý thuyết hàn lâm nặng trịch. Khuôn mặt thằng nhóc lập tức tẻn tò, sự hăng hái ban đầu xẹp xuống như một bong bóng xà phòng vỡ tan

"Có sách nào tương tự dễ nuốt hơn không anh, cho em mượn?"—Thằng nhóc tếu táo, nhe cái răng khểnh ra cười, xua đi cái không khí nghiêm trọng vội vã. Đứa nhóc ngổ ngáo ngày nào giờ cứ tíu tít với nó mỗi ngày. Thênh thang.

Nó thấy lòng bất giác mềm lại.

"‘Đường xưa mây trắng’ của Thích Nhất Hạnh. Anh tặng, chứ không cho mượn."

Nó trả lời thằng nhóc, giọng trầm dịu. Sài Gòn ngoài vách kính phủ những vệt nắng lưa thưa chiều thu. Nó cũng lặng lẽ thu mình quay trở về với khoảng lặng chiêm nghiệm của riêng mình.

Amber D. Carpenter—chuyên gia triết học cổ điển với góc nhìn mẫn cảm và tư duy sắc lạnh—không biến triết học Phật giáo thành những lời kinh tụng huyền bí hay thứ lý thuyết giáo điều xa rời đời sống. Bằng một cách kể tổng quan và sâu, Carpenter như giới thiệu đến nó một công trình dựa trên hệ thống tư duy từ Đạt-ma (Dharma), Tỳ-bà-sa (Vaibhāṣika), Trung quán tông (Mādhyamaka) của Long Thọ (Nāgārjuna) cho đến Duy thức tông (Yogācāra).

Carpenter chạm vào, sẻ chia một thực tế: Khổ đau (Dukkha) không tự nhiên sinh ra. Nó bắt nguồn từ rối reng của tâm trí khi cố dựng lên một cái "Tôi" cố định, vĩnh cữu (Ātman) và cố bám chấp vào nó.

"Chúng ta đau khổ vì chúng ta lầm tưởng bản thân mình là một pháo đài bất biến. Nhưng Phật giáo Ấn Độ chứng minh rằng: Cái 'Tôi' ấy chỉ là một cấu trúc ảo giác được ghép lại từ năm căn tố (Ngũ uẩn). Khi ta nhận ra tính Vô ngã (Anattā) và Duyên khởi (Pratītyasamutpāda), chiếc hộp giam cầm tâm trí sẽ tự động sụp đổ."

Xâu chuỗi với tư duy của Henri Bergson về thời gian sống (Durée) trong "Thời độ và Không độ", Carpenter giúp nó thấu hiểu sự giải phóng nội tại:

  • Bản Ngã: Khi con người ta quá bám chấp vào chức danh, tài sản hay các thước đo ngáo giá (Valuation), họ tự biến mình thành những bức tượng thạch cao vô hồn. Nhận thức được tính Vô thường (Anicca) không phải là sự buông xuôi tiêu cực, mà là nhát cắt dứt khoát giải phóng ta khỏi áp lực phải thành công bằng mọi giá.

  • Duyên khởi: Khi nhận ra mọi thực thể đều tồn tại dựa trên sự tương thuộc (Duyên khởi), con người sẽ rũ bỏ thói quen định giá người khác bằng thước đo vị lợi. Ta biết dũng cảm hạ mình xuống, bước vào thế giới của người khác với tình yêu thương trinh nguyên—hệt như cách bộ ba tác giả Rogers, Dawson và Vismara can thiệp cho trẻ tự kỷ trong "An Early Start for Your Child with Autism".

Hóa ra, cõi Niết-bàn hay sự giải thoát sâu xa nhất không nằm ở chốn xa xôi; nó nằm ngay trong khoảnh khắc ta biết buông bỏ bản ngã để trọn vẹn hiện diện và yêu thương.

***



"The ego is not a solid entity standing resilient against time. It is merely a continuous chain of arising and passing moments, an osmotic stream where suffering emerges only when we desperately cling to tangible illusions."

"A book on Buddhism!? When you're done reading, lend it to me."

The young kid sitting right next to it suddenly leaned over, his curious eyes locking onto the open page.

"Done playing around now? Want to become a monk?" Nó looked up, locking eyes as it asked.

