Chiến Phan

Thứ Hai, 16 tháng 2, 2026

[Book] Khi en đưa thoi - Nguyễn Hạnh tuyển chọn


"Thời gian giống như con thoi, dệt nên tấm vải của cuộc đời. Có những sợi tơ rực rỡ, có những sợi sẫm màu đau thương, nhưng chính sự đan xen đó mới tạo nên vẻ đẹp của một kiếp người." 

"Khi én đưa thoi" – thấm thoắt một năm nữa lại qua đi.

Giữa cái hối hả ấy, Em tranh thủ những chuyến hàng chuyển phát cuối cùng gửi vào Nam. Những đầu sách mới em chọn, và cả món quà em gửi tặng kèm theo – chính là quyển "Khi én đưa thoi". Đi cùng đó là một quyển lịch với những dòng chữ viết tay đầy ắp tâm tình, như một sự phản kháng dịu dàng đối với một thế giới công nghệ và máy tính đang phủ dày đặc lên đời sống. Tâm tình được gói lại, chân thành và ấm áp.

Tiêu đề cuốn sách gợi nhắc về sự hữu hạn của kiếp người, nhưng qua cách "em" trao tặng, nó lại mang hình hài của sự kết nối. Em và nó chúc nhau một năm mới, hẹn gặp lại với những ý tưởng còn dở dang của hai kẻ "nghiện" sách. Yêu đến vô cùng.

"Khi én đưa thoi" không phải là một cuốn tiểu thuyết với những cao trào thắt nút, mà là một tập hợp những câu chuyện ngắn, những tùy bút được tuyển chọn kỹ lưỡng. Mỗi trang sách là một "lát cắt" của đời sống: từ kỷ niệm về một mái hiên xưa, hương vị của một món ăn quê nhà cho đến những triết lý nhân sinh ẩn sau những sinh hoạt thường nhật.

Nội dung cuốn sách xoay quanh sự hữu hạn của kiếp người, nhưng không hề mang màu sắc bi lụy. Thay vào đó, nó gợi nhắc về sự kết nối giữa các thế hệ. Những câu chuyện được Nguyễn Hạnh tuyển chọn giúp người đọc nhận ra rằng, dù cuộc đời có trôi nhanh như "én đưa thoi", thì những giá trị về lòng trắc ẩn và sự tử tế vẫn là những sợi tơ bền chặt dệt nên tấm vải của định mệnh. Nó thấy trong đó những ý tưởng còn dở dang của hai kẻ "nghiện" sách, thấy một tình yêu vô cùng dành cho những điều nhỏ bé.

Nó nhớ lại lần đầu gặp em khi dấn thân vào "sóng" – những thử thách, những biến động của cuộc đời. Em vẫn thế, mang một tình yêu mới với ngôn từ, nắn nót từng dòng đầu trong bản thảo đầu tiên của nó. Ghẹo. Nó có một giám tuyển cấp cao về sách. Sự hiện diện của em không chỉ là một người bạn, mà là một "biên tập viên" cho chính tâm hồn nó, giúp nó nhặt nhạnh những mảnh niềm vui nhỏ bé dọc đường để không trở thành một linh hồn lưu vong trong chính cuộc đời mình.

"Thiên thần không đến để giải quyết rắc rối của ta, họ đến để nhắc ta rằng tâm hồn ta vẫn còn chỗ cho sự thanh sạch và khởi đầu mới."

Một năm qua đi, em chào đón một thiên thần nhỏ của riêng mình. Và nó cũng vậy, nó nhận ra một thiên thần xuất hiện để giúp mình thanh tẩy sau một quãng dài u mê của một năm cũ.

***


Time is like a shuttle, weaving the fabric of life. There are brilliant silk threads, and there are threads darkened by sorrow, but it is precisely that intertwining that creates the beauty of a human life."

"As time flies like a shuttle" – in the blink of an eye, another year has passed.

Amidst that hustle, She took advantage of the last delivery shipments sent to the South. The new book titles she chose, and even the gift she sent along – it was the book "Khi én đưa thoi." Accompanied by it was a calendar with handwritten words full of sentiment, like a gentle rebellion against a world of technology and computers that is covering everything thick. Sentiments wrapped up, sincere and warm.

1. The Form of Connection in the Finiteness of Life

The title of the book evokes the finiteness of human life, but through the way "she" gave it, it takes the form of connection. She and he wish each other a new year, looking forward to meeting again with the unfinished ideas of two "book addicts." Love to the extreme.

"Khi én đưa thoi" is not a novel with knotted climaxes, but a collection of short stories and carefully selected essays. Each page is a "slice" of life: from memories of an old porch, the flavor of a hometown dish to human philosophies hidden behind daily activities.

The content of the book revolves around the finiteness of human life, but it does not carry a mournful color. Instead, it reminds us of the connection between generations. The stories selected by Nguyen Hanh help readers realize that even though life flies by like a "shuttle," the values of compassion and kindness are still the sturdy silk threads weaving the fabric of destiny. He sees in it the unfinished ideas of two "book addicts," a boundless love for small things.

It recalls the first time It met her when embarking on the "waves" – the challenges, the upheavals of life. She is still the same, carrying a new love for words, meticulously writing the first lines in his first manuscript. Teasingly, he realizes he has a high-level curator for books. Her presence is not just as a friend, but as an "editor" for his own soul, helping him pick up small pieces of joy along the way so as not to become an exiled soul in his own life.

"Angels do not come to solve our troubles; they come to remind us that our souls still have room for purity and new beginnings."

A year has passed, she welcomed a little angel of her own. And it is the same, it realizes an angel appeared to help cleanse it after a long period of delusion of a past year.

The book by Nguyen Hanh, the gift from her, and the handwritten lines... all create a vivid memoir for the final days of the year. Keep walking, as steady as a Phoenix, and remain calm before the flow of time. Because, no matter how fast time flies, the sentiments wrapped up and the angels who have appeared will always be the anchor keeping us attached to our truest self.

[Musing of life] Chợ (14) - Phiên chợ cuối cùng - The Dream Sellers



Sài Gòn cuối năm. Nó, anh và chị, ba bóng người giữa dòng đời xuôi ngược, cố gắng sắp xếp một khoảng lặng để "neo" lại bên nhau. Vẫn như thuở nào, cuộc gặp chẳng vì một mục đích thực dụng gì cao siêu, chỉ đơn giản là để gặp. Để được nhìn thấy nhau vẫn ổn, để thăm hỏi, rồi miên man sang chuyện đời, chuyện vẽ, và cả những tầng nấc triết lý nhân sinh. Tượng hình. Nó ngồi đó, lặng lẽ như một mặt hồ, để mặc những quan điểm và chuyện trò soi bóng.  

Yêu thương. Tặng nhau những món quà, nhỏ thôi nhưng chứa đựng cả một trời tâm ý. Có lúc, câu chuyện trôi về "Chợ" – nơi nó đã sinh ra và lớn lên, nơi những lớp phù sa và mùi sình non đã nhào nặn nên cái tính cách gàn gàn của nó hôm nay. Hóa ra, môi trường không chỉ nuôi dưỡng thể xác, nó còn tạc nên hình hài cho cả linh hồn.

Cao thành, hai mươi bảy Tết. Ngày. Nó chở thằng nhóc Merci dạo một vòng quanh chợ quê. Không khí đặc quánh mùi Tết. Đó là mùi của hoa tươi, của trái chín vừa được chủ sạp "tắm táp" bằng những gáo nước mát lành, rồi khéo léo sắp xếp cho chúng phơi ra cái sắc diện lộng lẫy nhất, khiêu gợi nhất trong tầm mắt người qua. Là mùi mặn mòi của mồ hôi rịn ra trên những tấm lưng áo sờn, hòa trong tiếng bước chân chạy vội, tiếng xe lôi đi vội của những người sợ trễ nải một chuyến hàng.

