Chiến Phan

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

[Tản mạn cuộc sống] Ly hôn - Khi đàn chim chọn cách rời nhau - Divorce – When the Flock Chooses to Part

 


“Thiên trường địa cửu nguyện lúc đầu

Vật hóa tinh di hận về sau”

“Mày đừng hỏi mẹ nó đâu nghe, con nhỏ nó nghe nó buồn... tao với mẹ nó đã li dị rồi.”

Sài Gòn đêm. Bệnh viện Nhi Đồng 2 chẳng còn nằm lọt thỏm giữa những tàng cây cổ thụ xanh rì, nó đã được chặt bớt đi, để nhường lại cho tòa nhà bê tông hóa, tầng 2, nơi mà không khí vốn dĩ phải tĩnh mịch thì nay lại bị xé toạc bởi tiếng ho của trẻ con và tiếng thở dài của người lớn. Thời tiết những ngày này hung hăng lạ kỳ, lúc nắng rát bỏng tay, lúc lại ẩm ương se sắt khiến cô nhóc nhà nó sụt sịt mãi chẳng thành giấc.

Giữa cái hành lang bệnh viện nồng nặc mùi ê-te và sự mệt mỏi chực chờ, nó giật mình khi nghe tiếng gọi quen thuộc. Là thằng bạn cùng bàn thời đại học đầy tự do. Thằng bạn nhận ra từ giọng nói nó.

Dưới ánh đèn neon hắt hiu, thằng bạn vẫn là ánh mắt đằng sau chiếc kính cận dày cộm, hàm răng lúc nào cũng nở một nụ cười chực sẵn như một thói quen tự vệ, mái tóc đã điểm bạc phần nhiều. Nó và thằng bạn, là một trong ba đứa ngồi ở cái băng ghế cuối cùng, trông lẻ loi như một nốt lặng lạc nhịp ở một giảng đường đại học.

Thằng bạn nó giỏi. Giỏi từ hồi còn ngồi ghế giảng đường, khi đám bạn còn mải mê với những vần thơ hay những giấc mơ bay bổng, nó đã biết cách lùng sục để kiếm những đồng tiền đầu tiên, hiểu về một nghiệp vụ ngoại thương thực tế. 

Giờ. Ly cà phê đen đặc, làn khói thuốc tàn bốc lên cay xè mắt, cả đám ngày đó lao vào kiếm sống, để rồi dùng sự bận rộn làm cái lý do chính đáng nhất để quên mất việc hỏi thăm nhau dù chỉ là online.

Nó vừa định mở lời hỏi thăm vợ con bạn, thì thằng bạn xua tay, nụ cười hơi méo xệch: – “Mày đừng hỏi mẹ nó đâu nghe, con nhỏ nó nghe nó buồn... tao với mẹ nó đã li dị rồi.”


Câu nói nhẹ tênh mà nặng nghìn cân. Nó khựng lại, thấy mình như vừa đâm sầm vào một bức tường vô hình. Li dị. Hai chữ ấy vang lên trong không gian đặc quánh, xao xác lòng. Thằng bạn nó giờ đứng trước một ngã đường mới, có phải là tự do, hay một sự trống trải đến rợn người.

Người ta tìm nhau, lập đàn, rồi lại tan đàn. Kiếp nhân sinh này sao giống một mùa cư trú của loài chim di cư đến thế? Bay đi, tìm về, rồi lại chọn cách tách đàn để bay về một phương trời đơn độc khác. Liệu cái sự "kết thúc" đó có thật sự là một sự "giải thoát", hay chỉ là một cách trốn chạy sự ngột ngạt của những ngộ nhận ban đầu?

“Tìm hoài chưa thấy đâu câu trả lời” 

***

Nó bỗng nhớ đến một người anh. Một đêm còn ủ nắng ngang tàng đổ lửa hắt lên từ đường nhựa, anh kể cho nó nghe về khoảnh khắc anh bước ra khỏi cửa nhà mình, chẳng mang theo gì. Anh không ngoảnh lại. Thấy rõ. Bóng dáng đứa con nhỏ đang ngồi nép vào góc tường, nơi chiếc cầu thang nhỏ hẹp đã lên màu rêu phong của thời gian.