That was when nó was mid-contemplation, immersed in the rigorous analytical work Indian Buddhist Philosophy by scholar Amber D. Carpenter. Turning sideways, taking in the young, sensitive face—one still untouched by the harsh winds of time—nó softly offered a brief overview of the heavy academic doctrine. The kid’s face instantly fell sheepish, his initial eagerness deflating like a popped soap bubble.

"Is there anything similar that's a bit easier to digest, man? Lend me that instead?" The kid joked, flashing a crooked tooth as he laughed, instantly sweeping away the sudden, heavy air. The once unruly kid who used to be a handful now chattered endlessly with nó every single day. Unbounded. Vast.

Nó felt its heart unexpectedly soften.

"‘Old Path White Clouds’ (Đường xưa mây trắng) by Thích Nhất Hạnh. I'm gifting it to you, not lending it."

Nó answered the kid, its voice low and gentle. Outside the glass pane, Saigon was dusted with the sparse, scattered sunlight of late autumn. Quietly, nó withdrew once more into the stillness of its own internal reflection.

Amber D. Carpenter—a specialist in classical philosophy with a sensitive lens and a razor-sharp mind—does not reduce Buddhist philosophy to mystical chants or dogmatic theories detached from real life. Through a sweeping yet profound narrative, Carpenter introduced nó to a monumental architecture built upon a structural continuum of thought: from Dharma, Vaibhāṣika, Nāgārjuna’s Mādhyamaka, all the way to Yogācāra.

Carpenter touched upon an unvarnished reality: Suffering (Dukkha) does not arise out of nowhere. It springs directly from the mind’s tangled restlessness when it attempts to erect a fixed, permanent self (Ātman) and desperately clings to it.

"We suffer because we mistakenly believe ourselves to be an unyielding fortress. But Indian Buddhism proves that this 'Self' is merely an illusory construct assembled from five fleeting aggregates (Skandhas). The moment we recognize the nature of Non-Self (Anattā) and Interdependent Co-Arising (Pratītyasamutpāda), the box imprisoning the mind shatters automatically."

Interweaving this with Henri Bergson’s notion of lived time (Durée) in Time and Free Will (Thời độ và Không độ), Carpenter helped nó comprehend internal liberation across two decisive incisions:

  • The Incision of Non-Self: When human beings cling obsessively to job titles, wealth, or inflated valuation metrics (Valuation), they reduce themselves to lifeless, bone-dry (khô khốc) plaster statues. Realizing Impermanence (Anicca) is not a passive surrender, but a decisive cut freeing us from the crushing pressure to achieve or prove ourselves at all costs.

  • The Incision of Interdependent Co-Arising: When we realize every entity exists solely through mutual interdependence, we cast aside the habit of pricing human beings through a utilitarian lens. We find the courage to lower ourselves, stepping into another’s world with pure empathy (Omoiyari)—just as the trio of authors Rogers, Dawson, and Vismara established a framework of compassionate intervention for autistic children in An Early Start for Your Child with Autism.

As it turns out, Nirvana or the deepest form of liberation does not reside in some distant, faraway realm; it lives right within the quiet moment we learn to surrender the ego, so that we may be fully present, and love (yêu thương).

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2026

[Sách] Võ Văn Kiệt - Trí Tuệ và Sáng Tạo - Hoàng Lại Giang


 

"Lịch sử không ghi nhận những gã trung dung an an toàn toàn trong cái hộp quy chuẩn. Lịch sử khắc tên những con người dũng cảm xé rào, dám chịu trách nhiệm trước nhân dân để đưa cả một dân tộc bước qua vực thẫm hoại tử."

Nhớ. Trời tháng Chín. Những ngày đầu nhập học năm ấy, phố xá xao động dưới tán lá chuyển mùa. Nó lửng thửng quay trở lại lớp học thì đột ngột nghe tiếng chị thốt lên nghiệt ngã: "Ông Kiệt mất rồi!"

Tiếng đồn lan nhanh như vệt dầu loang. Một chuyến chuyên cơ cấp cứu từ Việt Nam bay cấp tập sang Singapore, nhưng không thể cứu chữa được nữa. Tin tức ban đầu bị chôn vùi trong sự lặng đi của thời cuộc, để rồi sau đó toàn quốc xác định và chuẩn bị cho một Quốc tang—ngày một tượng đài kiên cường chính thức nằm xuống.