Và có cả cái mùi ngai ngái, nồng nồng của đống rác ngổn ngang nơi góc chợ – những thứ dư thừa, dập nát bị quăng sang một bên, nằm nhẫn nại chờ kết thúc một phiên chợ để được dọn sạch một lần cho kịp giao thừa. Giữa cái mớ âm thanh mặc cả xôn xao, những sắc màu rực rỡ và cả những góc khuất xù xì ấy, Tết hiện ra vừa trần trụi, vừa lấp lánh lạ thường. Nó quay sang hỏi nhỏ:

  • "Con thấy chợ mình hôm nay đông vui không?"

Thằng nhóc nhìn dạt qua những gương mặt tất tả, rồi lắc đầu tỉnh bơ:

  • "Con thấy không thấy vui."

Nó cười, cái cười nửa miệng trước sự thành thật đến đau lòng của trẻ nhỏ. Người đông, kẻ mua người bán rộn rã thế mà lại không vui? Ngắm. Phóng tầm mắt ra xa, nó nhận ra chợ năm nay lưa thưa hơn hẳn. Những khoảng trống trên nền đất vốn mọi năm chật kín hoa trái, giờ bỗng mênh mông như nỗi lo của người bán.

Hai mươi bảy Tết. Đêm. Nó lại đưa Merci dạo quanh chợ thêm một lần nữa. Khi ánh mặt trời khuất dạng, chợ bắt đầu "lên đèn". Những bóng đèn dây tóc vàng vọt chong lên giữa các sạp hàng, đổ những cái bóng dài lố nhố xuống mặt đường. Kẻ bán ngồi đó, đôi mắt đăm đắm đợi chờ một người mua. Nhộn nhịp. Ánh sáng của sự sống bắt đầu nhảy múa trong mắt trẻ thơ. Thằng nhóc gật gù, vẻ mặt tràn đầy sự thỏa mãn:

  • "Chợ giờ mới thực sự đông vui, ba ha?"

Nó lặng im. Hóa ra cái vui của trẻ nhỏ nằm ở ánh đèn lấp lánh, còn cái vui của người lớn lại nằm ở sự vơi đi của hàng hóa. Đêm trắng bắt đầu giăng mùng trên những sạp hoa, chợ vẫn thức, và những giấc mơ về một cái Tết ấm cũng bắt đầu thức dậy.

Nước ròng rớt lại lớp sình non 

Ghe khóm, ghe dưa đậu mỏi mòn 

Hai mươi bảy Tết, đêm trắng xóa 

Mùng giăng kẽ chợ, giấc ngủ ngon?

Đèn dầu loe lét vạch màn sương 

Bà Hai quàng lại chiếc khăn rằn 

Tóc nhuộm màu khói, đời nhuộm nắng 

Chuyện đời chuyện khổ, gác bên chân.

Kìa cậu Tám cười, miệng phả khói 

Nhặt lá sâu đi, đợi rạng ngày 

Xếp hàng như thể lên nòng đạn 

Thắng bại, buồn vui... một chuyến này!

Người chở, người sấp giấc mơ bán 

Hoa thắm, trái tươi treo hy vọng 

Đổi lấy xuân sang, ấm chút lòng.

Đời chợ lênh đênh, đời cơm gạo 

Người mua kẻ bán, ai nhớ hông? 

Mà sỏi đá mòn, quên dấu tích.

Hai chín, Ba mươi, dòng sông cạn 

Chợ vãn người đi, lệ chảy dài 

Giấc mơ vừa bán, vừa mua lại 

Gói ghém niềm thương... đợi sớm mai.

Người đi buôn những hồn xưa cũ 

Có nhớ đêm nay, buổi chợ này? 

Lời ru đứt quãng, một đời chợ 

Vẫn giữ niềm yêu... đến tận cùng.

***



Saigon at the year's end. Him, his brother, and his sister—three silhouettes amidst the ebbing and flowing tide of life—striving to arrange a moment of stillness to "anchor" themselves together. As always, the meeting serves no grand utilitarian purpose; it is simply to meet. To see that each is still okay, to inquire after one another, and then to drift into stories of life, of painting, and the many layers of human philosophy. Figurative. He sits there, quiet as the surface of a lake, letting their perspectives and conversations reflect upon him.

Affection. They exchange gifts—small things, yet containing a whole heaven of intent. At times, the conversation drifts toward "The Market"—the place where he was born and raised, where layers of silt and the scent of fresh mud molded his stubborn, eccentric character of today. It turns out, the environment does not only nourish the physical body; it carves the very shape of the soul.

Cao Lãnh, the 27th of Tết. Daytime. He takes little Merci for a ride around the country market. The air is thick with the scent of Tết. It is the fragrance of fresh flowers and ripe fruits just "bathed" by the stall owners with ladles of cool water, then skillfully arranged to expose their most splendid, most seductive forms to the eyes of passersby. It is the briny scent of sweat soaking through frayed shirt-backs, mingling with the sound of hurried footsteps and the rush of trailers driven by those fearing they might be late for a shipment.

And then there is the pungent, heavy smell of the sprawling piles of trash in the market corners—the surplus, the bruised and battered goods tossed aside, lying patiently for the market to end so they can be cleared away in time for New Year’s Eve. Between the cacophony of haggling voices, the brilliant colors, and those rough, hidden corners, Tết reveals itself as both raw and extraordinarily glittering. He turns and asks softly:

"Do you think our market is bustling and fun today?" The boy looks across the frantic faces and shakes his head nonchalantly:

"I don’t think it’s fun." He smiles—a half-smile at the heartbreaking honesty of a child. Crowds of people, buyers and sellers in a ruckus, and yet it isn't "fun"? Observing. Looking further out, he realizes the market this year is significantly sparser. The empty spaces on the ground, which in previous years were packed with flowers and fruit, now suddenly feel as vast as the sellers' worries.

The 27th of Tết. Night. He takes Merci around the market once more. As the sun vanishes, the market begins to "light up." Flickering incandescent bulbs are hoisted between stalls, casting long, jumbled shadows onto the road. The sellers sit there, their eyes fixed in anticipation of a buyer. Bustling. The light of life begins to dance in the child's eyes. The boy nods, his face full of satisfaction:

"The market is truly fun now, right Dad?" He remains silent. It turns out a child's joy lies in the sparkling lights, while an adult's joy lies in the thinning of the goods. A white night begins as mosquito nets are pitched over flower stalls; the market stays awake, and dreams of a warm Tết begin to rouse.


The Verse of the Market

The low tide leaves behind a layer of fresh mud, Boats of pineapples and melons moored in weariness. The twenty-seventh of Tết, a night turned stark white, Mosquito nets pitched in market stalls—is sleep truly sweet?

The oil lamp flickers, piercing the veil of mist, Granny Hai re-wraps her checkered khăn rằn scarf. Hair dyed the color of smoke, a life dyed by the sun, The sorrows of the world are set aside at her feet.

There is Uncle Tam, smiling as smoke exhales from his lips, Picking off pest-eaten leaves, waiting for the break of day. Arranging his goods like loading a rifle's chamber, Victory or defeat, joy or sorrow... it all hinges on this one trip!

People hauling, people arranging dreams for sale, Bright flowers, fresh fruits—anchors for hope, To trade for a coming Spring, to warm the heart a little.

A market life adrift, a life of rice and grain, Buyers and sellers—will anyone remember? While the pebbles wear away, and footprints vanish.

The twenty-ninth, the thirtieth—the river runs dry, The market thins, people depart, tears flow long. A dream just sold, then bought back once more, Packing up lingering affections... waiting for the morrow.

Those who trade in the souls of the ancient past, Do you remember this night, this market session? Lullabies broken, a lifetime spent at the market,

Still holding onto love... until the very end.