Hình ảnh đứa trẻ ấy khắc sâu vào tâm can anh như một vết sẹo không bao giờ lành. Anh đi, đầu không ngoảnh lại, nhưng sau lưng không phải là "thềm nắng lá rơi đầy" thơ mộng của Quang Dũng, mà là một vực thẳm của sự dằn vặt. Anh hứa sẽ cho con những điều tốt nhất, nhưng "tốt nhất" là gì thì chính anh cũng chẳng rõ. Phải chăng là những tờ chi phiếu gửi về mỗi tháng, hay là một mái ấm đã bị xé đôi mà anh chẳng cách nào dán lại được?

Tự hỏi. Chẳng rõ. Lời nguyện cầu ngày ấy tìm đâu: “nguyện thề đến năm mươi năm về sau”  

Nhớ. 

Nó về nhà, nhìn mẹ – "người tình tóc bạc" của nó. Bà ngồi đó, dưới ánh sáng vàng vọt của buổi chiều tà, đôi tay nhăn nheo lần tràng hạt hoặc có khi chỉ ngồi thẫn thờ nhìn ra khoảng sân vắng. Bà có một quy tắc sắt đá cho đám trẻ "sống lâu" trong nhà: – “Đời bà chỉ đi rước dâu mỗi thằng một lần thôi. Đứa nào làm hỏng, bà không đi nữa.”

Câu nói nửa đùa nửa thật của mẹ mang theo cả một hệ tư tưởng cũ kỹ nhưng kiên định. Với bà, hôn nhân là một sự gắn kết thiêng liêng, không phải là thứ trang phục muốn thay là thay, muốn cởi là cởi. Mẹ sợ cái cảnh "tan đàn xẻ nghé", sợ những đứa trẻ phải ngơ ngác nhìn cha mẹ chúng chia đôi thế giới. 

Nhưng thế hệ của nó lại khác. Nó thấy ngập đầy trên những trang giấy báo, trên các diễn đàn, trên cả những hồ sơ phê duyệt mỗi ngày là những tờ xác nhận ly hôn xanh xao. Người ta quyết định nhanh hơn, dứt khoát hơn. Họ gọi đó là sự sống thật với bản thân, là không chấp nhận một sự ngộ nhận kéo dài.


Kể. Anh, chị nghe. Ở một trưa nắng ngang tàng, leo thang lên lầu 5 ở một Sài Gòn Center dùng bữa.

Nó đem chuyện này nói với anh, với chị trong một buổi ăn trưa. Nơi gặp nhau định kỳ, tất cả nói về văn chương, về triết đo, về việc con người ta đôi khi sống cả đời chỉ để nhận ra mình đã... chọn nhầm.

– “Có lý lẽ cho là một sự ngộ nhận,” chị nói. Nhưng anh cười nhạt: – “Ngay cả khi biết đó là sự ngộ nhận, liệu ta có chắc rằng đó có thật sự là ngộ nhận không?”. Lặng. Nó nghĩ. “Vậy liệu tiếp theo có là sự ngộ nhận mới? Hay ta lại tiếp tục xây một cái tổ mới, rồi lại đợi mùa di trú tiếp theo để bay đi?”

Cuộc sống vốn dĩ thong thả ra đi theo cách của nó. Nó cứ thế ghi nhận những gì cuộc đời ban tặng, cả những nụ cười rạng rỡ của đôi trẻ ngày cưới, lẫn những giọt nước mắt thầm lặng của người đàn ông đứng ở góc khuất bệnh viện nhi đồng.

Mọi lựa chọn đều có cái giá của nó. Có người chọn ở lại trong một chiếc lồng chật hẹp để giữ lấy hơi ấm của bầy đàn. Có người chọn tung cánh bay đi để tìm sự tự do, dẫu biết rằng phía trước là bão tố và sự cô độc. Chẳng biết đâu mà lần. 


Sau cùng, nó nhận ra rằng cuộc sống không chỉ có hai màu đen trắng của "bắt đầu" và "kết thúc". Nó là một dải màu đa sắc, nơi có cả sự đau đớn của chia lìa và sự ấm áp của những tình cảm chân thành không vị lợi. Thằng bạn nó vẫn sẽ tiếp tục kiếm tiền, vẫn sẽ yêu con nó theo cách riêng của một kẻ tách đàn. Anh nó vẫn sẽ mang theo hình ảnh đứa trẻ nơi cầu thang như một động lực để sống và tìm những điều “tốt nhất” cho con.

Hóa ra, dù đàn có tan, dù chim có bay đi muôn hướng, thì tình yêu thương vẫn là sợi dây vô hình kết nối những mảnh vỡ lại với nhau. 

