Chiến Phan

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

Nhật ký của cha - Nhạc [Dad's diary - The First Batch]




Ông già khép bớt cánh cửa ban công tầng thượng, nhấp ngụm cà phê phin đã nguội ngơ nguội ngắt. Chiều Sài Gòn hôm nay ngộ lắm. Bầu trời trên cao bị vắt kiệt nắng, khoác lên mình tấm áo xám xịt, xù xì như mặt lưng của một con cá voi cổ đại đang trôi dạt giữa đại dương không trọng lực, báo hiệu một trận mưa giông mùa này sắp trút xuống lòng phố. Nhưng trái ngược hoàn toàn với cái vẻ đe dọa, nặng trịch của vũ trụ bao la ngoài kia, góc bếp nhỏ dưới nhà ông già lại ấm sực, sáng rực ánh đèn vàng và thơm nức nở mùi bơ đường nướng chín.

Đó là nơi thằng nhóc Merci – cậu con trai lớn từ hội hoa chuyện sang nghiện nấu ăn và dạt dào tình cảm của ông già – đang chủ trì cho sự ra đời của mẻ bánh cookie đầu tiên trong đời.

Mẻ Bánh Đầu Tiên

Nói về cái nết ăn, nết nấu của thằng nhóc Merci thì phải ngược dòng thời gian một chút. Chẳng biết cái sự thay đổi sở thích này từ đâu ra. Thích thì chìu. Ông già lặn lội theo chia sẻ từ bạn bè, lùng sục từ hang cùng, ngỏ hẻm, những món ăn ngon, lạ để cho một chú nhóc của ông già tìm hiểu thêm về sắc, hương, vị. Trầm trồ. Chiêm nghiệm ra điều chuyên gia. Ông già nhớ của những ráng chiều nơi quê cũ, tìm tòi những món quê, hay những trưa trời hửng nắng, ngất ngư với những hương vị từ các nước tràn về một Sài phố.

Từ mấy xe bánh mì nướng bơ tỏi lề đường bùng nhùng khói bụi, mấy gánh bánh bò, bánh đúc truyền thống đậm chất Nam Bộ nơi góc chợ cũ, cho tới những tiệm bakery chuẩn Pháp sang chảnh đắt đỏ nằm nép mình dưới bóng các tòa nhà cao tầng quận 1. Ông già muốn Merci được nếm, được ngửi, được cảm nhận cái tinh túy của ẩm thực từ bánh Ta cho tới bánh Tây, để con hiểu rằng món ăn ngon không nằm ở cái giá tiền, mà nằm ở cái chất của người làm ra nó.

Đêm qua, Sài Gòn rỉ rả mưa như thút thít vì tủi thân, giận một nổi chẳng ai chịu hiểu mình. Thằng nhóc Merci, cứ đứng ngồi không yên, ánh mắt van lơn nhìn ông già: "Ba ơi, mai cuối tuần rồi, mình đi mua nguyên liệu làm bánh đi ba!". Ông già và thằng nhóc, chở nhau trên chiếc xe máy cà tàng, lao vào cơn mưa của Sài Gòn thút thít đó. 

Bếp Bánh chào đón hai cha con. Thằng nhóc Merci nâng niu từng túi bột mì số 11, từng thỏi bơ Anchor thơm phức, hạt chocolate chip nhỏ xíu cho tới cái phới lồng đánh trứng bằng inox bóng loáng. Danh sách đã được soạn sẵn trong đầu trước khi đi.

Nhìn cái nét mặt hân hoan, rạng rỡ của con dưới ánh đèn neon giữa đêm mưa rỉ rả, ông già thấy lòng mình ấm lạ. Sự hồn nhiên của con trẻ mang đến những nụ cười tự nhiên, ngơ ngác và chân thật nhất. Nó khác xa với mấy cái clip dàn dựng tấu hài ồn ào, gượng gạo trên mạng xã hội – nơi người ta cố tạo tình huống để câu vài cái click ảo. 

Cuối tuần, căn nhà trong hẻm cụt. Rộn ràng và tếu táo. 

Cả nhà quây quần trong căn bếp nhỏ ngày cuối tuần. Đó là một khung cảnh nháo nhiệt nhưng ngập tràn hạnh phúc.

Công đoạn làm bánh cookie bắt đầu bằng việc Merci cẩn thận dùng rây lọc lại bột mì cho thật mịn. Em – mẹ của đám nhỏ – đứng bên cạnh trợ xướng, hướng dẫn Merci cách tán bơ nhạt ở nhiệt độ phòng với đường nâu và đường trắng. Tiếng máy đánh trứng kêu "rè rè" rộn rã. Thằng nhóc Lavie thì phụ trách việc đập và tách trứng, nhưng vụng về thế nào làm văng cả lòng trắng ra bàn, có cô em gái Julie cũng lăng xăng tham gia tạo hình chiếc bánh ở quanh bàn.

Nấu nướng là công việc cần nhẫn nại. Ông già thấy có quá nhiều khâu, công đoạn, Merci nhẫn nại vô cùng. Thằng nhóc không hề nổi giận khi em làm hỏng hay quấy rầy. Ngược lại, nó vừa khéo léo gạt tay em ra vừa vỗ vai: "Julie ngoan, đợi anh Merci trộn bột xong rồi cho Julie nặn hình con giun nha!". Khi hỗn hợp bột, bơ, trứng và chocolate hòa quyện thành một khối mềm mịn, Merci dùng chiếc muỗng múc từng viên bột tròn xoe đặt lên khay đã lót sẵn giấy nướng.

Khay bánh được đưa vào lò. Trong lúc chờ đợi, cả nhà ngồi quanh chiếc bàn ăn. Qua lớp cửa kính của lò nướng, những viên bột bắt đầu nở xòe ra, bơ chảy tràn tỏa ra một mùi thơm ngọt ngào, béo ngậy lấp đầy căn nhà. Khi tiếng "ting" vang lên, mẻ bánh cookie đầu tiên ra lò, vàng ươm, giòn rụm ngoài vỏ nhưng mềm dẻo bên trong. Thằng nhóc Merci hào hứng chia cho từng người, đôi mắt sáng rực niềm tự hào. Thơm ngạt ngào, hồn lơ lửng bay.

Giấc Mơ con

Khi cái giòn tan của mẻ bánh nổ lách tách trong miệng, thằng nhóc Merci bắt đầu bộc bạch những suy nghĩ bên trong cái đầu nhỏ nhắn nhưng chứa đầy những hoài bão bao la của mình.

Thời gian gần đây, ông già thấy thằng nhóc thường trao đổi với nhau một chủ đề chung: nơi nào dạy nấu ăn. 

Lụm khụm, ông già săn lùng thông tin về mấy ngôi trường high school cho tới đại học quốc tế, tìm miết chẳng đâu, quẩn quanh vẫn là ở mãnh đất nhà có vài cộng đồng dựng xây trên facebook. Phong phanh đâu đó, ông già cũng tự mình đi tìm hiểu. Nghe người ta đồn về mấy festival ẩm thực của các chef danh tiếng diễn ra ở Úc hàng năm, ông già lại lò mò lên trang web của họ, đọc từng thủ tục, xem xét điều kiện đăng ký, thầm chuẩn bị cho con một bệ phóng nếu mai này con cần.

Thụy Sĩ – vùng đất của những dãy núi tuyết hùng vĩ và những học viện quản lý khách sạn, ẩm thực danh tiếng thế giới – là địa điểm thằng nhóc tự tìm thấy trên mạng. "Ông già ơi, trường này có lò nướng bự lắm, người ta dạy mình làm từ bánh mì đen cho tới pastry cao cấp luôn đó, đi học cũng có lương!" – Merci chia sẻ thông tin mình tìm kiếm.

Gật gù, ông già tự rà lại mạng lưới bạn bè, dặn lòng sẽ tìm thêm để cung cấp cho một cánh chim gần như sẵn sàng cần được “chấp cánh” bay đến một chân trời mới, nơi cảm thấy yêu thích, thỏa sức với đam mê. 

Giấc mơ con. Thằng nhóc tâm sự sau này lớn lên sẽ mở được một chuỗi nhà hàng của riêng mình. "Ít nhất phải mười cái nha ông già!" – Thằng nhóc nói khi ngồi sau yên xe, gió bạt lời. "Còn nếu không mở được chuỗi nhà hàng, thì con sẽ đi làm công. Nhưng con phải quan trọng với người sếp".

Lặng im. Hai từ "gánh vác" và "giá trị" thoảng qua đầu ông già, hệt như một trendy mà giới trẻ bây giờ ngán ngẩm, chẳng thiết tha chạy theo trên các nền tảng truyền thông để khẳng định bản thân trước áp lực thay đổi. Tự hỏi, liệu mình đủ lớn để giải thích đủ đầy, liệu đủ sâu để giải thích cho trẻ hiểu? 