[Book] Trò chuyện với chính mình - Ethan Kross


"Nghi lễ tạo ra trật tự trong sự hỗn loạn. Khi bạn không thể điều khiển thế giới bên ngoài, hãy bắt đầu bằng việc điều khiển cách bạn pha một tách trà."

Cuốn sách của Ethan Kross đến như một bản hướng dẫn kỹ thuật – kẻ đứng ở giữa – học cách điều hành cái nhà hát nội tâm đầy náo nhiệt ấy.

Ethan Kross chỉ ra rằng tiếng nói nội tâm vốn là một món quà của tiến hóa, giúp chúng ta lập kế hoạch và ghi nhớ. Nhưng khi gặp khó khăn , tiếng nói ấy thường biến thành "Chatter" – những tiếng lầm rầm tiêu cực, lặp đi lặp lại khiến ta nghẹt thở.

Nó chợt nhớ đến bi kịch trong Những đứa trẻ bị bỏ quên. Sự im lặng bên ngoài đôi khi che giấu những tiếng thét lầm rầm bên trong. Khi ta bị kẹt trong những suy nghĩ tiêu cực, ta sẽ rơi vào trạng thái "phó mặc" linh hồn mình cho sự hoảng loạn. Kross dạy ta rằng: tiếng nói đó có thể là một huấn luyện viên tài ba, nhưng cũng có thể là một kẻ bắt nạt tàn nhẫn nhất nếu ta không biết cách "hiện diện" để điều chỉnh nó.

"Tiếng nói trong đầu chúng ta có thể là người bạn thân nhất, nhưng cũng là kẻ thù đáng sợ nhất. Bí mật nằm ở chỗ chúng ta chọn cách đứng ở đâu để lắng nghe nó."

Một trong những kỹ thuật mạnh mẽ nhất mà Kross giới thiệu là "Tự đối thoại cách biệt" (Distanced Self-talk). Thay vì dùng đại từ "tôi", hãy gọi tên chính mình. "Này, định làm gì tiếp đây?". Khi gọi tên mình, ta tự tạo ra một khoảng cách, biến mình thành một quan sát viên – giống hệt cách "Trương Tử" đứng ở giữa để nhìn thấu suốt nhân gian mà không bị cuốn vào dòng xoáy của nó.

Điều này kết nối kỳ lạ với triết lý của Adler trong Dám bị ghét. Khi ta đứng từ xa nhìn vào vấn đề của chính mình, ta dễ dàng thực hiện việc "phân chia nhiệm vụ". Nỗi sợ bị ghét hay phức cảm tự ti lúc này chỉ còn là những dữ liệu để quan sát, thay vì là những xiềng xích ghì chân ta lại. Ta thoát khỏi cái "tôi" ái kỷ để nhìn thấy một bức tranh toàn cảnh rộng lớn hơn, giống như cách Tenzin Priyadarshi nhìn về miền bí ẩn của Himalayas từ phòng thí nghiệm tại MIT.

Kross cũng nhắc đến sức mạnh của môi trường và các nghi lễ (rituals). Khi cuộc sống quá hỗn loạn, một không gian ngăn nắp hoặc một thói quen nhỏ (như nhấp ngụm trà sớm dưới bầu trời vảy cá) sẽ giúp não bộ tìm lại cảm giác kiểm soát.

"Thiên nhiên là liều thuốc giải độc cho tiếng lầm rầm nội tâm. Một cái nhìn vào bầu trời rộng mở sẽ giúp bạn thu nhỏ ống kính của nỗi đau cá nhân."

Cuốn sách của Ethan Kross nhắc nhở nó rằng: Để không bị "bỏ quên", chúng ta phải học cách trò chuyện với chính mình một cách thông tuệ.Trò chuyện với chính mình không phải để tự lừa dối, mà để tìm thấy sự thực hiện diện ngay tại đây, lúc này.

***


"Rituals create order in chaos. When you cannot control the world outside, start by controlling the way you brew a cup of tea."

The book by Ethan Kross serves as a technical manual—the middleman—to learn how to direct that bustling internal theater. Kross points out that our inner voice is an evolutionary gift, helping us plan and remember. But during hardships, that voice often turns into "Chatter"—negative, repetitive whispers that leave us suffocating.

It (the character) suddenly recalls the tragedy in "Nobody Knows". Sometimes, external silence hides a roaring scream within. When we are trapped in negative thoughts, we fall into a state of "neglecting" our souls to panic. Kross teaches us: that voice can be a brilliant coach, but it can also be the most ruthless bully if we do not know how to be "present" to adjust it.

"The voice in our head can be our best friend, but also our most terrifying enemy. The secret lies in where we choose to stand to listen to it."

One of the most powerful techniques Kross introduces is "Distanced Self-talk." Instead of using the pronoun "I," call yourself by your name. "Hey [Name], what are you going to do next?" By naming oneself, one creates a distance, turning into an observer—exactly how "Truong Tu" stands in the middle to see through the world without being swept away by its vortex.

This connects strangely with Adler's philosophy in "The Courage to Be Disliked." When we look at our own problems from a distance, it becomes easier to perform the "separation of tasks." The fear of being disliked or an inferiority complex then becomes mere data to observe, rather than chains holding us back. We escape the narcissistic "Self" to see a broader panoramic view, much like how Tenzin Priyadarshi gazed toward the mystery of the Himalayas from a laboratory at MIT.

Kross also mentions the power of environment and rituals. When life is too chaotic, an organized space or a small habit (like taking a sip of early tea under a mackerel sky) helps the brain regain a sense of control.

"Nature is the antidote to internal chatter. A glance at the vast sky helps you shrink the lens of personal pain."

Ethan Kross’s book reminds it: to avoid being "forgotten," we must learn to converse with ourselves wisely. Talking to oneself is not about self-deception; it is about finding the truth of presence, right here, right now.

Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2026

[Book] Loan - Từ cuộc đời của một con chim Phượng Hoàng - Isabelle Muller

"Con chim Phượng Hoàng không sinh ra từ sự may mắn, nó sinh ra từ đống tro tàn của những nỗi đau mà nó đã dũng cảm đi xuyên qua."

Vội vã. Nó rời khỏi văn phòng của Tự Lực Văn Đoàn, nơi những mái đầu xanh đang tranh đấu cho một thẩm mỹ mới, để bắt chuyến xe ngược thời gian, tìm về phía thượng nguồn. Ở đó, nó nghe Loan kể về cuộc đời mình—một người con gái sinh ra từ một cụm dân tộc thiểu số vùng cao, để rồi bị rượt đuổi bởi một định mệnh nghiệt ngã, hóa thân thành một con chim Phượng Hoàng tái sinh từ tro tàn.

"Dòng đời là một chuỗi dài vô tận của những sự tình cờ, trùng hợp liên tiếp nhau tạo thành số phận. Có những con người ta bắt gặp dọc đường, đến tận cuối đời vẫn chẳng thể nào quên."

Bà Loan (tên thật là Hà Đỗ) bước vào đời trong một số phận hẩm hiu của một người phụ nữ vùng cao những năm 1930. Cô bé Loan mười hai tuổi đã bị chính gia đình mình "phó mặc"—bị gả bán để đổi lấy một con bò, bị đẩy vào cuộc hôn nhân cưỡng ép đầy tủi nhục.

Loan không chọn cách trở thành nạn nhân. Cô không để mình bị giam cầm trong vòng xoáy của định mệnh. Loan đã chạy trốn, trở thành một "me Tây", theo chân anh chàng lính Pháp từ Bắc vào Nam, rồi vượt ngàn trùng đại dương đến với "Thủ đô Ánh sáng" Paris. Một cuộc đào thoát đầy kiêu hãnh nhưng cũng đầy vết sẹo, khi bà đứt ruột phải bỏ lại đứa con của mình nơi quê nhà—một nỗi đau âm ỉ cháy suốt dọc dài lịch sử.

"Mẹ không kể về nỗi đau không phải vì mẹ đã quên, mà vì mẹ muốn các con lớn lên với một trái tim không mang vết sẹo của quá khứ."