Mọi thứ rồi sẽ trôi đi, thong thả và lặng lẽ. Nó đứng dậy, bế cô nhóc bước ra khỏi sảnh bệnh viện. Ngoài kia, Sài Gòn bắt đầu trở mình cho một ngày mới. Người ta vẫn sẽ tìm thấy nhau, vẫn sẽ lập đàn, và dẫu có tan đàn đi chăng nữa, thì mặt trời vẫn sẽ mọc, và lòng người vẫn sẽ tìm thấy một bến đỗ bình yên nào đó giữa dòng đời xuôi ngược.

Cảm ơn cuộc sống vì những ngộ nhận, để ta biết trân trọng hơn những phút giây thật lòng.

Cảm ơn.

***

"Heaven and earth are eternal, so was the vow at the start,

But as stars shift and worlds turn, only resentment fills the heart."

“Don’t ask where her mother is, okay? The little one will get sad if she hears... her mother and it have divorced.”

Saigon at night. Children’s Hospital 2 no longer sits tucked away beneath a canopy of lush ancient trees; many have been felled to make way for concrete expansion. On the second floor, the air that should have been tranquil is instead pierced by the coughing of children and the heavy sighs of adults. The weather lately has been strangely aggressive—scorching heat one moment, followed by a damp, biting chill the next, leaving its little girl sniffling and unable to find a deep sleep.

In the hospital corridor, thick with the scent of ether and lingering exhaustion, it was startled by a familiar call. It was its old desk-mate from those free-spirited university days. The friend had recognized it simply by its voice.

Under the dim neon lights, its friend still wore that look behind thick spectacles, with a smile always at the ready—a defensive habit. His hair, however, was now mostly silver. Back in the university lecture halls, it and his friend were part of a trio sitting on the back bench, looking like a lonely, off-beat rest note in a grand symphony.

Its friend was brilliant. He had been brilliant since their student days; while the rest of the gang was lost in verses of poetry or soaring dreams, he already knew how to scout for his first earnings, understanding the reality of foreign trade operations.

Now. Over a cup of thick black coffee, with cigarette smoke rising to sting the eyes, it thought of how they all rushed into making a living back then, eventually using "busyness" as the most justifiable excuse to forget to check in on one another, even online.

It was just about to ask after his friend's wife and child when the friend waved his hand, his smile twisting slightly: “Don’t ask where her mother is, okay? The little one will get sad if she hears... her mother and it have divorced.”

The words were feather-light yet weighed a thousand tons. It froze, feeling as though it had slammed into an invisible wall. Divorce. The two words echoed through the heavy air, unsettling its soul. Its friend now stood at a new crossroad—was it freedom, or a bone-chilling emptiness?

People find each other, form a flock, and then the flock scatters. Why is this human existence so much like the migratory season of birds? Flying away, seeking a home, then choosing to break from the flock to fly toward another solitary horizon. Is this "ending" truly a "release," or just a way to escape the suffocation of initial misconceptions?

“Searching forever, yet the answer is nowhere to be found.”


It suddenly remembered an older brother. On a night when the stubborn heat of the day still radiated up from the asphalt, the man told it about the moment he walked out of his front door, carrying nothing. He didn't look back. Yet, it saw it clearly: the silhouette of his small child huddled in the corner, by the narrow staircase that had turned the color of weathered moss.

The image of that child was etched into his heart like a scar that would never heal. He walked away, head unturned, but behind him was not the poetic "sun-drenched porch covered in fallen leaves" of the poet Quang Dũng, but a chasm of remorse. He promised to give his child "the best," but what "the best" actually was, he didn't truly know. Was it the child-support checks sent every month, or a home that had been torn in two which he had no way of mending?

It wondered. It was unclear. Where could one find that old prayer now: “Vowing to stay together fifty years into the future”?

Remembering.

It went home and looked at its mother—its "silver-haired lover." She sat there in the sallow light of the late afternoon, her withered hands moving over prayer beads, or sometimes just sitting in a daze, staring out at the empty yard. She had an ironclad rule for the "long-living children" in the house: “In my life, I will only go to fetch a bride for each of you once. Whoever breaks it, I’m not going again.”

Its mother’s half-joking, half-serious words carried an old-fashioned but steadfast ideology. To her, marriage was a sacred bond, not a garment to be changed or shed at will. She feared the "scattered flock," feared the sight of children looking on in bewilderment as their parents split their world in two.