Rồi thằng nhóc cứ thế tiếp tục câu chuyện của riêng mình, tự thoại, bắt đầu dùng mệnh đề "nếu... thì" – cái mệnh đề chứa đựng tất cả những giả định tươi đẹp của tuổi thơ:

"Nếu sau này con làm bếp trưởng, kiếm được thiệt là nhiều tiền... thì con sẽ không chỉ mua nhà cho ba mẹ đâu. Con sẽ mở một ngôi trường đặc biệt, một ngôi trường không có chấm điểm, không có áp lực thi cử, để ai thích nấu ăn thì vô học nấu ăn, ai thích vẽ thì vô vẽ như Julie, ai thích đá banh thì vô tập đá banh như Lavie. Một ngôi trường mà ai cũng có thể học những điều mình thích!"

Tự dưng, ông già nhớ tới hình ảnh Totto-chan bên cửa sổ và thầy hiệu trưởng Kobayashi – người đã làm được điều đấy... trên trang sách. Sách viết về đời hiếm khi, và sách viết về điều chưa với tới. Lời nói ngô nghê của Merci khiến ông già sững người. Một hành trình dài rồi sẽ trôi đi, thằng nhóc rồi sẽ lớn, sẽ bước ra khỏi tổ ấm nhỏ bé để đối mặt với sóng gió đời người. 

Bầu trời ngoài cửa sổ sau trận mưa giông cuối cùng cũng chuyển mình. Mảng mây đen xám xịt tan ra, nhường chỗ cho vệt hoàng hôn rực rỡ sắc cam hồng trải dài trên những mái nhà Sài Gòn. Khung cảnh đối nghịch giữa sự u tối lúc ban chiều và nét rạng ngời hiện tại hệt như tâm trạng ông già: mọi muộn phiền, lo âu về tương lai đã bị xua tan bởi ước mơ trong sáng của đứa con trai.

Merci nhét miếng bánh cookie còn ấm nóng vào tay ông già: "Bánh giòn không ba? Ngon hơn tiệm mình mua tuần trước không?".

Cắn một ngụm, vị ngọt thanh của đường nâu, vị béo ngậy của bơ và chút đắng nhẹ của chocolate hòa quyện lan tỏa trên đầu lưỡi, ông già xưng tụng: "Ngon xuất sắc!".

Ông già khép cuốn nhật ký lại, lòng tràn ngập niềm yêu đời phơi phới. Cuộc sống dù áp lực hay biến động, chỉ cần nhìn các con lớn lên hồn nhiên, biết yêu thương và mơ những giấc mơ tử tế, thì với ông già, đó đã là điều viên mãn nhất.

Chẳng mong giấc mơ con đè nát cuộc đời con.

***

The old man partially closed the rooftop balcony door, taking a sip of his stone-cold drip coffee. Saigon this afternoon was quite strange. The sky above had been squeezed dry of sunlight, wearing a dark gray coat, rough like the back of an ancient whale drifting through a zero-gravity ocean, signaling a seasonal thunderstorm about to pour down on the streets below. Yet in stark contrast to the heavy, threatening look of the vast universe outside, the small kitchen downstairs was cozy, warmly lit with yellow lights, and filled with the intoxicating aroma of baked butter and sugar.

That was where the kid Merci—the old man's eldest boy who had switched from drawing to an addiction for cooking, overflowing with affection—was presiding over the birth of the very first batch of cookies in his life.

The First Batch

Talking about the kid Merci's appetite and passion for cooking requires rewinding time a bit. Where this shift in interest came from, nobody knew. If he liked it, the old man humored him. The old man trudged along based on tips from friends, scouring every hidden alley and corner for delicious, unique dishes so his little boy could learn more about color, aroma, and flavor. Awestruck. Reflecting like an expert. The old man recalled late afternoon glows in his old hometown, searching for rustic dishes, or bright sunny middays dazed by flavors pouring into Saigon from all over the world.

From roadside garlic butter bread carts swirling with dust and smoke, traditional Southern bánh bò and bánh đúc stalls in the old market corners, to pricey, fancy French bakeries tucked beneath the shadows of District 1’s high-rises. The old man wanted Merci to taste, smell, and feel the essence of cuisine, from Eastern pastries to Western baked goods, so the child would understand that delicious food lies not in the price tag, but in the soul of the person who makes it.

Last night, Saigon dripped with rain as if whimpering out of self-pity, upset that no one understood it. The kid Merci was restless, his eyes pleading as he looked at the old man: "Dad, tomorrow is the weekend, let's go buy baking ingredients, Dad!" The old man and the kid hopped on their battered old motorbike, riding straight into that whimpering Saigon rain.

The baking supply shop welcomed father and son. The kid Merci cherished every bag of No. 11 flour, every block of fragrant Anchor butter, tiny chocolate chips, down to the shiny stainless steel balloon whisk. The list had been prepared in his head before heading out.

Looking at the joyful, radiant expression on his child's face under the neon lights amidst the drizzling night rain, the old man felt his heart warm up strangely. The innocence of children brings the most natural, unpretentious, and genuine smiles. It was a world away from those loud, forced comedy clips staged on social media—where people try to manufacture situations just to bait a few virtual clicks.

Weekend in a dead-end alley. Lively and playful.

The whole family gathered in the small kitchen over the weekend. It was a bustling yet deeply happy scene.

The cookie-making process began with Merci carefully sifting the flour until it was extra fine. Em—the mother of the kids—stood beside him as an assistant, guiding Merci on how to cream room-temperature unsalted butter with brown and white sugar. The electric mixer hummed cheerfully. The kid Lavie was in charge of cracking and separating eggs, but clumsily managed to splash egg whites all over the table, while little sister Julie bustled around joining in to shape the dough around the table.

Cooking is a job that demands patience. Seeing so many steps and stages, the old man realized Merci was remarkably patient. The kid didn't get angry at all when his siblings messed up or bothered him. On the contrary, he gently pushed his sister's hand away while patting her shoulder: "Be a good girl, Julie. Wait until Brother Merci finishes mixing the dough, then I'll let you shape a little worm, okay!" Once the mixture of flour, butter, eggs, and chocolate blended into a smooth dough, Merci used a spoon to scoop round balls onto a baking tray lined with parchment paper.

The tray went into the oven. While waiting, the whole family sat around the dining table. Through the oven's glass door, the dough balls began to spread out, the melting butter releasing a sweet, rich aroma that filled the entire house. When the "ding" sounded, the first batch of cookies came out of the oven, golden brown, crispy on the outside yet soft and chewy inside. The kid Merci excitedly shared them with everyone, his eyes glowing with pride. A rich, sweet fragrance filled the air, leaving souls floating with delight.

A Child's Dream

As the crunch of the cookies crackled in their mouths, the kid Merci began to open up about the thoughts inside his small head, which was packed with vast ambitions.

Lately, the old man noticed the kid frequently bringing up a common topic: where to learn cooking.

Trudging along, the old man scoured for information on high schools up to international universities, searching endlessly to no avail, revolving mostly around a few Facebook community groups back home. Hearing rumors here and there, the old man also looked into things himself. Hearing about annual food festivals featuring famous chefs in Australia, the old man blindly navigated their websites, reading every procedure and checking registration requirements, secretly preparing a launching pad for his child should he ever need it in the future.

Switzerland—a land of majestic snowy mountains and world-renowned hospitality and culinary institutes—was a location the kid found on the internet by himself. "Dad, this school has a huge oven! They teach everything from dark rye bread to high-end pastries, and you even get paid while studying!" Merci shared the information he found.

Nodding, the old man privately reviewed his own network of friends, promising himself to look further to provide for a pair of wings that were nearly ready to soar toward a new horizon—a place where the kid could enjoy and indulge his passion.

A child's dream. The kid confided that when he grows up, he wants to open his own chain of restaurants. "At least ten of them, Dad!" the kid said while sitting behind the motorbike seat, his words carried away by the wind. "And if I can't open a restaurant chain, I'll work for someone else. But I have to be important to my boss."

Silence. The words "shoulder responsibility" and "value" drifted through the old man's mind, much like a trend that today's youth grow weary of, lacking interest or care to chase on media platforms just to assert themselves under the pressure of change. The old man wondered: Is he big enough to explain it fully, deep enough to explain it thoroughly for a child to understand?

Then the kid simply carried on with his own story, monologuing, starting to use the "if... then" clause—the clause holding all the beautiful assumptions of childhood:

"If I become a head chef later and make a ton of money... I won't just buy a house for Mom and Dad. I'm going to open a special school—a school with no grades, no pressure from exams. Whoever likes cooking can come learn cooking, whoever likes drawing can draw like Julie, and whoever likes soccer can practice soccer like Lavie. A school where everyone can learn what they love!"

Out of nowhere, the old man recalled the image of Totto-Chan: The Little Girl at the Window and Headmaster Kobayashi—a man who actually accomplished that... on the pages of a book. Books rarely write about real life, and books write about things yet reached. The kid Merci's naive words left the old man stunned. A long journey will eventually pass; his little boy will grow up and step out of this small nest to face the storms of life.

The sky outside the window finally transformed after the thunderstorm. The dark gray clouds dispersed, giving way to a brilliant orange-pink sunset stretching across Saigon's rooftops. The contrasting scene between the earlier gloomy afternoon and the current radiance mirrored the old man's mood: all worries and anxieties about the future were swept away by his son's pure dream.

Merci pushed a still-warm cookie into the old man's hand: "Is it crunchy, Dad? Is it better than the shop-bought ones from last week?"