Cuộc đời bà Loan là một chuỗi dài vô tận của những sự tình cờ và trùng hợp liên tiếp, kết lại thành một sợi dây số phận bền bỉ. Ở Paris, giữa sự lạc lõng của một linh hồn lưu vong, bà đã gặp lại những người bạn, những ân nhân như "anh Phan"—người đã gửi gắm niềm tin, giúp đỡ bằng cả lời khuyên lẫn tiền bạc để bà có đủ nghị lực mà "sống tiếp".

Giống như những người đàn ông thời Hậu khoa cử của Ben Tran, Loan cũng phải loay hoay giữa hồn cốt Việt và sự thích nghi với văn hóa trời Tây. Nhưng nếu các trí thức thời đó u sầu trong những bộ âu phục, thì Loan lại lầm lũi hiện diện bằng sự thấu cảm thầm lặng. Bà làm lụng cực khổ để bảo vệ các con, dùng sự hy sinh của mình để xây dựng một nền móng gia đình vững chắc. Bà không phải là "con chim nhại" bị bắn rơi bởi định kiến, bà là con chim Phượng Hoàng, mỗi lần bị lửa đời thiêu rụi lại là một lần bà chọn cách tái sinh rực rỡ hơn.

"Hạnh phúc không phải là không có đau khổ, hạnh phúc là khi ta tìm thấy sự hiện diện của chính mình ngay cả trong những lúc nghẹt thở nhất của số phận."

Ngồi bên thềm nhà, lắng nghe Isabelle—đứa con của Loan—kể lại câu chuyện của mẹ mình trong những ngày cuối cùng của năm, nó nhận ra rằng hồi ký chính là cách chúng ta nhặt nhạnh những mảnh vỡ của sự tình cờ để tạo nên hình hài cho quá khứ. Con đường của Loan đã bắt gặp những con người mà đến tận cuối đời bà vẫn chẳng thể quên, những gương mặt đã cùng bà đi qua bão giông và định kiến.

Sự im lặng của bà về quá khứ đau thương suốt nhiều năm trời không phải là sự lẩn tránh, mà là một hành động bảo vệ. Chỉ đến khi những thước phim đời bà hiện lên qua lời kể của Isabelle, người ta mới thấy một phiên tòa của lịch sử, nơi nhân phẩm được phục hồi từ những khốn cùng nhất.

Hãy cứ bước đi, vững vàng như một con chim Phượng Hoàng. Hồi ký từ đó mà ra, để lưu giữ lại hơi thở của những người đã sống và yêu đến tận cùng.

***


Loan: The Rebirth of a Phoenix from the Ashes of Destiny

"The Phoenix is not born of luck; it is born from the ashes of the pain it has bravely passed through."

In a rush. It leaves the office of the Self-Reliance Literary Group (Tự Lực Văn Đoàn), where young minds fight for a new aesthetic, to catch a ride back in time toward the headwaters. There, it hears Loan telling her life story—a girl born in a highland ethnic minority community, only to be chased by a cruel fate, transforming into a Phoenix reborn from the ashes.

"Life is an endless chain of coincidences and accidents that together form destiny. There are people we meet along the way whom we can never forget until the very end of our lives."

Loan (born Hà Đỗ) entered life with the unfortunate fate of a highland woman in the 1930s. At twelve years old, she was "abandoned" by her own family—sold for a cow, pushed into a humiliating forced marriage.

Loan did not choose to be a victim. She did not let herself be imprisoned in the vortex of destiny. She fled, becoming a "me Tây" (a Westerner's wife), following a French soldier from North to South, then crossing thousands of miles of ocean to the "City of Light," Paris. A proud yet scarred escape, as she heart-wrenchingly had to leave her child behind in her homeland—a pain that smoldered throughout the long stretch of history.

"Mother does not tell of her pain not because she has forgotten, but because she wants her children to grow up with hearts that bear no scars of the past."

Loan's life was an endless chain of coincidences, weaving together a resilient cord of fate. In Paris, amidst the isolation of an exiled soul, she met friends and benefactors like "Brother Phan"—who provided faith and help through both advice and money so she had the strength to "keep living."

Like the men of the Post-Mandarin era in Ben Tran's writing, Loan also struggled between her Vietnamese roots and adapting to Western culture. But while the intellectuals of that time were melancholy in their European suits, Loan was quietly present through silent empathy. She worked tirelessly to protect her children, using her sacrifice to build a solid family foundation. She was not the "mockingbird" shot down by prejudice; she was the Phoenix, each time consumed by the fires of life, choosing to be reborn even more brilliantly.

"Happiness is not the absence of suffering; happiness is when we find our own presence even in the most suffocating moments of fate."

Sitting on the doorstep, listening to Isabelle—Loan's child—retell her mother's story in the final days of the year, it realizes that memoirs are how we pick up pieces of coincidence to shape the past. Loan's path encountered people she could never forget until the end of her life, faces that walked with her through storms and prejudice.

Her silence about her painful past for many years was not an evasion, but an act of protection. Only when the films of her life surfaced through Isabelle's narration did people witness a trial of history, where dignity was restored from the deepest misery.

Keep walking, as steady as a Phoenix. That is where memoirs come from, to preserve the breath of those who have lived and loved to the very end.

Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

[Musing of life] Chợ (13) - Những Kẻ bán giấc mơ - The Dream Sellers



Hai mươi Tết.

Thành phố bắt đầu lác đác những bóng người chở giấc mơ đi bán. Những giấc mơ được bứng từ phù sa sông nước miền Tây, nương theo những chuyến xe tải đêm, đổ về rải rác khắp các vỉa hè Sài Gòn. Họ gom góp cả mùa hoa, rồi chở theo hy vọng về một cái Tết ấm hơn để rao bán giữa lòng phố thị.

“Bị đuổi dữ quá em ơi,” người đàn ông nói khẽ phía sau hàng rào trường Mỹ Thuật. Nó đứng đó, phía trong sân, chờ thằng nhóc đá bóng xong. Dưới ánh đèn nhập nhem của buổi tối, cái màu vàng nhạt nhòa của đèn đường đổ xuống, hằn rõ gương mặt đã nhuốm màu sương gió. Chiếc áo sơ mi sọc sờn vai, cũ kỹ như chính cuộc đời lữ thứ của ông. Khắc khổ. Hờn mát.

Nó đã không mua hoa của ông. Một cặp vợ chồng khác đã chen ngang, tự nhận mình là chủ qua thái độ, cắt đứt lời giới thiệu đầy vẻ cầu khẩn đó bằng một cái lắc đầu khước từ nhanh chóng cho “vận chuyển”. Đốp chát. Mấy lời “sao mà vận chuyển”. Họ còn chưa kịp nghe ông báo giá bao nhiêu cặp cúc. Họ chỉ biết mình cần đẩy hoa đi cho nhanh trước khi đô thị đến dẹp bãi. Phố không cho phép lấn chiếm vỉa hè, dù là để bày ra những giấc mơ rực rỡ nhất. Giá hoa: một trăm ngàn một cặp cúc. Rẻ đến nhói lòng.



Hai mươi ba Tết.

“Cao bao nhiêu rồi con trai?” Nó mỉm cười nhìn chú nhóc nhà mình. Thằng bé đứng dậy, lừng lững giữa những nhành mai đang độ chớm nụ. Những chậu mai không che khuất nổi cái chiều cao đang lớn nhanh như thổi của thằng nhóc.

Công viên Lê Văn Tám hôm nay ngợp đầy những giấc mơ. Người ta tìm đến đây để chọn lấy một chút sắc màu, rồi chở sự rạng rỡ về nhà với mắn may đặt vào trong diễn giải.

“Con cao hai mét rồi,” thằng nhóc thủng thỉnh trả lời sau lớp kính cận dày cộm..