Một người đói hiểu về cách đói. Em gái Hà Nội, tiếp tục gửi những quyển sách, để nó có cơ hội ngược dòng về lại, xắn quần lên lội bùn dính chặt vào thịt da, về lại vùng đất Mang Thít, Vĩnh Long—nơi cù lao sông Cổ Chiên bồi đắp phù sa thô mộc, nơi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (bác Sáu Dân) cất tiếng khóc chào đời, để rồi trong tiếng gọi của đồng bào đó, của một thời kỳ bao cấp hoang mỏng—nơi đứa trẻ ngô nghê nhận ra một lời thề, một lý tưởng của Cách Mạng, bản lĩnh của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (bác Sáu Dân) hiện lên như một nhát cắt dứt khoát, xé tan gông cùm tư duy lối cũ để cứu đói cho hàng triệu con người. 

Nó hiểu hơn chút về ông, người lính biệt động thành của người tình tóc bạc. 

Nó lặng lẽ ngồi cùng, lắng nghe những chí sĩ Cách mạng dạn dày kinh nghiệm như Trần Văn Trà, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, Võ Trần Chí, Trần Quốc Hoàn... cùng bàn thảo những quyết sách sinh tử giữa trùng khơi bom đạn.

Hòa bình. Cái giá của hòa bình cũng nghiệt ngã, 

Cuốn sách của Hoàng Lại Giang như dẫn dắt nó quay về những năm tháng tăm tối của thập niên 1970 - 1980: khi nền kinh tế rơi vào hoại tử, gạo không đủ ăn, nhà máy chết đứng vì thiếu nguyên liệu, và tư duy giáo điều bao cấp bóp nghẹt mọi sức sống. Giữa cỗ máy quản lý quan liêu, cứng nhắc ấy, Bí thư Thành ủy TPHCM Võ Văn Kiệt đã chọn một lối đi nghiệt ngã: Thà đi tù chứ không để dân đói.

"Nếu cứ làm đúng quy trình xơ cứng mà dân không có gạo ăn, nhà máy phải đóng cửa, thì quy trình đó chính là tội ác. Phải xé rào. Phải đi trước một bước để cứu dân!"

Nó lại được dịp ngồi xuống bàn trà; chứng kiến ông Sáu Dân gặp gỡ, lắng nghe "Nhóm Thứ Sáu"—những trí thức đương thời như Nguyễn Xuân Oánh, Lâm Minh Chiết, Phan Chánh Dưỡng, Đỗ Lộc, Trần Bá Lộc... những con người từng ở bên kia chiến tuyến nhưng được ông trân trọng, tham vấn về kinh tế của một quốc gia. Hai chiến tuyến, một màu da và một con đường duy nhất để dựng xây trở lại. Tất cả đều bắt đầu bằng sự lắng nghe.

  • Quyết định "Gom lúa cứu dân" và tư duy thị trường bùng nổ: ông cho bung sản xuất, bù giá vào lương, cử cán bộ xuống miền Tây thu mua lúa theo giá thị trường để đưa về cứu nguy cho hàng triệu người dân Sài Gòn đang đứt bữa. Sau này, chính tư duy "xé rào" ấy đã trao trọn niềm tin cho các nhà khoa học để dựng nên công trình Đường dây 500kV Bắc - Nam lịch sử hay đào kênh T6 khai mở Đồng Tháp Mười, thoát lũ ra biển Tây.

  •  Ông trao niềm tin cho các trí thức, các nhà khoa học—những con người từng ở bên kia chiến tuyến—để cùng xây dựng công trình Đường dây 500kV Bắc - Nam hay đào kênh T6 thoát lũ ra biển Tây.

  • Trí tuệ Sáng tạo từ Cội nguồn: Tư duy đổi mới của Võ Văn Kiệt không xuất phát từ những lý thuyết viễn xứ xơ cứng, mà được tắm mát từ dòng chảy sông nước Cửu Long, từ lòng dân thô mộc và khát vọng tự chủ của dải đất Nam Bộ.

  • Mọi trí tuệ hay sự sáng tạo vĩ đại nhất, suy cho cùng cũng chỉ để phụng sự cho con người, trả lại sự bình an cho nhân dân và nuôi dưỡng tình yêu thương đối với cội nguồn.

Nó dừng lại hành trình cùng ông Sáu Dân giữa một trời Sài Gòn rợp cờ đỏ tung bay. Không khí rạo rực của ngày Tết Độc Lập bừng lên trên từng con phố. Ngoảnh mặt, mây trời bạt gió, tự hỏi: có ông ở đó không, người lính biệt động thành ở một ngày Độc Lập? 