Taking a bite, the subtle sweetness of brown sugar, the richness of butter, and a hint of dark chocolate blended and melted on his tongue. The old man praised him: "Utterly delicious!"

The old man closed his diary, his heart brimming with a buoyant love for life. No matter how pressurized or unpredictable life gets, as long as he sees his children growing up innocently, knowing how to love and dreaming decent dreams, for the old man, that is already the most fulfilling thing of all.

May a child's dream never crush a child's life.



Thứ Ba, 8 tháng 9, 2026

[Sách] Triết học Phật giáo Ấn Độ - Amber D. Carpenter


 "Bản ngã không phải là một thực thể kiên cố đứng vững trước thời gian. Nó chỉ là một chuỗi liên tục của những khoảnh khắc sinh diệt, một dòng chảy thẩm thấu nơi nỗi đau xuất hiện khi ta cố bám chấp vào những ảo ảnh hữu hình."

"Sách về Phật giáo!? Đọc xong anh cho em mượn."

Thằng nhóc ngồi kế bên bất ngờ chồm sang, ánh mắt tò mò xoáy vào trang sách đang mở.

"Chơi chán rồi à? Giờ muốn tu?" Nó ngẩng mặt lên nhìn và hỏi. Đó là lúc nó đang chiêm nghiệm dở dang công trình nghiên cứu chuyên sâu "Triết học Phật giáo Ấn Độ" (Indian Buddhist Philosophy) của học giả Amber D. Carpenter. Ngoảnh sang, nhìn gương mặt trẻ mẫn cảm nhưng chưa kinh qua phong sương của cậu thanh niên, nó rù rì khái quát sơ qua về khối lý thuyết hàn lâm nặng trịch. Khuôn mặt thằng nhóc lập tức tẻn tò, sự hăng hái ban đầu xẹp xuống như một bong bóng xà phòng vỡ tan

"Có sách nào tương tự dễ nuốt hơn không anh, cho em mượn?"—Thằng nhóc tếu táo, nhe cái răng khểnh ra cười, xua đi cái không khí nghiêm trọng vội vã. Đứa nhóc ngổ ngáo ngày nào giờ cứ tíu tít với nó mỗi ngày. Thênh thang.

Nó thấy lòng bất giác mềm lại.

"‘Đường xưa mây trắng’ của Thích Nhất Hạnh. Anh tặng, chứ không cho mượn."

Nó trả lời thằng nhóc, giọng trầm dịu. Sài Gòn ngoài vách kính phủ những vệt nắng lưa thưa chiều thu. Nó cũng lặng lẽ thu mình quay trở về với khoảng lặng chiêm nghiệm của riêng mình.

Amber D. Carpenter—chuyên gia triết học cổ điển với góc nhìn mẫn cảm và tư duy sắc lạnh—không biến triết học Phật giáo thành những lời kinh tụng huyền bí hay thứ lý thuyết giáo điều xa rời đời sống. Bằng một cách kể tổng quan và sâu, Carpenter như giới thiệu đến nó một công trình dựa trên hệ thống tư duy từ Đạt-ma (Dharma), Tỳ-bà-sa (Vaibhāṣika), Trung quán tông (Mādhyamaka) của Long Thọ (Nāgārjuna) cho đến Duy thức tông (Yogācāra).

Carpenter chạm vào, sẻ chia một thực tế: Khổ đau (Dukkha) không tự nhiên sinh ra. Nó bắt nguồn từ rối reng của tâm trí khi cố dựng lên một cái "Tôi" cố định, vĩnh cữu (Ātman) và cố bám chấp vào nó.

"Chúng ta đau khổ vì chúng ta lầm tưởng bản thân mình là một pháo đài bất biến. Nhưng Phật giáo Ấn Độ chứng minh rằng: Cái 'Tôi' ấy chỉ là một cấu trúc ảo giác được ghép lại từ năm căn tố (Ngũ uẩn). Khi ta nhận ra tính Vô ngã (Anattā) và Duyên khởi (Pratītyasamutpāda), chiếc hộp giam cầm tâm trí sẽ tự động sụp đổ."

Xâu chuỗi với tư duy của Henri Bergson về thời gian sống (Durée) trong "Thời độ và Không độ", Carpenter giúp nó thấu hiểu sự giải phóng nội tại:

  • Bản Ngã: Khi con người ta quá bám chấp vào chức danh, tài sản hay các thước đo ngáo giá (Valuation), họ tự biến mình thành những bức tượng thạch cao vô hồn. Nhận thức được tính Vô thường (Anicca) không phải là sự buông xuôi tiêu cực, mà là nhát cắt dứt khoát giải phóng ta khỏi áp lực phải thành công bằng mọi giá.

  • Duyên khởi: Khi nhận ra mọi thực thể đều tồn tại dựa trên sự tương thuộc (Duyên khởi), con người sẽ rũ bỏ thói quen định giá người khác bằng thước đo vị lợi. Ta biết dũng cảm hạ mình xuống, bước vào thế giới của người khác với tình yêu thương trinh nguyên—hệt như cách bộ ba tác giả Rogers, Dawson và Vismara can thiệp cho trẻ tự kỷ trong "An Early Start for Your Child with Autism".

Hóa ra, cõi Niết-bàn hay sự giải thoát sâu xa nhất không nằm ở chốn xa xôi; nó nằm ngay trong khoảnh khắc ta biết buông bỏ bản ngã để trọn vẹn hiện diện và yêu thương.

***



"The ego is not a solid entity standing resilient against time. It is merely a continuous chain of arising and passing moments, an osmotic stream where suffering emerges only when we desperately cling to tangible illusions."

"A book on Buddhism!? When you're done reading, lend it to me."

The young kid sitting right next to it suddenly leaned over, his curious eyes locking onto the open page.

"Done playing around now? Want to become a monk?" Nó looked up, locking eyes as it asked.

That was when nó was mid-contemplation, immersed in the rigorous analytical work Indian Buddhist Philosophy by scholar Amber D. Carpenter. Turning sideways, taking in the young, sensitive face—one still untouched by the harsh winds of time—nó softly offered a brief overview of the heavy academic doctrine. The kid’s face instantly fell sheepish, his initial eagerness deflating like a popped soap bubble.

"Is there anything similar that's a bit easier to digest, man? Lend me that instead?" The kid joked, flashing a crooked tooth as he laughed, instantly sweeping away the sudden, heavy air. The once unruly kid who used to be a handful now chattered endlessly with nó every single day. Unbounded. Vast.

Nó felt its heart unexpectedly soften.

"‘Old Path White Clouds’ (Đường xưa mây trắng) by Thích Nhất Hạnh. I'm gifting it to you, not lending it."

Nó answered the kid, its voice low and gentle. Outside the glass pane, Saigon was dusted with the sparse, scattered sunlight of late autumn. Quietly, nó withdrew once more into the stillness of its own internal reflection.

Amber D. Carpenter—a specialist in classical philosophy with a sensitive lens and a razor-sharp mind—does not reduce Buddhist philosophy to mystical chants or dogmatic theories detached from real life. Through a sweeping yet profound narrative, Carpenter introduced nó to a monumental architecture built upon a structural continuum of thought: from Dharma, Vaibhāṣika, Nāgārjuna’s Mādhyamaka, all the way to Yogācāra.

Carpenter touched upon an unvarnished reality: Suffering (Dukkha) does not arise out of nowhere. It springs directly from the mind’s tangled restlessness when it attempts to erect a fixed, permanent self (Ātman) and desperately clings to it.

"We suffer because we mistakenly believe ourselves to be an unyielding fortress. But Indian Buddhism proves that this 'Self' is merely an illusory construct assembled from five fleeting aggregates (Skandhas). The moment we recognize the nature of Non-Self (Anattā) and Interdependent Co-Arising (Pratītyasamutpāda), the box imprisoning the mind shatters automatically."

Interweaving this with Henri Bergson’s notion of lived time (Durée) in Time and Free Will (Thời độ và Không độ), Carpenter helped nó comprehend internal liberation across two decisive incisions:

  • The Incision of Non-Self: When human beings cling obsessively to job titles, wealth, or inflated valuation metrics (Valuation), they reduce themselves to lifeless, bone-dry (khô khốc) plaster statues. Realizing Impermanence (Anicca) is not a passive surrender, but a decisive cut freeing us from the crushing pressure to achieve or prove ourselves at all costs.

  • The Incision of Interdependent Co-Arising: When we realize every entity exists solely through mutual interdependence, we cast aside the habit of pricing human beings through a utilitarian lens. We find the courage to lower ourselves, stepping into another’s world with pure empathy (Omoiyari)—just as the trio of authors Rogers, Dawson, and Vismara established a framework of compassionate intervention for autistic children in An Early Start for Your Child with Autism.

As it turns out, Nirvana or the deepest form of liberation does not reside in some distant, faraway realm; it lives right within the quiet moment we learn to surrender the ego, so that we may be fully present, and love (yêu thương).