Biết. Thằng nhóc đang học ở Bách Khoa. Gần như là duyên nợ, có một sự tình cợ tạo thành duyên nợ với ngô trường này. Trò chuyện. Biết được người anh giờ đã là trưởng khoa, chúng tôi lướt qua nhau trên cuộc sống này. Nó bắt đầu trở về những giấc mơ về nhà. Một cặp cúc còn 300 ngàn; đêm trước là 350 ngàn. 

Nhớ. Người mang giấc mơ về phố, họ bắt đầu tính toán những chi phí đè nặng lên đôi vai: tiền xe tải, tiền thuê khoảnh đất trống lấp đầy cỏ dại để biến thành bãi hoa, tiền công cán, điện nước trong vỏn vẹn chục ngày tá túc đất khách.

Đợi chờ. Những người sẻ chia về cuộc sống, họ có tiền và có cả sự thấu cảm. Họ mua sớm để bù đắp cho những người đến sau có lòng nhưng túi tiền eo hẹp hơn. Trách ai? Bây giờ biết trách ai khi ai cũng đang cầm trên tay một giấc mơ cần rao bán. Ở ngay hiện tại này.

Sài Gòn đón những kẻ bán và người mua bằng những trận mưa lớn bất chợt. Mưa xối xả, như muốn thử thách đức tin của những người làm nghề hoa.

Hai mươi bốn Tết.

Cao Lãnh đón về bằng cái rộn rã riêng của quê nhà. Không khí dịu lại, bớt đi cái gắt gỏng của đô thành. Nhưng người quê giờ cũng chẳng còn như năm nao. Nó dạo qua phố, qua chợ, nghe những lời thăm hỏi quen thuộc. Xót xa.

Con đường vào chợ giờ cũng được kẻ ô, dựng sạp. Bánh mứt, bao lì xì, giấy dán xanh đỏ… Tất cả đều phơi mình ra đó để chờ đợi một giấc mơ. Họ bán cho người khác niềm vui ngày Tết, để đổi lấy cho mình một chút vốn liếng cho năm mới sắp sang. Rồi chính họ, cũng sẽ đi mua lại một giấc mơ ở những giờ khắc cuối cùng của phiên chợ cuối năm.

Nó chở đám trẻ đi, ê a nói về những con sông giờ đang rút cạn, trơ ra cả lòng sông sâu hoắm. Thủy triều. Nó giải thích với con rằng nơi này, ngày xưa ba từng bơi lội, từng ngụp lặn trong dòng nước mát lành. Giờ thì đất lấn sông, bê tông lấn cỏ. Con sông không còn chảy thẳng một dòng. Tắc nghẽn.

Quê nhà đã hóa bê tông . Một ngôi chợ mới lại chuẩn bị mọc lên. Một ngôi chợ lớn đến ba tầng. Thở ngắn, than dài. Người nói về ngôi chợ sắp hoàn thành kia. Một giấc mơ mới lại chuẩn bị gắn liền với nợ nần. Ai không tiền thì được “hỗ trợ vay”. Nhưng nếu không vay thì biết bán ở nơi nào? Một câu hỏi rơi tõm vào im lặng không lời đáp.

Lần hồi. Họ đi tìm chỗ trước. Những con người gắn liền với chợ, lại tiếp tục hòa vào dòng người, họ đứng, họ ngồi, họ rao. Tết là gì đối với họ? Tết là lúc tranh thủ những ngày cuối cùng để chở đi và rao bán giấc mơ cho người khác được may mắn, đủ đầy. Để rồi họ mua lại cho chính mình một hiện tại, hoặc một tương lai ngắn ngủi chỉ vừa bằng ba ngày Tết.

Và rồi họ sẽ lại chuẩn bị cho trận chiến cuối cùng. Hai mươi bảy, hai mươi tám, rồi hai mươi chín… lúc đó mới định đoạt thắng thua. Họ cứ nói về thắng thua, mấy đời rồi vẫn vậy. Thắng hay thua thì họ vẫn cứ miệt mài với chợ, như một kẻ tình si trung thành. Dẫu bị cuộc đời phụ bạc bao lần, họ vẫn cứ giữ vẹn một niềm tin yêu vào mùa xuân tới, vào chợ, như thể lỡ yêu rồi. Biết sao. Thương, những kẻ bán giấc mơ.

***



The 20th of Tết.

The city begins to see scattered shadows of people carrying dreams for sale. These dreams were uprooted from the silt of the Mekong Delta, hitching rides on midnight trucks to pour onto the sidewalks of Saigon. They gathered an entire season of blossoms, hauling hopes for a warmer Tết to hawk amidst the heart of the city.

“They’ve been chasing us away so much, kid,” a man whispered from behind the fence of the University of Fine Arts. I stood there, inside the yard, waiting for my boy to finish his football game. Under the flickering evening lights, the pale yellow of the streetlamps fell, etching clearly a face weathered by sun and wind. A striped shirt, frayed at the shoulders, as worn out as his own nomadic life. Hardship. Resentment.

I did not buy his flowers. Another couple cut in, asserting their ownership through their demeanor, severing his pleading introduction with a swift, dismissive shake of the head regarding "delivery." Snappy. Remarks like “how could you even deliver these?” They didn't even wait to hear his price for a pair of chrysanthemums. They only knew they needed to push their own flowers fast before the urban authorities cleared the lot. The streets do not allow sidewalk encroachment, even to display the most brilliant dreams. The price: one hundred thousand dong for a pair of chrysanthemums. Heartbreakingly cheap.


The 23rd of Tết.

“How tall are you now, son?” I smiled at my little lad. He stood up, towering amidst the apricot branches just beginning to bud. The pots of apricot blossoms couldn't hide a height that was growing like a weed.

Lê Văn Tám Park today is overwhelmed with dreams. People come here to pick a bit of color, carrying radiance back home with "luck" tucked into their interpretations.

“I’m two meters tall now,” the boy replied nonchalantly behind his thick glasses.

I know. The boy is studying at the University of Technology (Bach Khoa). It’s almost like destiny—a series of coincidences that formed a bond with this school. We chatted. Learning that his older brother is now a Dean, we brushed past each other in this life. I began to return to my own dreams of home. A pair of chrysanthemums is now 300 thousand; the night before, it was 350.

Remembering. Those who bring dreams to the city begin to calculate the costs weighing on their shoulders: truck rentals, the fee for a vacant plot cleared of weeds to become a flower stall, labor, electricity, and water—all for a mere ten days of taking refuge in a stranger’s land.

Waiting. Those who share in life; they have money and they have empathy. They buy early to compensate for those who come later with a willing heart but a tighter purse. Who is to blame? Who can be blamed when everyone is holding a dream in their hands that needs to be sold. Right here, in this present.

Saigon greets the sellers and buyers with sudden, heavy rains. A downpour, as if to test the faith of those who live by the flower.


The 24th of Tết.

Cao Lãnh welcomes me back with the unique bustle of home. The air softens, losing the harshness of the metropolis. But the country folk are no longer as they were in years past. I strolled through the streets, through the market, hearing familiar greetings. Aching.

The roads leading to the market are now gridded into stalls. Jams, red envelopes, crimson paper... everything is laid bare, waiting for a dream. They sell the joy of Tết to others to exchange for a bit of capital for the coming year. Then they, too, will go buy back a dream in the final hours of the year-end market.

I drove the children along, listening to them babble about the rivers now receding, exposing a deep, hollow riverbed. The tide. I explained to my children that here, once upon a time, Dad used to swim and dive in the cool, fresh water. Now, the land encroaches on the river, and concrete encroaches on the grass. The river no longer flows in a straight line. Congestion.

Home has turned to concrete. A new market is about to rise. A grand market, three stories high. Short breaths, long sighs. People talk about that nearly finished market. A new dream is about to be tied to debt. Those without money are offered "loan support." But if they don't take the loan, where will they sell? A question that drops into a silence with no answer.