***


"History keeps no record of middle-of-the-road men playing it safe inside standard boxes. History inscribes the names of those brave enough to tear down fences, daring to answer directly to the people in order to lead an entire nation across a necrotic abyss."

Remember. September weather. Those first days of the new school year, the city streets stirring beneath a canopy of shifting leaves. It was ambling back toward the classroom when its sister’s harsh exclamation suddenly shattered the air: "Mr. Kiệt is gone!"

Rumors spread like a dark oil spill. An emergency air-evacuation flight from Vietnam had raced to Singapore, but healing was beyond reach. Initial news was buried in the heavy stillness of the times, before the entire nation acknowledged the loss and prepared for a State Funeral—the day a formidable monument officially laid down to rest.

Only one who knows hunger truly comprehends hunger. A sister from Hanoi kept sending books, giving it the chance to journey backward in time—rolling up its trousers to wade into mud clinging tight to bare skin, returning to the land of Mang Thít, Vĩnh Long. There, on the island reaches of the Cổ Chiên River, raw alluvial silt accumulates; there, the late Prime Minister Võ Văn Kiệt (Uncle Sáu Dân) uttered his first cry upon entering the world. Amidst the cries of his compatriots during the fragile, desolate era of the subsidy economy, a naive child realized an oath, a Revolutionary ideal: the resolve of late Prime Minister Võ Văn Kiệt materialized like a decisive incision, tearing apart the shackles of obsolete thinking to save millions from starvation. Nó understood him a little better then—the urban commando soldier of the silver-haired lover.

IT sat silently alongside him, listening to seasoned Revolutionary patriots like Trần Văn Trà, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, Võ Trần Chí, Trần Quốc Hoàn... as they deliberated life-and-death decisions amidst the vast expanse of bomb fire and warfare.

Peace arrived. Yet the price of peace was no less brutal.

Hoàng Lại Giang’s book guided it back into the dark decades of the 1970s and 1980s: when the economy suffered necrotic collapse, rice was scarce, factories ground to a halt for lack of raw materials, and rigid, dogmatic subsidy thinking suffocated every spark of life. Amidst that bureaucratic, bone-dry administrative machine, Saigon Party Secretary Võ Văn Kiệt chose a harrowing path: Better to go to prison than to let the people starve.

"If following rigid rules leaves the people without rice and forces factories to close, then those rules are a crime. We must break through the fence. We must take a step ahead to save our people!"

It found itself sitting once more at the tea table, witnessing Uncle Sáu Dân meet and listen to the "Friday Group"—contemporary intellectuals like Nguyễn Xuân Oánh, Lâm Minh Chiết, Phan Chánh Dưỡng, Đỗ Lộc, Trần Bá Lộc... individuals who once stood on the opposite side of the battle line, yet were respected and consulted on the nation's economic architecture. Two former battlefronts, one shared skin color, and a single path toward reconstruction. Everything began with the act of listening.

The decision to "Gather Grain to Save the People" and the explosion of market logic: he unleashed production, adjusted wages to offset prices, and dispatched cadres to the Mekong Delta to purchase rice at market rates, bringing it back to rescue millions of Saigon residents facing missed meals. Later, that very fence-breaking mindset bestowed complete trust upon scientists to construct the historic 500kV North-South power line and dredge the T6 canal to drain floodwaters into the West Sea.

He placed his trust in intellectuals and scientists—those who had once stood on the opposite side of the battle line—to jointly erect the historic 500kV North-South grid and carve the T6 canal draining floods out toward the West Sea.

Rooted Creative Wisdom: Võ Văn Kiệt's reformist mindset did not spring from rigid, imported theories; it was cleansed and nurtured by the damp currents of the Mekong, by the unvarnished heart of the people, and by the yearning for self-sovereignty across the Southern land.

All great wisdom or creation, in the final analysis, exists solely to serve humanity, to restore peace to the people, and to nourish an enduring love for one's roots.

It paused its journey alongside Uncle Sáu Dân beneath a Saigon sky draped in fluttering red flags. The fervent atmosphere of Independence Day erupted across every street corner. Turning its face to the vast, wind-swept clouds, it wondered silently: Are you there, urban commando soldier, on this day of Independence?

[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...