But its generation is different. It sees it overflowing on newsprint, on forums, and even in the daily approval files—the pale, cold papers of divorce certifications. People decide faster, more decisively. They call it living truthfully to oneself, refusing to accept a prolonged misconception.

Telling. It told its older brother and sister about it. One afternoon, under a defiant sun, they climbed to the 5th floor of Saigon Centre for a meal.

It brought the subject up during lunch. Their periodic meeting place, where they spoke of literature, of philosophy, and of how people sometimes spend their whole lives only to realize they have... chosen wrong.

“There is an argument that it is a misconception,” the sister said. But the brother smiled faintly: “Even when we know it is a misconception, can we be sure it truly is one?” Silence. It thought: “So, will the next thing be a new misconception? Or do we simply build a new nest, only to wait for the next migratory season to fly away again?”

Life, by its nature, departs at its own leisurely pace. It simply records what life bestows—both the radiant smiles of a young couple on their wedding day and the silent tears of a man standing in a corner of the children’s hospital.

Every choice has its price. Some choose to stay in a cramped cage to keep the warmth of the flock. Others choose to spread their wings and fly away in search of freedom, knowing well that storms and solitude lie ahead. It didn't know for sure.

Ultimately, it realized that life is not just the black and white of "beginning" and "ending." It is a multi-colored spectrum, containing both the agony of parting and the warmth of sincere, selfless affection. Its friend will continue to earn a living, will continue to love his child in the unique way of one who has left the flock. Its older brother will carry the image of the child by the staircase as a motivation to live and find the "best things" for his kid.

It turns out that even if the flock scatters, even if the birds fly in every direction, love remains the invisible thread that connects the broken pieces.

Everything will pass, leisurely and quietly. It stood up, carrying the little girl as it walked out of the hospital lobby. Outside, Saigon began to stir for a new day. People will still find one another, will still form flocks, and even if those flocks scatter, the sun will still rise, and the human heart will still find a peaceful harbor somewhere amidst the ebb and flow of life.

Thank you, life, for the misconceptions, so that it may learn to cherish more the moments of true sincerity.

Thank you.


Thứ Hai, 6 tháng 4, 2026

[Sách] Bài học tiếng Hy Lạp - Han Kang

 

Nó lật mở những trang sách của Han Kang vào một buổi chiều bảng lảng, khi những tảng nắng cuối ngày rớt qua khe lá như những mảnh vụn của thời gian. Đây là quyển thứ ba nó đọc của bà, sau khi đã đi qua sự khước từ cực đoan của Người ăn chay và nỗi đau tập thể của Bản chất của người.

https://chienphan.blogspot.com/2025/09/sach-nguoi-chay-han-kang.html

https://chienphan.blogspot.com/2025/04/sach-ban-chat-cua-nguoi-han-kang.html

Ở lần này, nó tìm thấy một sự thú vị nhiều hơn. Han Kang viết về ngôn từ, về cấu trúc của tiếng Hy Lạp cổ bằng một sự chi tiết và cụ thể đến lạ kỳ. Nó thấy mình trong đó—một kẻ đam mê con chữ, luôn đi tìm sự "soi tỏ" trong từng thanh âm và nét gạch.

"Ngôn từ không chỉ là công cụ; chúng là những sinh thể mang theo ký ức và cả những vết sẹo của lịch sử."

Nhưng rồi, nó thấy tiếc. Những cảm xúc mê mải về con chữ đó dường như chỉ là một sự vùng vẫy cuối cùng của một con người đang ngập ngụa trong đầm "bi kịch" của cuộc sống. Càng về sau, cái đam mê tinh khôi ấy cứ đuối dần qua từng chương sách. Han Kang dường như đã nhường chỗ lại cho những nhân vật, những tình huống và những cốt truyện rầm rầm kéo đến để lấp đầy khoảng trống của sự im lặng.

Cuộc sống vẫn tiếp diễn, như cuộc sống đang tiếp diễn.

"Mọi tình yêu đều được chạm khắc từ mất mát... Chúng ta học sống trong tình yêu ấy."

Có lẽ Han Kang muốn nói rằng: Ngay cả khi con chữ trở nên đuối sức trước bi kịch, thì sự hiện diện của con người bên cạnh nhau mới là "nhát chạm" cuối cùng để cứu rỗi tất cả. Một nỗi buồn có ích để ta biết trân trọng hơn những tảng nắng đang rớt qua khe lá lúc này.