Bit by bit. They go to find a spot first. Those whose lives are tied to the market continue to merge into the crowd—standing, sitting, hawking. What is Tết to them? Tết is the time to seize the final days to haul away and sell dreams of luck and abundance to others. Only then can they buy for themselves a present, or a future as short as the three days of Tết.

And then they will prepare for the final battle. The 27th, the 28th, then the 29th... only then is victory or defeat decided. They talk of winning and losing; it’s been this way for generations. Win or lose, they remain diligently devoted to the market, like a loyal, lovestruck fool. Though betrayed by life a thousand times, they still keep a whole heart of faith and love for the coming spring, for the market, as if they've already fallen too deep in love. What can be done? Pity, the dream sellers.

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2026

Nhật ký của cha - Julie chậm nói [Dad's diary - Slow to speak]


Mọi thứ hiện rõ hơn lúc nào hết. Ông già ôm cô nhóc Julie vào lòng; thì thầm lời “xin lỗi”, ông già chẳng biết điều đó có phải muộn màng không. Ông già chỉ thấy mình không bình thường, chứ chẳng phải là cô nhóc.

Julie im lặng. Cô nhóc nhìn ông già bằng đôi mắt to tròn, trong veo như thể vừa được vớt lên từ một dòng suối. Ông già nhìn lên bầu trời Sài Gòn những ngày cuối năm. Những áng mây không trôi, chúng xếp lớp, san sát và đều đặn như lớp vảy của một con cá kình khổng lồ đang lặng lẽ băng qua đại dương không trung. Một bầu trời vảy cá. Đẹp đến mức nghẹt thở, một sự thay đổi thầm lặng của thời tiết, hay là của chính tâm hồn một gã đàn ông đang tập làm cha.


Takashimaya, tầng 5. Chị đến. Vẫn dáng vẻ ấy, nhưng ánh mắt đã khác. Người đàn bà thép của Toyota ngày nào. Giờ đây, chất thép dường như đã được tôi luyện để trở nên mềm mại hơn, như những nét cọ trên toan. Chớp mắt.

Mười năm. Một thập kỷ trôi qua kể từ ngày chị quyết định bước chân ra đi, rời bỏ những hào quang rực rỡ của quyền lực để đi tìm một bản ngã khác. Mười năm, đủ để một đứa trẻ trưởng thành, và đủ để những gã đàn ông như ông già nhận ra tóc mình đã pha sương nhiều hơn những gì mình tưởng.

Hỏi han. Sẻ chia. Về hội họa, về những bức vẽ bằng cọ kim. Ông già lắng nghe, thấy trong lời chị có cả những tiếng vang của quá khứ và cả sự thanh thản của hiện tại. 

Trải lòng với chị. Về một góc nhìn khác của ông già tập tành làm cha.

Dấu che. Sự lười biếng của chính mình. Ông già nhận ra mình đã phó thác thiên chức của mình cho người khác. Từ giáo viên, những chuyên gia cho đến bác sĩ. Tất cả được gọi tên như những cứu cánh, nhưng thực chất là những tấm bình phong để ông già che đậy sự thiếu hụt thời gian dành cho sự yêu thương. Yêu chưa đủ rộng. 

Ông già thấy mình lười biếng. Chỉ cần dễ dàng gán một lý do là xong, chuyện còn lại để người khác lo. Nhẹ. Ông già có một lý do chính đáng để sống: kiếm tiền. Kiếm tiền tự dưng được hợp thức hóa một cách tối thượng. Lạ. Những sự phân công lao động từ thời ăn lông ở lỗ chẳng quay trở lại để phân rõ đàn ông săn bắn, đàn bà hái lượm. Giờ tất cả đều hái lượm như nhau trên cánh đồng tiền. Công việc kiếm tiền trở thành một biểu tượng của sự bình đẳng. Vô tình. Việc chăm sóc một đứa trẻ  được xem là gánh nặng mà người ta muốn “giải phóng” bằng cách thuê mướn sự quan tâm. Thương chưa đủ sâu. 

Nhớ. Chuyện trò.



Ông già ngồi với chàng trai người Anh. Một gã với thân hình phốp pháp, tâm đắc chia sẻ về những quan sát của bản thân trong hành trình dấn thân cùng với những đứa trẻ đặc biệt. Kết luận có thể chấp nhận là gene. Những phân tích chằng chịt sau một dặm đường đi qua các nước, để rồi gã dừng chân lại tại Việt Nam, thành gia lập thất trong một khuôn viên đủ rộng cho vài đứa trẻ chơi đùa. 

Sài Gòn lúc đó nắng ở ban trưa. Ông già im lặng và chẳng muốn gửi cô nhóc mình vào đó. Nơi ấy quá chuyên nghiệp, quá đúng quy trình, nhưng nó quá giống những nơi đã từng khiến Julie cảm thấy mình là đặc biệt thay vì là một đứa trẻ cần được yêu thương. Rộng sâu.

Sài Gòn cuối năm. Một ngôi trường dành cho trẻ con của dân expat. Nhà trường cố gắng liên hệ và sắp xếp cho một buổi gặp riêng. Nó diễn ra tại một Pola Cafe.

Cô nhóc tự xưng là giáo viên, diện chiếc đầm xinh, đủ rộng để che đi những khuyết điểm của thân hình, nhưng không giấu nổi nụ cười tỏa nắng. Một cô gái trẻ với những món “đạo cụ” chơi với trẻ, những món đồ ông già chất đầy trong ba lô. 

Những bài kiểm tra, những thử thách tâm lý được đưa ra. Julie vượt qua tất cả. Hững hờ. Ông già và cô nhóc Julie như thể đã ngán ngấm với những điều lập đi lập lại, có những cái tên đặt cạnh, ghép từ, gom chữ là “chuyên môn”, “chuyên gia”...đủ cả… Mệt. Cô nhóc chẳng quan tâm đến những tiêu chuẩn của giới chuyên gia. Cô nhóc chỉ thích chuyện trò và chơi với ông già. Nghệch ngoạc những gam màu trên giấy, lắng nghe ông già nói. Ngộ. Ông già chẳng nói về cô nhóc, ông già nói về chính mình nhiều hơn. Nói như một sự tự thú với cô giáo trẻ, với người lạ và như là với tất cả.

Tủm tỉm. Cô nhóc cười.

Cô gái trẻ nhìn ông già và Julie, thấy họ thân đến lạ. Như hai người bạn bước ra cách nhau một khoảng không, một khoảng đời, giờ tình cờ gặp lại. Nhớ. Ai đó từng nói: con gái là người tình kiếp trước của cha? Chẳng biết. Ông già chỉ thấy mình sáng ra một điều gì đó rất cũ nhưng lại rất mới. Ngã giá. Ông già im lặng, cố gắng giấu đi một nụ cười chua chát. Nghĩ. Ông già đúng là chẳng phải người bình thường. Kẻ bình thường sẽ lo lắng cho tương lai của đứa trẻ chậm nói, còn kẻ chẳng bình thường này lại đang ghen tị với sự tự do trong tâm hồn của nó.

Sài Gòn đêm.



Trong khi thưởng thức những ly bia vừa cạn, các cô gái trẻ ở nhà bên cạnh cũng bắt đầu qua giao lưu. Bước ra ngoài, ông già nhìn biển hiệu. Đó là một viện Bi C chuyên dành cho trẻ con đặc biệt. Cô giám đốc trẻ giải thích ý nghĩa của chữ Bi là “tương lai hạnh phúc”. Tại một trời đêm Quận 7, khi chén tạc chén thù, ông già thấy những con người này quá trẻ. Họ dấn thân vào ngành giáo dục đặc biệt này, có phải vì đam mê, hay đơn giản vì nơi đấy dễ dàng cho họ một cái nghề để mưu sinh trong một xã hội đang ngày càng nhiều những đứa trẻ “chậm bước”?