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2026

[Sách] Võ Văn Kiệt - Trí Tuệ và Sáng Tạo - Hoàng Lại Giang


 

"Lịch sử không ghi nhận những gã trung dung an an toàn toàn trong cái hộp quy chuẩn. Lịch sử khắc tên những con người dũng cảm xé rào, dám chịu trách nhiệm trước nhân dân để đưa cả một dân tộc bước qua vực thẫm hoại tử."

Nhớ. Trời tháng Chín. Những ngày đầu nhập học năm ấy, phố xá xao động dưới tán lá chuyển mùa. Nó lửng thửng quay trở lại lớp học thì đột ngột nghe tiếng chị thốt lên nghiệt ngã: "Ông Kiệt mất rồi!"

Tiếng đồn lan nhanh như vệt dầu loang. Một chuyến chuyên cơ cấp cứu từ Việt Nam bay cấp tập sang Singapore, nhưng không thể cứu chữa được nữa. Tin tức ban đầu bị chôn vùi trong sự lặng đi của thời cuộc, để rồi sau đó toàn quốc xác định và chuẩn bị cho một Quốc tang—ngày một tượng đài kiên cường chính thức nằm xuống.

Một người đói hiểu về cách đói. Em gái Hà Nội, tiếp tục gửi những quyển sách, để nó có cơ hội ngược dòng về lại, xắn quần lên lội bùn dính chặt vào thịt da, về lại vùng đất Mang Thít, Vĩnh Long—nơi cù lao sông Cổ Chiên bồi đắp phù sa thô mộc, nơi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (bác Sáu Dân) cất tiếng khóc chào đời, để rồi trong tiếng gọi của đồng bào đó, của một thời kỳ bao cấp hoang mỏng—nơi đứa trẻ ngô nghê nhận ra một lời thề, một lý tưởng của Cách Mạng, bản lĩnh của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (bác Sáu Dân) hiện lên như một nhát cắt dứt khoát, xé tan gông cùm tư duy lối cũ để cứu đói cho hàng triệu con người. 

Nó hiểu hơn chút về ông, người lính biệt động thành của người tình tóc bạc. 

Nó lặng lẽ ngồi cùng, lắng nghe những chí sĩ Cách mạng dạn dày kinh nghiệm như Trần Văn Trà, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, Võ Trần Chí, Trần Quốc Hoàn... cùng bàn thảo những quyết sách sinh tử giữa trùng khơi bom đạn.

Hòa bình. Cái giá của hòa bình cũng nghiệt ngã, 

Cuốn sách của Hoàng Lại Giang như dẫn dắt nó quay về những năm tháng tăm tối của thập niên 1970 - 1980: khi nền kinh tế rơi vào hoại tử, gạo không đủ ăn, nhà máy chết đứng vì thiếu nguyên liệu, và tư duy giáo điều bao cấp bóp nghẹt mọi sức sống. Giữa cỗ máy quản lý quan liêu, cứng nhắc ấy, Bí thư Thành ủy TPHCM Võ Văn Kiệt đã chọn một lối đi nghiệt ngã: Thà đi tù chứ không để dân đói.

"Nếu cứ làm đúng quy trình xơ cứng mà dân không có gạo ăn, nhà máy phải đóng cửa, thì quy trình đó chính là tội ác. Phải xé rào. Phải đi trước một bước để cứu dân!"

Nó lại được dịp ngồi xuống bàn trà; chứng kiến ông Sáu Dân gặp gỡ, lắng nghe "Nhóm Thứ Sáu"—những trí thức đương thời như Nguyễn Xuân Oánh, Lâm Minh Chiết, Phan Chánh Dưỡng, Đỗ Lộc, Trần Bá Lộc... những con người từng ở bên kia chiến tuyến nhưng được ông trân trọng, tham vấn về kinh tế của một quốc gia. Hai chiến tuyến, một màu da và một con đường duy nhất để dựng xây trở lại. Tất cả đều bắt đầu bằng sự lắng nghe.

  • Quyết định "Gom lúa cứu dân" và tư duy thị trường bùng nổ: ông cho bung sản xuất, bù giá vào lương, cử cán bộ xuống miền Tây thu mua lúa theo giá thị trường để đưa về cứu nguy cho hàng triệu người dân Sài Gòn đang đứt bữa. Sau này, chính tư duy "xé rào" ấy đã trao trọn niềm tin cho các nhà khoa học để dựng nên công trình Đường dây 500kV Bắc - Nam lịch sử hay đào kênh T6 khai mở Đồng Tháp Mười, thoát lũ ra biển Tây.

  •  Ông trao niềm tin cho các trí thức, các nhà khoa học—những con người từng ở bên kia chiến tuyến—để cùng xây dựng công trình Đường dây 500kV Bắc - Nam hay đào kênh T6 thoát lũ ra biển Tây.

  • Trí tuệ Sáng tạo từ Cội nguồn: Tư duy đổi mới của Võ Văn Kiệt không xuất phát từ những lý thuyết viễn xứ xơ cứng, mà được tắm mát từ dòng chảy sông nước Cửu Long, từ lòng dân thô mộc và khát vọng tự chủ của dải đất Nam Bộ.

  • Mọi trí tuệ hay sự sáng tạo vĩ đại nhất, suy cho cùng cũng chỉ để phụng sự cho con người, trả lại sự bình an cho nhân dân và nuôi dưỡng tình yêu thương đối với cội nguồn.

Nó dừng lại hành trình cùng ông Sáu Dân giữa một trời Sài Gòn rợp cờ đỏ tung bay. Không khí rạo rực của ngày Tết Độc Lập bừng lên trên từng con phố. Ngoảnh mặt, mây trời bạt gió, tự hỏi: có ông ở đó không, người lính biệt động thành ở một ngày Độc Lập? 

***


"History keeps no record of middle-of-the-road men playing it safe inside standard boxes. History inscribes the names of those brave enough to tear down fences, daring to answer directly to the people in order to lead an entire nation across a necrotic abyss."

Remember. September weather. Those first days of the new school year, the city streets stirring beneath a canopy of shifting leaves. It was ambling back toward the classroom when its sister’s harsh exclamation suddenly shattered the air: "Mr. Kiệt is gone!"

Rumors spread like a dark oil spill. An emergency air-evacuation flight from Vietnam had raced to Singapore, but healing was beyond reach. Initial news was buried in the heavy stillness of the times, before the entire nation acknowledged the loss and prepared for a State Funeral—the day a formidable monument officially laid down to rest.

Only one who knows hunger truly comprehends hunger. A sister from Hanoi kept sending books, giving it the chance to journey backward in time—rolling up its trousers to wade into mud clinging tight to bare skin, returning to the land of Mang Thít, Vĩnh Long. There, on the island reaches of the Cổ Chiên River, raw alluvial silt accumulates; there, the late Prime Minister Võ Văn Kiệt (Uncle Sáu Dân) uttered his first cry upon entering the world. Amidst the cries of his compatriots during the fragile, desolate era of the subsidy economy, a naive child realized an oath, a Revolutionary ideal: the resolve of late Prime Minister Võ Văn Kiệt materialized like a decisive incision, tearing apart the shackles of obsolete thinking to save millions from starvation. Nó understood him a little better then—the urban commando soldier of the silver-haired lover.

IT sat silently alongside him, listening to seasoned Revolutionary patriots like Trần Văn Trà, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, Võ Trần Chí, Trần Quốc Hoàn... as they deliberated life-and-death decisions amidst the vast expanse of bomb fire and warfare.

Peace arrived. Yet the price of peace was no less brutal.

Hoàng Lại Giang’s book guided it back into the dark decades of the 1970s and 1980s: when the economy suffered necrotic collapse, rice was scarce, factories ground to a halt for lack of raw materials, and rigid, dogmatic subsidy thinking suffocated every spark of life. Amidst that bureaucratic, bone-dry administrative machine, Saigon Party Secretary Võ Văn Kiệt chose a harrowing path: Better to go to prison than to let the people starve.

"If following rigid rules leaves the people without rice and forces factories to close, then those rules are a crime. We must break through the fence. We must take a step ahead to save our people!"

It found itself sitting once more at the tea table, witnessing Uncle Sáu Dân meet and listen to the "Friday Group"—contemporary intellectuals like Nguyễn Xuân Oánh, Lâm Minh Chiết, Phan Chánh Dưỡng, Đỗ Lộc, Trần Bá Lộc... individuals who once stood on the opposite side of the battle line, yet were respected and consulted on the nation's economic architecture. Two former battlefronts, one shared skin color, and a single path toward reconstruction. Everything began with the act of listening.

The decision to "Gather Grain to Save the People" and the explosion of market logic: he unleashed production, adjusted wages to offset prices, and dispatched cadres to the Mekong Delta to purchase rice at market rates, bringing it back to rescue millions of Saigon residents facing missed meals. Later, that very fence-breaking mindset bestowed complete trust upon scientists to construct the historic 500kV North-South power line and dredge the T6 canal to drain floodwaters into the West Sea.

He placed his trust in intellectuals and scientists—those who had once stood on the opposite side of the battle line—to jointly erect the historic 500kV North-South grid and carve the T6 canal draining floods out toward the West Sea.

Rooted Creative Wisdom: Võ Văn Kiệt's reformist mindset did not spring from rigid, imported theories; it was cleansed and nurtured by the damp currents of the Mekong, by the unvarnished heart of the people, and by the yearning for self-sovereignty across the Southern land.