Đọc Han Kang là một cuộc hành trình đi sâu vào tâm kén của sự tồn tại.

Để hiểu Bài học tiếng Hy Lạp, phải hiểu người đàn bà đã viết ra nó. Han Kang sinh ra tại Gwangju, một mảnh đất mang theo vết sẹo lịch sử của những cuộc thảm sát. Tuổi thơ bà là những câu chuyện về cái chết, về sự tàn bạo của con người đối với con người.

"Tôi luôn tự hỏi: Con người là gì? Tại sao con người lại có thể tàn ác đến thế, và đồng thời, tại sao họ lại có thể đẹp đẽ đến thế?"

Chính sự ám ảnh về thân phận con người đã nhào nặn nên một văn phong tiết chế đến mức tối giản, nhưng mỗi con chữ lại mang sức nặng của một "nhát chạm" rướm máu. Khác với sự "gồng mình" cấu trúc của Foer, Han Kang viết như thể bà đang trút hơi thở cuối cùng vào trang giấy, nhẹ tênh mà nghẹt thở.

Bài học tiếng Hy Lạp (Greek Lessons) ra đời trong một giai đoạn Han Kang rơi vào sự im lặng tuyệt đối. Bà chia sẻ rằng có những lúc bà không thể đọc, cũng không thể viết, như thể ngôn từ đã phản bội bà. Tác phẩm này chính là sự "rửa tội" cho chính tác giả, một nỗ lực để tìm lại sợi dây liên kết với thế giới thông qua một ngôn ngữ "đã chết"—tiếng Hy Lạp cổ.

Câu chuyện xoay quanh hai con người: một người phụ nữ mất đi tiếng nói sau những biến cố gia đình và một người đàn ông dạy tiếng Hy Lạp đang mất dần thị lực. Họ gặp nhau tại điểm giao thoa của bóng tối và sự câm lặng.

"Bởi vì không thể cất lời, nên trong tâm trí cô, những dòng suy nghĩ cuồn cuộn chảy như những con sóng ngầm. Ngôn từ giờ đây là những chiếc gai sắc nhọn đâm vào cổ họng."

Người đàn ông mù và người phụ nữ câm, họ không thể giao tiếp bằng những phương thức thông thường. Họ kết nối bằng những "bài học" về một ngôn ngữ cổ xưa, nơi mà mỗi từ ngữ đều mang một linh hồn riêng.

"Họ chạm vào nhau bằng những rung cảm của tâm hồn. Tiếng Hy Lạp cổ trở thành nhịp cầu duy nhất để họ nhận ra mình vẫn còn đang sống."

Đọc xong cuốn sách, nó thấy mình chậm lại, từ tốn hơn với những dấu yêu hiện tại. Sự mất mát trong văn của Han Kang không đẩy người ta xuống hố sâu, mà nâng người ta dậy bằng một "nỗi buồn có ích".

"Mọi tình yêu đều được chạm khắc từ mất mát... Chúng ta học sống trong tình yêu ấy."

Cơn đau của họ không biến mất, nhưng họ đã tìm thấy cách để "cười lại được" trong bóng tối. Nó nhìn nhóc Julie, thấy mộng mơ tưởng cạn giờ lại ùa về ngút ngàn. Có lẽ, lời hứa quan trọng nhất không phải là nói ra, mà là sự hiện diện tỉnh thức bên nhau.

"Bài học tiếng Hy Lạp" là minh chứng cho việc: Ngay cả khi thế giới này rơi vào bóng tối và sự lặng câm, chúng ta vẫn có thể tìm thấy nhau, miễn là ta còn đủ lòng trắc ẩn để vươn tay ra cho một "nhát chạm" của sự tin tưởng.

***



It flipped open the pages of Han Kang on a shimmering afternoon, as the day’s final patches of sunlight filtered through the leaves like fragments of time. This was the third book of hers it had read, following the radical renunciation in The Vegetarian and the collective agony of Human Acts.

This time, it found a greater sense of intrigue. Han Kang writes about words and the structure of Ancient Greek with an uncanny level of detail. It saw itself reflected there—a lover of words, always seeking "illumination" in every sound and stroke.

"Words are not just tools; they are living entities carrying memories and even the scars of history."