Cuộc sống như thể luôn công bằng theo cách nghiệt ngã nhất, cố gắng tạo ra những công việc mới từ chính nỗi đau và sự lười biếng của những kẻ tập làm cha như ông già.i.

Ông già thấy mình lười. Lười chơi với trẻ. Lười kiên nhẫn. Ông già chưa từng chơi về cô nhóc thiên thần một cách toàn tâm. Bao lần, ông già vứt hết mọi thứ lên bàn: bút màu, đồ chơi, giấy vẽ … Bao bận, như thể bản thân có tiền rồi cứ thế vứt ra để mua lấy sự rảnh rang. Ông già đã quên bản thân từng nghèo khó ra sao. 

Một lẽ. Ông già cho đám trẻ chơi hết bao nhiêu loại bút cùng một lúc thay vì tuần tự từng màu một, chỉ để bản thân có thể thoải mái lướt trên màn hình điện thoại, để thỏa mãn với những ngôn từ bóng bẩy trong lúc đọc, lúc viết những thứ mà đôi khi chính mình cũng chẳng hiểu hết.

Hỏi. Đọc với viết thứ gì khi mà lời nói với đứa con trước mặt còn chưa vẹn tròn? Lượm từ, gom chữ, gộp thành câu. 

Tưởng. Một nếp nhà. Cô nhóc nhỏ, ông già và một bà vú.

Tượng. Căn hẻm nhỏ, một hoạt cảnh diễn ra. Cô công chúa nhỏ đi tìm đồ ăn, gặp phải “bà phù thủy” ngăn chặn. Cô công chúa ngồi khóc ấm ức. Và rồi xuất hiện một “Vua cha”, một chàng hoàng tử từ kiếp trước để mang công chúa khám phá những vùng đất mới. Họ tìm thấy một ốc đảo của những món ngọt.

Đó là món mì tươi, kéo dài như vô tận, trong khói nghi ngút bốc lên được nấu vừa chín tới. Là món bánh ngọt đẹp mắt, cô nhóc Julie chẳng mặn mà với phần cốt bánh, cô nhóc chỉ thích nếm lớp kem tươi mịn màng, thơm tho và ngọt dịu được tạo ra từ trứng. Cô công chúa thích nhất những viên kẹo ngọt bọc đường và sô-cô-la. Ông già ngồi gom lại những món con ăn, viết những dòng ghi chú. 

Đó là hành trình của ông già dẫn cô nhóc đi chơi ở một buổi ban trưa. Khi cô nhóc của ông già bắt đầu ê a rồi lại tắt lịm. Ơ hờ. Ông già từng xem đó như một điều lặp lại tương tự một ông anh, một sự hiển nhiên cho đến khi sự im lặng của con trở thành một tiếng thét vang dội trong tâm thức ông.

“Chúng ta dơ dái hơn chúng ta nghĩ.”

Đó là suy nghĩ của ông già khi đứng trước sự trong sáng của Julie. Cô nhóc như một thiên thần hạ phạm để soi rọi những góc khuất tăm tối nhất. Ông già lặp lại lời nhận định đó với cô gái trẻ ngồi trong bàn cafe.

Nhớ. Ông già phát hiện ra điều đó trong những khoảnh khắc phải dọn vệ sinh cho con. Ông già thấy mình đã từng cảm thấy xấu hổ. Xấu hổ và lúng túng trước những ánh mắt dò xét của người xung quanh. Ông già gán cho mọi người cái suy nghĩ rằng họ sẽ thấy gớm ghiếc trước việc một đứa trẻ vệ sinh không đúng chỗ. Tthoát ra. Ông già thấy, có hét, có la và có cả bạo lực chuẩn bị trào dâng. Đấy chẳng phải là vì mình? 

Lạ. Trẻ nào chẳng phải học từ đầu? Julie hoàn toàn chẳng suy nghĩ gì đến việc đó. Mắc thì đi. Dơ thì rửa. Sạch lại ngay. Chỉ có đứa trẻ “sống lâu” như ông già mới mang nặng cảm giác dơ dái và sĩ diện. Thật ra, ngay khi có suy nghĩ đó, ngay khi đặt sự xấu hổ của mình lên trên nhu cầu sinh học tự nhiên của con, thì ông già đã dơ lắm rồi. Sự dơ dái của một tâm hồn đã bị vẩn đục bởi xung quanh.

Không sao đâu! Bình tĩnh mà sống!

Ông già bắt đầu đi tìm lại lời ru. Ông mở những đoạn video trên mạng để nghe cùng cô nhóc. Lời ru của Nam Bộ. “Ầu ơ ví dầu…”. Những câu ca dao, tục ngữ bắt đầu được ngân lên dưới ánh sáng của đôi mắt xoe tròn.

Ông già ôm cô nhóc vào lòng, bắt đầu ngân nga những lời hát mà chính mình cũng chưa thuộc hết lời. Những câu ru chỉ còn vỏn vẹn một vài từ vụn vặt, như thể chúng đã rơi rớt hết trên dặm đường lớn khôn đầy tham vọng. Ngôn từ viết ra cho thiên hạ đọc thì nhiều, nhưng lời hát cho con thì lại quên đi tất cả.

Lạ thay, Julie bắt đầu phản ứng. Cô nhóc bắt đầu trò chuyện với ông già bằng những âm điệu riêng biệt, bắt đầu hát theo những bài ca chưa thuộc hết lời ấy. Thì thầm. Ông già xin lỗi cô con gái. Xin lỗi vì đã đẩy con vào những trung tâm, những phòng mạch, những nơi vốn dĩ chẳng bình thường để chữa trị cho một đứa trẻ mà sự "bất thường" duy nhất là nó quá tinh khôi.

Tất cả xuất phát từ suy nghĩ của một gã cha chẳng bình thường. Một gã lười biếng và dơ dái, từng tưởng rằng tiền bạc và chuyên gia là biểu hiện của tình yêu.

Bầu trời vảy cá trên cao vẫn im lìm. Sài Gòn vẫn hối hả ngoài kia với những áp lực của sự thay đổi, của việc phải nhanh hơn, giỏi hơn. Nhưng ở đây, trong vòng tay của ông già, Julie vẫn đang chậm rãi tận hưởng viên kẹo sô-cô-la của mình.

Ông già nhận ra: Julie không cần được chữa trị hay thanh tẩy, như tiếng kinh, tiếng Pháp, tiếng chú mở rào rạo ở đêm về. Chính ông già mới là người cần được Julie thanh tẩy.

“Ầu ơ… cầu ván đóng đinh… cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi…” hay mấy khúc hát thiếu nhi “bà ơi bà cháu yêu bà lắm..”

Tiếng hát của hai cha con hòa vào nhau. Lavie chậm nói rồi đến Julie. Chậm để chờ yêu thương. Chậm để lắng nghe một ông già, một gã sống lâu, tự hỏi: lòng rộng bao nhiêu, yêu sâu thế nào? 

Ông già và thiên thần Julie dắt nhau đi trong ánh nắng chiều cuối năm. Bàng bạc. Phố chuẩn bị lên đèn.

***

Everything is clearer than ever. The Old Man holds little Julie in his arms; whispers a "sorry," not knowing if it’s too late. The Old Man realizes he is the one who isn't normal, not her.

Julie is silent. She looks at him with large, round eyes, as clear as if they had just been dipped in a mountain stream. The Old Man looks up at the Saigon sky at year's end. Clouds don't drift; they layer, close and orderly like the scales of a giant whale quietly traversing the ocean of space. A mackerel sky. Breathlessly beautiful—a subtle shift in the weather, or perhaps in the soul of a man learning to be a father.

Takashimaya, 5th floor.

She arrives. The same silhouette, yet the eyes are different. The "Iron Lady" of Toyota of yesteryear. Now, that steel seems to have been tempered to become softer, like brushstrokes on canvas.

Blink.