All great wisdom or creation, in the final analysis, exists solely to serve humanity, to restore peace to the people, and to nourish an enduring love for one's roots.

It paused its journey alongside Uncle Sáu Dân beneath a Saigon sky draped in fluttering red flags. The fervent atmosphere of Independence Day erupted across every street corner. Turning its face to the vast, wind-swept clouds, it wondered silently: Are you there, urban commando soldier, on this day of Independence?

Nhật ký của cha - Nhạc [Dad's diary - Music ]


Tạm biệt Roblox nhé, tạm biệt cả FIFA. Nhớ lắm, quên sao được; ba tháng hè cày game...

Thằng nhóc Lavie nghêu ngao hát bài chế theo điệu nhạc chia tay mái trường, giọng nắn uốn vừa tếu táo vừa chút tiếc nuối những ngày hè vô lo. Mùa hè trôi qua nhanh như một cái chớp mắt, đám trẻ bắt đầu quay lại trường và cô nhóc Julie của ông già cũng bước vào một hành trình mới khi chuẩn bị đến trường gần nhà, nằm trên con đường Đinh Tiên Hoàng nghẹt thở với khó bụi như gom cả để trút giận tại đây. 

Sài Gòn là cái đô thị lạ đời. Nó nhanh, nó gấp, và nó mài mòn sự kiên nhẫn của người lớn bằng những nhịp sống hối hả, những vụn vặt kẹt xe, chạy deadline hay áp lực của nền kinh tế số thay đổi từng giờ. Những lịch, hẹn được lên sẵn như thể kéo dài đến bất tận, non hơn cả đời người. Nhưng giữa cái nhịp đập cuồng quay ấy, khi cô công chúa nhỏ Julie bắt đầu ngân nga những giai điệu ngây ngô theo nhịp đàn của buổi học nhạc cuối tuần, ông già cảm thấy thời gian như ngưng đọng lại.



Nhớ. Lúc lên ba. Cô công chúa nhỏ chẳng thiết tha với bộ gõ lẫn bộ dây, khi ông già dẫn đến nơi nhạc cụ được chất đầy của lớp học các ông anh, cô nhóc chỉ lẳng lặng vò nát mấy tờ giấy vẽ rồi xé vụn. Ấy thế mà, từ ngày thấy hai người anh lớn – thằng Merci nghỉ về cách nấu ăn dạt dào tình cảm; cùng thằng Lavie – lướt những ngón tay dài trên phím đàn piano trong sự bức bối chỉ muốn đôi chân thỏa sức trên sân cỏ lại phải ngồi gó phím, đôi mắt bé xíu của công chúa nhỏ đột nhiên rực sáng. Âm nhạc cuốn hút cô nàng như một ma lực kỳ diệu.

Giờ, thoáng thấy bóng dáng cô giáo đến đầu hẻm, cô nhóc của ông già đã nhảy tót lên ngồi sẵn ở chiếc dương cầm. Căn nhà nhỏ chờ đợi một âm thanh cuối tuần.

Ai Cũng Có Một Quá Khứ

Ông già mời một cô giáo trẻ về dạy; qua lời giới thiệu từ người em, là thầy của cô giáo trẻ. Em là giảng viên thanh nhạc của Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh, hiện đang tiếp tục hành trình học lên cao học. Đâu đó trong tâm khảm của một người trẻ đam mê những nốt nhạc, cô giáo bước vào ngôi nhà nhỏ này nhẹ nhàng như những chú mèo con dạo bước. Em đến không chỉ để dạy nhạc, mà như thể tìm một khoảng lặng quên đi những giông bão đã trải qua trong chính gia đình mình.

Em từng trải qua một tuổi thơ với hôn nhân rạn nứt của cha mẹ. Cô giáo phải về sống với mẹ trong một căn nhà nhỏ, trong khi người cha lấy vợ khác, từ bỏ Nha Trang – vùng đất của biển cả ru đêm, để rồi sau đó lại tiến dần lên gần với đại ngàn hát khúc đêm thâu. Cô bé ngày ấy lớn lên trong điệp khúc cô đơn của riêng mình, và có lẽ chính vì thế, em đã trốn vào âm nhạc để tự chữa lành. Nhìn em nhẫn nại bên đám nhóc của ông già, có cả cô nhóc Julie, ông già thấy âm nhạc không chỉ là những nốt đô-rê-mi, mà là chiếc cầu nối giữa những tâm hồn từng mang vết xước.

Mỗi lần em gái Julie ngập ngừng trước phím đàn, Merci lại lon ton chạy lại, vỗ vai em: “Giỏi, giỏi lắm, khen!”.

Nhìn Merci kiên nhẫn cổ vũ em, ông già bỗng lặng người. Cái tính ngạo chiến, hung hăng trong công việc của ông già – một gã lúc nào cũng thích chiến thắng nhiều hơn chiến bại, coi sự cứng cỏi là lẽ sống – dường như đang bị sự trong sáng của các con làm cho tan chảy.

Ai Cũng Cần Một Tương Lai

Cô công chúa nhỏ Julie bắt đầu nghêu ngao hát. Mấy nốt nhạc ngô nghê cất lên, gọt trừ, gạn từ mới ra một khúc hát, xóa tan không gian lặng tiếng suốt một thời gian dài từ mùa dịch Covid trôi qua cho đến tận hiện tại. Trong suốt hành trình ấy, ông già cứ phải kiên nhẫn đi lụm từ, nhặt tiếng, gom từng âm thanh, từng nét vẽ nguệch ngoạc của con để ghi vào cuốn nhật ký đời mình, dịch nghĩa của một ngôn ngữ riêng con. Ngộ. Hành trình lụm từ, nhặt chữ kéo dài hàng chục năm từ đứa đầu cho đến đứa út. Nhọc nhằng chẳng thấy, ơn thương ngập đầy. 

Một hành trình đọc và khám phá ra những nét vẽ của con. Nhớ lời chị từng chia sẻ trong một sớm mai mây trời bảng lãng: “Khi con mình có những đặc biệt xíu, chậm hơn người ta như thế, bao nhiêu sĩ diện của người làm cha làm mẹ cũng trôi sạch bách…”.

Đúng vậy, sĩ diện trôi đi, nhưng nó thấy nhận nhiều hơn từ thứ ở lại.

Ngạo nghễ phần nào. Đó là sự ngạo nghễ của một ông già dám chấp nhận sự thật, tự hào đi cùng con trên một hành trình khác biệt, chiếm trọn và trân trọng từng khoảnh khắc tươi đẹp của cuộc đời.

Cô nhóc Julie, với sự ngây thơ thanh khiết, như một thiên thần giáng xuống để thực hiện cuộc thanh tẩy tâm hồn cho ông già, gã con nít sống lâu va vào đời công bộc, nhiễm độc của bon chen, thắng thua, mưu mẹo…xem như gì đó bình thường. 

Nhờ có Merci, Lavie và Julie, ông già học được cách kiên nhẫn hơn để nhìn lại chính mình. Một gã từng hung hăng trong công việc và cuộc sống, thích chiến thắng nhiều hơn cả chiến bại, ngạo chiến từ đó mà ra như cái tên vận hết vào đời mình. Lúc nào ông già cũng muốn lao về phía trước như một mũi tên. Nhưng sống nhanh để làm gì khi ta bỏ lỡ nụ cười chân thật của con trẻ? Gã đàn ông đã đi từ cửa tử về lại với cửa sinh, chào đón từng thiên thần một, thanh tẩy từng lần, nhận ra mình đã có quá nhiều yêu thương cần trân trọng. 

Nhớ. Bài hát của chú nhóc Lavie: “Tạm biệt Roblox nhé, tạm biệt cả FIFA. Nhớ lắm, quên sao được; ba tháng hè cày game...

Ông già bật cười, ôm lấy thằng nhóc và cô công chúa nhỏ vào lòng. Ấm áp, dịu âm. 

Ông già khép lại trang nhật ký. Nắng Sài Gòn buông xuống mềm mại như nháy mắt, khều nhẹ, thì thầm: thấy không, tuyệt vời quá đúng không?. 

***

“Goodbye Roblox, goodbye FIFA too. Miss you so much, how could I forget; three summer months spent grinding games...”

The kid Lavie warbled his improvised parody to the tune of a school farewell song, his voice bending playfully—a mix of teasing banter and a hint of nostalgia for those worry-free summer days. Summer passed in the blink of an eye. The kids began heading back to school, and the old man’s little princess, Julie, embarked on a new journey of her own, preparing to attend a school near their home on Đinh Tiên Hoàng Street—a road suffocating with exhaust and dust, as if the whole city gathered its anger just to dump it right there.

Saigon is a strange metropolis. It is fast, rushed, and wears down the patience of adults with its frantic pace, traffic jams, endless deadlines, and the pressure of a digital economy changing by the hour. Schedules and appointments are set far in advance, as if stretching out endlessly, outlasting a human lifespan. Yet amid that swirling vortex, when the little princess Julie begins humming her naive melodies to the beat of the piano during her weekend music lesson, the old man feels time freeze in its tracks.