But then, it felt a sense of regret. That intoxicating obsession with words seemed merely a final struggle of a person drowning in a "swamp of tragedy." As the chapters progressed, that pristine passion gradually weakened. Han Kang appeared to yield the stage to characters, situations, and a roaring plot that rushed in to fill the void of silence.

Life goes on, as life is going on.

"All love is carved from loss... We learn to live within that love."

Perhaps Han Kang wanted to say: Even when words grow weary before tragedy, the presence of humans by each other’s side is the final "touch" that redeems all. A useful sadness to make us cherish more the patches of sunlight falling through the leaves right now.

Reading Han Kang is a journey into the heart of the cocoon of existence. To understand Greek Lessons, one must understand the woman who wrote it. Han Kang was born in Gwangju, a land bearing the historical scars of massacres. Her childhood was filled with stories of death, of human cruelty toward fellow humans.

"I always wonder: What is a human being? Why can humans be so cruel, and yet, at the same time, why can they be so beautiful?"

It is this obsession with the human condition that shaped a prose style so restrained it is minimalist, yet every word carries the weight of a bloodied "touch." Unlike the structural "straining" of Foer, Han Kang writes as if she is exhaling her final breath onto the page—weightless yet suffocating.

Greek Lessons was born during a period when Han Kang fell into absolute silence. She shared that there were times she could neither read nor write, as if language itself had betrayed her. This work is a "purgation" for the author, an effort to find a link back to the world through a "dead" language—Ancient Greek.

The story revolves around two people: a woman who lost her voice following family tragedies and a man teaching Greek who is gradually losing his sight. They meet at the intersection of darkness and silence.

"Because she cannot speak, within her mind, thoughts surge like underwater currents. Words are now sharp thorns piercing her throat."

The blind man and the mute woman cannot communicate through conventional means. They connect through "lessons" of an ancient language, where every word possesses its own soul.

"They touch each other through the vibrations of the soul. Ancient Greek becomes the only bridge for them to realize they are still alive."

Having finished the book, it found itself slowing down, more patient with its current loved ones. The loss in Han Kang’s writing does not push one into a deep abyss; instead, it lifts one up with a "useful sadness."

"All love is carved from loss... We learn to live within that love."

Their pain does not vanish, but they have found a way to "laugh again" in the darkness. It looks at little Julie, seeing dreams once thought dried up now rushing back with overwhelming affection. Perhaps, the most important promise is not the one spoken, but the mindful presence with one another.

Greek Lessons is a testament to the fact that even when the world falls into darkness and silence, we can still find each other, as long as we have enough compassion to reach out for a "touch" of trust.

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2026

[Sách] Hồi ký Thảm họa Everest - John Krakauer [Into thin air]


"Ở độ cao đó, tâm trí con người trở nên chậm chạp và đần độn. Bạn không còn là một nhà lãnh đạo xuất chúng; bạn chỉ là một sinh vật đang thoi thóp cố gắng lết thêm một bước chân."

8.848m – con số định danh cho nóc nhà thế giới, cũng là ngưỡng cửa của sự hư vô. Nó lặng lẽ theo chân Jon Krakauer, lủi thủi phía sau đoàn người như một kẻ quan sát thầm lặng, sợ rằng một hơi thở mạnh cũng đủ làm tan biến những khoảnh khắc bi tráng của những thân phận dấn thân. Họ leo không chỉ để chạm vào đỉnh cao, mà để dìm mình vào một màn rửa tội tàn khốc giữa băng giá. Họ đắm chìm trong bi ai, tận cùng của khổ đau chỉ để tìm kiếm một sự giải thoát cho những nỗi khổ đau khác đang âm ỉ trong lòng

Đỉnh Everest năm 1996 làm đóng băng cả những suy nghĩ của nó. Đây không phải là một câu chuyện anh hùng; đây là một tấn bi kịch giữa con người và thiên nhiên, giữa con người với những giới hạn sinh học của chính mình. N

Krakauer vạch trần sự thương mại hóa của việc leo núi. Thiên nhiên đã bị tàn phá bởi con người, dậm đường leo núi đó, những thứ thải ra từ chính cơ thể con người, vật dụng và cả chính họ đang nằm lại ngổn ngang trên con đường leo lên, leo xuống đó. Những nhà leo núi nghiệp dư bỏ ra hàng chục ngàn đô-la để được "mua" một tấm vé lên đỉnh. Ngược. Tinh thần cốt lõi của leo núi: sự khiêm nhường. 