Ten years. A decade has passed since the day she decided to walk away, leaving behind the brilliant halo of power to seek a different self. Ten years—long enough for a child to grow up, and enough for men like the Old Man to realize their hair is more frost-streaked than they imagined.

Ask. Share.

About art, about paintings crafted with needle brushes. The Old Man listens, finding in her words both the echoes of the past and the tranquility of the present.

Confide.

Opening up to her. About another perspective of an old man practicing fatherhood. About the struggles of learning to speak the language of children, and the realization that being a father is a different kind of "power"—one that requires not steel, but a soul wide enough to wait and deep enough to love.

Reflect.

Ten years ago, they met for business. Ten years later, they meet for the soul. It turns out, the peak of any journey isn't standing on the highest mountain, but finding a friend to sit with, amidst the bustling 5th floor, and looking back at a clear horizon of thought.

Masking. His own laziness. The Old Man realizes he has entrusted his divine mission to others. From teachers and specialists to doctors. All summoned as saviors, but in reality, they were screens to hide his lack of time for love. Love, not yet wide enough.

The Old Man finds himself lazy. Just easy enough to pin it on an excuse, and leave the rest to others. Lightly. He has a valid reason to live: making money. Making money suddenly becomes supremely justified. Strange. The division of labor from the hunter-gatherer era doesn't return to clearly separate men hunting and women gathering. Now everyone gathers the same on the fields of currency. Earning money becomes a symbol of equality. Unintentionally. Caring for a child is seen as a burden one wants to be "liberated" from by hiring concern. Love, not yet deep enough.

Remembrance. Conversations.

The Old Man sits with an English lad. A portly man, passionately sharing his observations from a journey immersed with special children. An acceptable conclusion: genes. Tangled analyses after a mile of travel through various countries, only to stop in Vietnam, starting a family in a compound large enough for a few kids to play.

Saigon was midday sun then. The Old Man was silent, unwilling to send his little girl there. It was too professional, too much by the book, but it felt too much like the places that once made Julie feel "special" instead of just a child needing love. Deep and wide.

Saigon, year-end. A school for expats. The school tries to coordinate and arrange a private meeting. It takes place at a Pola Cafe.

The young woman claiming to be a teacher wears a pretty dress, wide enough to hide the flaws of her body, but unable to hide her sunlit smile. A young girl with her "props" for playing with children, items the Old Man had stuffed into his backpack.

Tests and psychological challenges are presented. Julie passes them all. Indifferently. The Old Man and Julie seem fed up with the repetitions—the labels placed side by side, gathering words like "expertise," "expert"... all of it. Tired. She doesn't care about the standards of the specialist world. She only wants to talk and play with the Old Man. Scribbling colors on paper, listening to him speak. Oddly. The Old Man doesn't talk about her; he talks about himself more. Speaking like a confession to the young teacher, to the stranger, and as if to everyone.

Smirk. The little girl laughs.

The young teacher looks at the Old Man and Julie, seeing an intimacy that is strangely close. Like two friends stepping out from a gap in time, a gap in life, meeting again. Remembrance. Someone once said: a daughter is a father's lover from a previous life? Who knows. The Old Man only sees himself enlightened by something very old yet very new. Negotiation. He is silent, trying to hide a bitter smile. Thinking. The Old Man truly isn't normal. A normal person would worry about the future of a non-verbal child, while this abnormal one is jealous of the freedom in her soul.

Saigon night.

While enjoying recently emptied beers, the young girls from next door begin to socialize. Walking out, the Old Man looks at the sign. It’s a "Bi C Institute" specifically for special children. The young director explains that "Bi" stands for "Happy Future." In a District 7 night, as glasses clink, the Old Man sees these people as too young. Do they enter this special education field out of passion, or simply because it offers an easy career in a society with more and more "slow-walking" children?

Life seems always fair in the cruelest way, trying to create new jobs from the pain and laziness of those learning to be fathers like him.

The Old Man feels lazy. Lazy to play with the child. Lazy to be patient. He has never fully played with his heavenly girl with all his heart. How many times has he thrown everything on the table: crayons, toys, drawing paper… How many times, as if having money meant he could just throw it out to buy his own leisure. He has forgotten how poor he once was.

One point. He lets the kids play with many pens at once instead of one by one, just so he can comfortably scroll through his phone, satisfying himself with polished words while reading and writing things he sometimes doesn't even fully understand.

Asking. What is there to read or write when the words to the child in front of him are not yet complete? Gathering words, collecting letters, merging them into sentences.

Imaging. A household. A little girl, the Old Man, and a nanny.

Statue. A small alley, a scene unfolds. The little princess goes to find food, blocked by a "witch." She sits crying in frustration. And then appears a "King Father," a prince from a past life to take the princess to explore new lands. They find an oasis of sweets.

Fresh noodles, stretching as if into infinity, amidst rising steam, cooked just right. A beautiful cake; Julie isn't interested in the cake itself, she only likes to taste the smooth, fragrant, and sweet fresh cream made from eggs. The princess loves the sugar-coated candies and chocolates best. The Old Man sits collecting the items his child eats, writing down notes.

It’s the journey of the Old Man taking the girl out in the middle of a noon day. When his little girl begins to babble and then falls silent again. Indifferently. He once saw it as a repetition of an older brother, a given, until the child's silence became a echoing scream in his consciousness.

"We are filthier than we think."

That was the Old Man's thought standing before Julie's purity. She is like a heavenly angel descended to illuminate the darkest corners. He repeats this observation to the young girl sitting at the cafe table.

Remembrance. He discovered this during moments of cleaning up after his child. He realized he had once felt ashamed. Ashamed and awkward under the searching eyes of those around him. He projected onto everyone the thought that they would find the misplaced sanitation of his children disgusting. Breaking out. He sees, there is screaming, shouting, and even violence ready to surge. Isn't that because of himself?

Strange. Which child doesn't have to learn from the beginning? Julie thinks nothing of it. If she needs to go, she goes. If it's dirty, she washes it. Clean again instantly. Only the "long-lived" child like the Old Man carries the heavy feeling of filth and pride. In truth, the moment he had that thought, the moment he placed his own shame above his child's natural biological needs, he was already very filthy. A soul tainted by its surroundings.

It's okay! Live calmly!

The Old Man begins to seek out lullabies again. He opens internet videos to listen with her. Lullabies of the Southern region. "Au o vi dau..." Lullabies and proverbs begin to resonate under the light of her wide-open eyes.

He holds her in his arms, beginning to hum songs he hasn't even fully learned the lyrics to. The lullabies are down to just a few scattered words, as if they had all fallen off along the ambitious road of growing up. Plenty of words written for the world to read, but the songs for his child are all forgotten.

Strangely, Julie begins to react. She starts talking to him with distinct tones, begins to sing along to the songs she hasn't fully learned. Whispering. The Old Man apologizes to his daughter. Apologizes for pushing her into centers, clinics, places that were fundamentally not normal, to treat a child whose only "abnormality" was being too pure.

It all stems from the thoughts of an abnormal father. A lazy and filthy man, who once thought money and experts were expressions of love.

The mackerel sky above remains still. Saigon is still hurried out there with the pressures of change, of having to be faster, better. But here, in the Old Man's arms, Julie is still slowly enjoying her chocolate candy.

The Old Man realizes: Julie doesn't need to be treated or purified like the scriptures, the French, or the mantras played loudly into the night. It is the Old Man who needs Julie’s purification.

"Au o... the wooden bridge is nailed... the bamboo bridge is precarious and difficult to cross..." or children's songs like "Grandma, I love you so much..."

The songs of father and daughter merge. Lavie was slow to speak, and then Julie. Slow to wait for love. Slow to listen to an old man, a long-lived lad, asking himself: how wide is the heart, how deep is the love?

The Old Man and the angel Julie lead each other through the late afternoon sun. Silvery. The city is preparing to light up.

[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...