He remembers. When she turned three, the little princess showed no interest in percussive or string instruments. When the old man took her to the room packed with instruments for her older brothers’ music class, the little girl simply crumpled sheets of drawing paper in silence and tore them into tiny scraps. Yet from the day she watched her two older brothers—Merci, who would pause his heartfelt cooking ideas, and Lavie, who’d rather be running free on the soccer pitch but had to sit constrained at the keys—gliding their long fingers across the piano, the little princess’s tiny eyes suddenly lit up. Music drew her in like a magical spell.

Now, catching a glimpse of the young teacher at the entrance of the alley, the old man’s little girl bounces right up to sit at the grand piano. The cozy house eagerly awaits a weekend sound.

Everyone Has a Past

The old man hired a young teacher through a recommendation from an acquaintance—who happened to be her professor. She is a vocal instructor at the Ho Chi Minh City Conservatory of Music, currently pursuing her master’s degree. Somewhere deep in the heart of a young soul passionate about notes, the young teacher steps into this small home as gently as a kitten taking a stroll. She comes not just to teach music, but as if seeking a quiet sanctuary to forget the storms she experienced in her own family.

She grew up through the pain of her parents' broken marriage. The young teacher had to live with her mother in a small house, while her father remarried and left Nha Trang—a land of the night-lulling sea—only to move closer to the deep forests of the central highlands, singing to the late hours. The little girl back then grew up listening to her own refrain of loneliness, and perhaps that is why she hid in music to heal herself. Watching her patiently guide the old man’s kids, including little Julie, the old man realizes music isn’t just do-re-mi; it’s a bridge connecting souls bearing scars.

Every time little sister Julie hesitates before the keys, Merci trots over and pats her shoulder: “Good job, so good, brava!”

Watching Merci patiently cheer on his sister, the old man suddenly falls silent. His aggressive, overly competitive nature at work—a guy who always favored winning over losing, holding toughness as a rule for life—seems to be melting away under the purity of his children.

Everyone Needs a Future

The little princess Julie starts to hum her tunes. A few naive notes sound out, trimmed and refined word by word to make a song, breaking the long silence that had hung over her since the COVID pandemic all the way to the present. Throughout that journey, the old man had to patiently pick up words and gather sounds, collecting every noise and scribbled drawing of hers to record in his life’s diary, translating the meaning of her own private language. How strange yet wonderful. A decade-long journey of gathering words and catching sounds, from his firstborn to his youngest. No fatigue felt, only an overwhelming abundance of grace and love.

A journey of reading and discovering the child’s drawings. He remembers the words his sister shared one morning when the sky was filled with drifting clouds: “When your child is a bit special, falling a bit behind others like that, every last drop of a parent’s vanity just washes away...”

Indeed, vanity washes away, but he feels he receives so much more from what stays behind.

A sense of pride, in a way. It’s the pride of an old man who dares to accept reality, proudly walking alongside his child on a different path, capturing and cherishing every beautiful moment life offers.

Little Julie, with her pure innocence, is like an angel descended to perform a spiritual cleansing for the old man—a grown-up child who plunged into public life, poisoned by rat races, win-lose mindsets, and cunning tactics... treating them as normal.

Thanks to Merci, Lavie, and Julie, the old man learns to be more patient and reflect on himself. A guy who used to be aggressive in work and life, wanting to win much more than lose—where his stubborn fight came from, as if his very name fated his whole existence. He always wanted to shoot forward like an arrow. But why live so fast if it means missing the genuine smiles of your children? The man who walked back from the edge of death to the gateway of life, welcoming each angel, cleansed time and time again, finally realizes he has so much love left to cherish.

He remembers. The song from the kid Lavie: “Goodbye Roblox, goodbye FIFA too. Miss you so much, how could I forget; three summer months spent grinding games...”

The old man bursts into laughter, wrapping his boy and his little princess into his arms. Warmth, soft echoes.

The old man closes his diary. The Saigon sunlight falls as softly as a wink, giving a gentle nudge, whispering: See that? Pretty wonderful, isn’t it?

[Truyện] Người lạ - Phần 9 - Bản Ngã [The Stranger - Part 9 - The Self]









Vệt mực trên cao nguyên

Đà Lạt chiều nay lạnh một cách tàn nhẫn và kỳ quặc. Cái lạnh của cao nguyên Lâm Đồng không ngoạn mục, lấp lánh như tuyết rơi ở cõi Bắc Âu, mà thuộc về kiểu nhè nhẹ, luồn lách qua từng kẽ vớ, trườn qua da thịt rồi cắm phập vào tủy xương như thứ sương muối vô hình.

Minh đứng gầy gò ngay dốc Khu Hòa Bình—trái tim bận rộn và rực rỡ nhất của thành phố. Trước mặt cậu là bảng hiệu tiệm bánh Cối Xay Gió màu vàng chanh nổi bật, xung quanh là dòng người du khách tấp nấp qua lại, tay cầm ly đậu nành nóng hổi xả khói nghi ngút. Quán đã đóng, chỉ còn lại một bức tường màu vàng chanh chuẩn bị đi vào kỷ niệm. 

Bầu trời Đà Lạt lúc bốn giờ chiều là một thảm cảnh đối nghịch sắc màu: một bên phía đồi thông bạt ngàn rực lên chút ánh hoàng hôn đỏ quạnh, kiêu hãnh và đốt cháy vạt mây cuối cùng như ngọn lửa giận dữ; thế nhưng ngay bên kia, trên những mái nhà kính nối đuôi nhau chập chùng, một quầng mây xám xịt, quánh đặc giông bão đã đổ ập xuống, chực chờ nuốt chửng cả phố núi mù sương.

Giữa cái náo nhiệt, lung linh của Khu Hòa Bình, Minh dựng một tấm bảng carton nhỏ cắt ra từ thùng mì gói, trên đó viết bằng mực đen đậm hai dòng chữ song ngữ:

"Bạn đã có một ngày vất vả, hãy ôm tôi." (You have a struggling day. Hug me.)

Bịt mắt và đứng đợi. Cậu nhét hai bàn tay lạnh ngắt vào túi áo khoác đã sần vải. Ngón tay trỏ khẽ miết lên mép tấm postcard bằng giấy kraft cứng. Tấm bưu thiếp ấy Linh gửi cho cậu từ ba tuần trước—trên đó vẽ một góc ban công gỗ mù sương cùng dòng chữ viết tay bằng mực tím nhòe nhọt: "Nếu một ngày anh thấy em biến mất, đừng tìm em. Vì đó là lúc em đang học cách tha thứ cho chính mình."

Minh thở ra một hơi khói trắng. Cậu nhận ra mình giống như một gã mộng du lề mề đi tìm một cái bóng. Người qua kẻ lại nhìn cậu với ánh mắt tò mò, có kẻ xầm xì cười cợt, có người lướt qua như một cơn gió vô tình.

Cho đến khi một gã đàn ông tiến lại gần.

Minh cảm nhận được có một ai đó đang quan sát mình.

Minh cảm nhận chiếc áo khoác denim sần sùi bám mùi thuốc lá ngoại và hương xà phòng sát trùng hăng nồng. Rồi, không một lời báo trước, gã vòng tay ôm chầm lấy Minh.

Cái ôm của gã siết chặt, nặng trịch và nóng hổi. Mùi cồn y tế lạnh ngắt phả ra từ cổ áo gã, tiếng thở dốc hèn hèn nghe khẹc khẹc nơi lồng ngực, và sự rung lên nhè nhẹ từ bờ vai thô ráp—khiến Minh rùng mình rần rật. Trong vài giây ngắn ngủi ấy, Minh cảm thấy như mình đang va chạm với cả một khối kiệt quệ khổng lồ.

– Cảm ơn cậu em… – Gã nói, hơi thở khói thuốc nặng mùi lan qua – Lâu lắm rồi mới có đứa cho tôi dựa nhờ một nhịp mà không đòi tiền.


– Tôi sống đâu còn cho riêng tôi nữa. Tôi đang gồng gánh cho con gái tôi, và cả con bé Phương Lĩnh—đứa con gái mới bốn tuổi của chị gái tôi. Bà ngoại nó ở quê nay đã hơn sáu mươi, lưng còng gập như cành cây khô sau bão. Ngày mẹ bé Phương Lĩnh vác cái bụng bầu không gá nghĩa về nhà, thằng cha nó đã cuỗm sạch tiền rồi bỏ theo người khác. Bây giờ, một tay ông bà ngoại giương lưng nuôi cả bốn mẹ con cháu. Tôi mà không làm trụ cột, không cày ải gửi tiền về mỗi tháng thì cái nhà lá dưới quê sụp đổ mất. Minh như nghe tiếng nức nở của một gã đàn ông phong trần, tầm vóc cao ngang bằng mình, gã như thổn thức. 

- Cố gắng lên người anh em! Minh choàng tay mình ôm lại gã, đâu đó như thấy được  hai cánh tay chịt chịt những vệt mực gã tự họa lên chính mình—những hình khối kỳ dị, gai góc—Minh như từng chút một lần mò tìm về được ký ức trần trụi của gã thợ xăm.