"Khi tiền bạc trở thành động lực để đưa người ta lên đỉnh núi, ranh giới giữa lòng dũng cảm và sự liều lĩnh trở nên mờ mịt. Chúng ta đã bội ước với mẹ thiên nhiên khi tin rằng mình có thể chế ngự được bà bằng những thiết bị đắt tiền."

Nó lẽo đẽo theo sau, chứng kiến những sự sang chấn và bị tác động từ thiên nhiên lên cơ thể con người. Trơ. Người ta đi ngang qua những đồng đội đang hấp hối vì chính họ cũng đang bên bờ vực cái chết. Một sự "tiêu trừ" nhân tính kinh khủng nhất khi oxy chỉ còn là một giấc mơ xa xỉ.

Cái hay của Krakauer là sự dằn vặt của người sống sót. Ông không viết để ngợi ca; ông viết để "sám hối".

"Càng lên cao, sự thật càng trở nên mỏng manh như không khí. Những gì bạn nhớ, những gì bạn kể, có thể chỉ là một sự bội ước của ký ức dưới áp lực của cái chết."

"Into Thin Air". Thiên nhiên không có lòng trắc ẩn,  chỉ có những quy luật. 

***


"At that altitude, the human mind becomes slow and dull. You are no longer a brilliant leader; you are merely a gasping creature struggling to drag yourself one step further."

8,848m – the identifying number for the roof of the world, and also the threshold of nothingness. It (the character) quietly followed Jon Krakauer, trudging behind the group like a silent observer, fearing that even a heavy breath would dissolve the tragic moments of those committed souls. They climbed not just to touch the summit, but to immerse themselves in a brutal purgation amidst the ice. They were drowned in sorrow, in the ultimate depths of suffering, merely to seek an escape from other pains smoldering within their hearts.

The Everest of 1996 froze even its thoughts. This is not a hero's story; it is a tragedy between man and nature, between man and his own biological limits.

Krakauer exposes the commercialization of mountaineering. Nature has been devastated by man—along that climbing path, the waste from human bodies, equipment, and even the climbers themselves lie scattered across the trails going up and down. Amateur climbers shell out tens of thousands of dollars to "buy" a ticket to the top. Inversion. The core spirit of mountaineering: humility.

"When money becomes the motivation to bring people to the mountain peak, the boundary between courage and recklessness becomes blurred. We have betrayed Mother Nature by believing we could conquer her with expensive equipment."

It followed behind, witnessing the trauma and the impact of nature upon the human body. Callous. People walked past dying teammates because they themselves were on the brink of death. The most horrific "diminishment" of humanity occurs when oxygen becomes nothing more than a luxury dream.

The brilliance of Krakauer lies in the survivor's guilt. He does not write to praise; he writes to "repent."

"The higher you go, the thinner the truth becomes, like the air. What you remember, what you tell, might only be a betrayal of memory under the pressure of death."

"Into Thin Air." Nature has no compassion; she only has laws.

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2026

[Tản mạn cuộc sống] Allan, Dặm dài Expat - [Life's Musings] Allan, THE EXPAT LONG MILES OF LIFE

 


Nó gặp lại Allan. Gần hai mươi năm trời.

Sài Gòn những ngày cuối tháng Giêng năm 2026, đất trời như vừa trút bỏ lớp áo hoa hòe rực rỡ nhưng mệt nhoài sau một cuộc nhậu dài hơi. 

Khi dư âm mùng mền đã cạn, người ta lại hăm hở kéo nhau trở lại phố. Lần này, cái hăm hở nó mang sắc thái khác: vừa có chút luyến tiếc mùi khói bếp, vừa có cái sự quyết liệt của mấy con kiến thợ sắp bắt đầu một mùa mưu sinh mới.

Trong cái không khí giao thoa ấy, nó gặp lại Allan.

Gần hai mươi năm trời. Một con số đủ dài để một đứa con nít mới đẻ kịp thành một gã thanh niên vạm vỡ, và cũng đủ để hai gã trai ngông nghênh ngày nào giờ ngồi nhìn nhau qua làn khói thuốc, thấy tóc trên đầu đã lốm đốm màu sương khói. Những điếu thuốc được quấn thủ công.  