Hẳn trong đôi mắt gã là cả một cuộc tranh đấu giằng xé dữ dội giữa giấc mơ nghệ thuật và thực tại phũ phàng. Gã từng khao khát trở thành một nghệ sĩ xăm hình thực thụ. Gã nhớ cái cảm giác sướng rần người, sướng phát điên ngày trước mỗi khi cầm cây kim xăm chạy rù rù, tạch tạch, tỉ mẩn đi từng nét tinh tế trên da thịt con người. Quá trình tạo nên một tác phẩm nghệ thuật với gã từng là thứ thánh đường linh thiêng—nơi từng dải màu chuyển sắc, từng mảng sáng tối hiện lên sống động như có lớp máu chảy cuộn trào bên dưới.

Nhưng rồi, cơm áo gạt phăng tất cả.

Giờ đây, ngày ngày gã phải bấm bụng làm những hình xăm công nghiệp: một bông hoa hồng đơn điệu, một dải chữ "Family is all" rập khuôn từ Pinterest, một con rồng nét thô ráp do những gã dân chơi miệt dốc yêu cầu... Gã làm chỉ để đáp ứng nhu cầu khách hàng, để đếm từng tệp tiền cắc gửi về quê nuôi bé Phương Lĩnh. Giấc mơ nghệ thuật tiếp tục tranh đấu, đập cánh tạch tạch trong vô vọng giữa những vệt mực thương mại.

– Có những đêm – Gã thì thầm, tay xoay xoay hũ mực đen – tôi cầm cây bút vẽ lên giấy, muốn vẽ một bức tranh về bầu trời Đà Lạt nghẹt thở này, nhưng vừa đặt nét bút xuống thì điện thoại reo: tiền sữa cho con, tiền thuốc cho mẹ. Cậu biết không, cái cảm giác mơ ước của mình bị đè bẹp xuống bởi mấy tờ hóa đơn, nó chua chát lắm.

Minh cảm nhận gã thợ xăm đã nhẹ bớt phần nào, và xa dần sau những cái ôm chặt.  

Một người lạ khác. Cậu đón nhận tiếp một cái ôm từ một cô gái trẻ tầm hai mươi tuổi, làm nghề dọn phòng cho các homestay trong khu vực. 

Cô gái ấy tên An. An lên Đà Lạt không phải để tìm sự lãng mạn như đám du khách thanh xuân, mà để trốn chạy một gia đình ngập trong nợ nần bài bạc ở miền Trung. An cất giọng khàn đục vì sương lạnh:

– Mỗi sáng em thức dậy lúc bốn giờ, lau dọn hàng chục chiếc ga giường nhăn nhúm của những cặp tình nhân lên đây hẹn hò. Em nhìn họ cười nói, chụp hình sống ảo, rồi em nhìn lại đôi bàn tay ăn nước tẩy phèn chắp vá của mình. Em mệt lắm anh ơi. Em thèm một ngày được nằm ườn ra mà không phải nghe tiếng chuông điện thoại đòi nợ của chủ lô đề dưới quê, không phải giả vờ mỉm cười phục vụ khách. Nhiều lúc đứng trên đỉnh đồi nhìn xuống thung lũng sâu hun hút, em chỉ muốn nhảy đại xuống cho xong một kiếp người…

Hai câu chuyện, hai kiếp người xa lạ nhưng cùng chung một mẫu số: sự kiệt quệ. Minh nhận ra, cái thành phố mộng mơ này thực chất là một cái lồng kính khổng lồ, nơi lưu giữ những tiếng thở dài kín đáo và bối rối nhất của tuổi trẻ.

ĐỐI TÂM 

Trời bắt đầu đổ mưa.

Trận mưa rả rích đặc trưng của Đà Lạt ập xuống mà không báo trước. Những giọt nước mưa đập vào ô cửa kính của quán cà phê nghe tách, tách, vừa gõ nhịp vừa làm nhòe đi toàn bộ ánh đèn vàng rực rỡ ngoài phố thị. Bầu trời ngoài kia hoàn toàn sụp đổ vào bóng tối; sự đối nghịch ban chiều biến mất, nhường chỗ cho một màu xám đục ngầu, tịch mịch và lạnh ngắt.

Minh ngồi thu mình trong góc quán, hai bàn tay đan vào nhau tìm chút hơi ấm. Cậu lấy từ trong túi ra tấm postcard của Linh. Lần theo từng nét chữ tím, từng dấu bưu điện đóng lệch trệch, Minh đối thoại với chính mình. Cậu lộn ngược tâm trí, đối diện với cái khoảng trống vô tận trong lồng ngực.

Vì sao Linh lại bỏ đi?

Linh—người bạn gái có nụ cười trong veo như nắng mỏng đầu mùa—đã chọn cách biến mất không một lời biệt lề. Nhưng đến bây giờ, khi đi qua những con hẻm hắt hiu, gặp những con người kiệt sức như Tuấn - gã thợ xăm, như An, Minh mới vỡ lẽ: Linh đi không phải vì hết yêu cậu, mà vì cô ấy nghẹt thở khi phải đối diện với chính bản thân mình.

Linh cũng như Minh, như Tuấn, như An và như hàng ngàn bạn trẻ khác trên chặng đường lớn khôn. Họ đang sống trong một thời đại kỳ lạ—một thời đại mà cuộc sống có quá nhiều kỳ vọng và đổi thay chóng mặt. Mạng xã hội phô bày hàng ngàn sự thành công hào nhoáng, tiêu chuẩn của xã hội và kỳ vọng của cha mẹ đè nặng lên vai, tạo thành những cuộc đua vô hình khiến người trẻ luôn cảm thấy mình là kẻ thất bại, bất tài và chậm chân.

Linh đã từng gục đầu khóc trên vai Minh trong một đêm Sài Gòn ngập khói xe: "Anh ơi, em không biết em muốn gì nữa. Em đi làm mỗi ngày tám tiếng, gõ bàn phím như một cỗ máy lập trình, tối về lướt điện thoại thấy bạn bè ai cũng thành đạt, cũng đi đây đi đó. Em thấy mình rỗng tuếch. Em sợ cái cảm giác mỗi sáng thức dậy mà không biết mình sống để làm gì, sợ phải đối diện với sự vô dụng của chính mình..."

Từ trong chiếc loa bluetooth góc quán, một bản nhạc lofi da diết, đang chao đảo hàng triệu lượt xem trên các nền tảng mạng xã hội bỗng vang lên. Tiếng hát đầy khắc khoải của người ca sĩ trẻ như xoáy thẳng vào khoảng không vô định:

"Chờ hoài một tia nắng ấm áp đến xua đi màn đêm..." "Ta loay hoay giữa những chọn lựa, đâu là đúng, đâu là sai?" "Liệu có ai nắm lấy tay ta giữa đại dương giông bão...?"

Lời bài hát vang lên rủ rê, hòa lẫn vào tiếng mưa đập chát chúa ngoài cửa kính.

Minh nhắm mắt lại. Cậu thấy hình ảnh của Linh, của Tuấn, của An và của chính cậu soi chiếu vào nhau. Tất cả họ đều là những đứa trẻ đứng giữa cánh đồng xanh mênh mông, mải miết chạy theo những trái bóng hư ảo của kỳ vọng, để rồi hoảng sợ, kiệt sức khi nhận ra ngay trước mặt mình là vực thẳm của sự trưởng thành. Những đứa trẻ sống lâu thèm được khóc, đến khi được khóc, nước mắt lại mất tâm.

Thành phố mù sương ngoài kia vẫn rì rào tiếng mưa. 

Minh rút chiếc bút kim ra, lật mặt sau tấm postcard của Linh. Dưới ánh đèn vàng vọt, cậu đặt bút viết tiếp một dòng chữ ngắn gọn:

"Linh à... Anh không tìm em để kéo em về lại cuộc sống ngột ngạt cũ nữa. Anh tìm em chỉ để nói rằng: Nếu em chưa biết mình muốn gì, không sao cả. Chúng mình có thể đứng lại giữa mù sương này, hít một hơi thật sâu, chấp nhận sự mông lung này như một phần của lớn khôn, rồi cùng nhau bắt đầu lại từ sự rỗng tuếch..."

Cậu gấp tấm bưu thiếp lại, đút vào túi áo, sát bên lồng ngực đang đập chậm rãi. Minh đứng dậy, đẩy cánh cửa kính bước ra ngoài cơn mưa sương cao nguyên. Cái lạnh đập thẳng vào mặt làm cậu tỉnh táo. Cậu biết, chặng đường lớn khôn này còn rất dài và nhiều giông bão, nhưng ít nhất, cậu đã ngừng sợ hãi cái khoảng trống bên trong mình.

Part 1:https://chienphan.blogspot.com/2025/11/truyen-nguoi-la-phan-1-story-stranger.html

Part 2: https://chienphan.blogspot.com/2025/11/truyen-nguoi-la-phan-2-vong-tay-nguoi.html

Part 3: https://chienphan.blogspot.com/2025/11/truyen-nguoi-la-phan-3-ba-co-thuong-con.html

Part 4: 

https://chienphan.blogspot.com/2025/12/truyen-nguoi-la-phan-4-gap-go-nhung-buc.html

Part 5: https://chienphan.blogspot.com/2025/12/truyen-nguoi-la-phan-5-toi-i-tim-toi.html

Part 6: https://chienphan.blogspot.com/2026/04/truyen-nguoi-la-phan-6-tro-chuyen.html

Phần 7:https://chienphan.blogspot.com/2026/04/truyen-nguoi-la-phan-7-podcast-stranger.html

Phần 8:https://chienphan.blogspot.com/2026/06/truyen-nguoi-la-phan-8-tieng-thet.html

***

Ink Stains on the Plateau

Đà Lạt this afternoon was brutally and strangely cold. The cold of the Lâm Đồng plateau wasn't spectacular or glittering like Northern European snowfall; it was subtle, sneaking through sock weaves, crawling over skin, and piercing deep into bone marrow like invisible frost.

Minh stood lean and solitary at the slope of Khu Hòa Bình—the busiest and most vibrant heart of the city. Before him was the prominent lemon-yellow storefront of the Cối Xay Gió bakery; all around, streams of tourists bustled past, holding hot cups of soy milk that released clouds of steam. The shop was closed, leaving only a bright yellow wall preparing to recede into memory.

The Đà Lạt sky at four in the afternoon was a tragic clash of colors: on one side, vast pine hills blazed with a crimson sunset, proud and burning away the final wisps of cloud like a furious flame; yet right on the other side, above the endless chain of greenhouses, a dark, heavy mass of storm clouds crashed down, threatening to swallow the mist-shrouded mountain town whole.

Amidst the lively, sparkling air of Khu Hòa Bình, Minh propped up a small cardboard sign cut from an instant noodle box, featuring two bilingual lines written in bold black ink:

"Bạn đã có một ngày vất vả, hãy ôm tôi." (You have a struggling day. Hug me.)

Blindfolded, he stood waiting. He thrust two freezing hands into the pockets of his worn jacket, index finger gently tracing the edge of a thick kraft paper postcard. Linh had sent him that postcard three weeks ago—featuring a sketch of a misty wooden balcony accompanied by handwritten words in smudged purple ink: "If one day you find I've disappeared, don't look for me. Because that's when I'm learning how to forgive myself."

Minh exhaled a white plume of vapor. He realized he was like a sluggish sleepwalker chasing a shadow. Passersby cast curious glances; some whispered and snickered, while others drifted past like an indifferent breeze.

Until a man approached.

Minh sensed someone observing him.

He felt the rough texture of a denim jacket clinging with the scent of imported cigarettes and sharp antiseptic soap. Then, without a word of warning, the man threw his arms around Minh.

His hug was tight, heavy, and hot. The cold smell of medical alcohol breathed from his collar, his raspy, wheezing breath rattled in his chest, and his broad shoulders trembled slightly—sending a shiver coursing through Minh. In those brief seconds, Minh felt as though he had collided with a monumental mass of sheer exhaustion.

"Thanks, kid..." the man said, his tobacco-laden breath spreading. "It's been a long time since anyone let me lean on them for a second without asking for money."

"I don't live for myself anymore. I'm carrying the weight for my daughter, and also for little Phương Lĩnh—my sister's four-year-old girl. Her grandmother back in the countryside is over sixty now, her back bent double like a dry branch after a storm. The day Phương Lĩnh's mother brought a fatherless belly back home, the bastard scooped up all the money and ran off with someone else. Now, my elderly parents are straining their backs to raise all four mothers and children. If I don't act as the pillar, if I don't grind every month to send money back, that thatched hut back home will collapse." Minh could hear the quiet weeping of a weathered man his own height; he seemed to be sobbing softly.

"Hang in there, brother!" Minh wrapped his arms around the man in return. Somewhere beneath his grip, he felt arms densely covered in ink marks the man had drawn on himself—bizarre, sharp, angular shapes—and bit by bit, Minh seemed to trace his way back into the tattoo artist's raw memories.

Surely, behind his eyes raged a violent conflict between an artistic dream and a grim reality. He had once longed to be a true tattoo artist. He remembered the thrill, the madness of joy in the past whenever he held the tattoo gun running with a soft buzz-click, meticulously carving delicate lines into human flesh. For him, the process of creating a piece of art had once been a sacred sanctuary—where shifting color gradients and play of light and shade emerged vividly, as if a pulse of blood ran just beneath the surface.

But then, the fight for daily bread swept it all away.

Now, day in and day out, he had to force himself to produce industrial tattoos: a generic rose, a cookie-cutter "Family is all" script pulled from Pinterest, a rough dragon requested by local street toughs... He did it purely to meet client demands, counting stacks of small bills to send back home to raise little Phương Lĩnh. His artistic dream kept fighting, flapping its wings helplessly in the dark amidst commercial ink stains.

"There are nights," he whispered, turning a jar of black ink in his hand, "when I hold a pen over paper, wanting to draw a picture of this suffocating Đà Lạt sky. But the moment the pen touches the paper, the phone rings: milk money for the kid, medicine money for Mom. You know, the feeling of having your dreams crushed beneath a few bills... it's incredibly bitter."

Minh felt the tattoo artist lighten somewhat, drifting away after their tight embrace.

Another stranger. He received the next hug from a young woman around twenty, working as a room cleaner for local homestays.

Her name was An. An hadn't come to Đà Lạt chasing youth romance like typical tourists, but to escape a family drowning in gambling debts in Central Vietnam. Her voice sounded raspy in the cold fog:

"Every morning I wake up at four, cleaning dozens of crumpled bedsheets of lovers who come here to date. I watch them laugh and talk, taking photos for social media, and then I look back at my own hands, raw and patched from bleach and well water. I'm so tired, brother. I crave a day when I can just lie still without hearing the phone ring with debt collectors from back home, without having to fake smiles to serve guests. Sometimes standing on the hilltop looking down into the deep, hollow valley, I just want to jump right down and be done with this life..."

Two stories, two stranger lives sharing a common denominator: exhaustion. Minh realized that this dreamy city was actually a giant glass cage, housing the most quiet and confused sighs of youth.

INNER DIALOGUE

It began to rain.

The drizzling rain typical of Đà Lạt broke without warning. Drops tapped against the glass window of the coffee shop with a tap-tap, keeping rhythm while blurring the brilliant yellow streetlights outside. The sky out there completely surrendered to darkness; the afternoon's contrast vanished, giving way to a murky, silent, and freezing gray.

Minh sat curled in a corner of the shop, hands interwoven seeking warmth. He pulled Linh's postcard from his pocket. Tracing each purple letter and crooked postmark, Minh entered an inner dialogue with himself. He turned his mind inside out, confronting the infinite void in his chest.

Why did Linh leave?

Linh—the girlfriend with a smile as clear as thin early-season sunshine—had chosen to vanish without a word of farewell. But only now, walking through lonely alleys and encountering exhausted souls like Tuấn the tattoo artist and An, did Minh realize: Linh hadn't left because she stopped loving him, but because she was suffocating when forced to face herself.

Linh was just like Minh, Tuấn, An, and thousands of other young people on the road to growing up. They were living in a strange era—an era where life held far too many expectations and dizzying changes. Social media displayed thousands of glamorous successes, while societal standards and parental expectations weighed heavily on their shoulders, forming invisible races that made young people feel perpetually failed, incompetent, and left behind.

Linh had once buried her face and cried on Minh's shoulder during a Saigon night thick with exhaust fumes: "I don't know what I want anymore. I go to work eight hours a day, typing on a keyboard like a programmed machine, then come home at night scrolling through my phone seeing all my friends successful and traveling everywhere. I feel hollow. I fear the feeling of waking up every morning not knowing what I'm living for, terrified of facing my own uselessness..."

From the bluetooth speaker in the shop corner, a poignant lofi track, racking up millions of views across social media platforms, suddenly resonated. The young singer's longing voice seemed to drill directly into the empty air:

"Waiting forever for a warm sunbeam to drive away the night..." "We struggle amidst choices—which is right, which is wrong?" "Will anyone hold our hand amidst a storm-tossed ocean...?"

The lyrics rose invitingly, mingling with the harsh beat of rain against the window pane.

Minh closed his eyes. He saw images of Linh, Tuấn, An, and himself reflecting off one another. All of them were children standing in a vast green field, chasing blindly after the phantom balls of expectation, only to panic and collapse from exhaustion upon realizing that directly ahead lay the cliff of adulthood. Children who lived long starved for a good cry, yet when allowed to weep, their tears lost their way.

The misty city outside kept whispering in the rain.

Minh pulled out his fine-liner pen and flipped over Linh's postcard. Under the sickly yellow light, he put pen to paper and wrote a brief line:

"Linh... I'm not looking for you to drag you back to that old suffocating life. I'm looking for you only to say: If you don't know what you want yet, it's okay. We can stand still right here in this fog, take a deep breath, accept this haze as a part of growing up, and start over together from empty space..."

He folded the postcard, tucked it into his pocket right beside his slowly beating heart. Minh stood up, pushed open the glass door, and stepped out into the high-plateau rain and mist. The cold hitting his face brought him clarity. He knew the path to maturity was still long and filled with many storms, but at the very least, he had stopped fearing the void within himself.

[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...