Sài Gòn của những năm 2000 hiện về trong ký ức, nó như một thước phim trắng đen được ai đó tinh nghịch tô màu rực rỡ. Ngày đó, Allan – một gã trai vừa mới bước qua cái ngưỡng ba mươi, mang theo cái tôi cao ngạo và túi hành lý nhẹ tênh – bắt đầu dấn thân vào cái con đường gọi là "expat". Nó là đứa sinh viên ngán ngẫm với kiến thức của giảng đường, bởi mù tịt về kinh nghiệm cuộc sống, chọn con đường từ cuộc sống để bước lại về trường.

Việt Nam khi ấy với nó và Allan là một vùng đất hứa đầy nắng gió và bụi bặm của những công trình. Nó nhớ như in những ngày miệt mài cùng Allan – khi ấy gã nặng gần cả trăm ký, người ngợm núc ních nhưng nhiệt huyết thì tràn trề – cùng một đứa nhóc sinh viên vừa mới ra trường, cứ thế mà đi. 

Thênh thang. Những con đường ngành xây dựng thấm đẫm bước chân. Đi khắp các con đường Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Sư Vạn Hạnh (hồi đó cái đoạn dưới vẫn chưa đổi tên thành Thành Thái), Bạch Đằng …các kiểu. Rồi len lỏi vào từng cái cửa hàng vật liệu xây dựng, trang trí nội thất, dấn thân vào cái lĩnh vực mà lúc đầu nó cũng chẳng hiểu vì sao mình lại chọn đi cái con đường này. 

Nghĩ là đi một đoạn cho vui, ai dè gắn bó cũng đủ lâu, dẫu có lúc tưởng chừng như đứt đoạn.

Hành trình đó có cả nắng cháy da, có mưa xối xả, và có cả những nụ cười ngây ngô của mấy gã khờ đi tìm kiếm, khai mở một thị trường. Nó và Allan ngồi ở quán cà phê Soho, chuyện trò và đám phán, tiếng Anh, Hoa, Việt, hòa vào sự nhộn nhịp như khúc ca náo nhiệt của quán, gặp gỡ những cái tên vang bóng một thời... Những khách hàng mà ngày đó chỉ cần gõ cửa được vào nhà họ thôi là cả một chiến tích lẫy lừng. 

Đêm về, sau những giờ làm việc hăng say đến kiệt sức, cả hội; những gã Hoa Kiều khắp nơi tụ lại, chỉ vỏn vẹn mình nó là dân Việt lạc loài, lại dắt díu nhau đi "càn" một trận bí túy với men say, bước chân qua những quán bar của một Sài thành không ngủ, mùi Whisky còn bám víu đến tận cả ngày hôm sau. Để rồi, khi Sài Gòn bước qua ngưỡng không giờ, những chiếc bao tử lại kêu rống lên như đòi ra trận tiếp, là lúc bữa tối ở Hoàng Thành hay một Hoằng Long, để rồi cả đám bước đi nói cười nghêu ngao, dọc ngang con đường Lê Lợi của một Sài Gòn về đêm.



Trăng tàn và những mái đầu xanh

Đêm nay, nó và Allan ngồi lại với nhau ở con đường Ngô Văn Năm; nó tìm gã tìm lại vị giác của món Việt sau một chặng đường dài đã bỏ quên. Con đường này vẫn thế, vẫn nhộn nhịp cái cảnh người ta chuyện trò, ngã giá, mời gọi đủ kiểu. Nhưng bối cảnh thì đã khác xa rồi. 

Đối diện với nó không còn là những gã trai ba mươi tuổi nữa, mà là ba mái đầu xanh đang chăm chú lắng nghe của một thanh xuân vẫy gọi: Danny, John và Ronaldo. Một thế hệ kế thừa của HX, mấy đứa nhỏ đang chờ để nghe về một thời hoành tráng và huy hoàng, cái thời ngông nghênh và ngang tàng của mấy ông chú. Tương lai nào chờ.

Allan ngồi đó, cái dáng vẻ gầy đi một nửa. Gã đã bỏ rượu. Gã cười, cái nụ cười của một gã đàn ông đã đi qua những "trận càn" của Covid – cái thứ biến cố quái ác đã tác động quá mạnh đến thế hệ của gã, để tất cả có thể ngộ ra nhiều hơn về cái cuộc đời này.

Cục gạch quán. Sài Gòn đêm kế tiếp.

Allan nói về kiếp "expat" bằng cái giọng say sưa. Gã ví mình như con chim trong lồng, cứ bay đi rồi lại bay về cái nơi đã quen hơi bén tiếng. Chăm chỉ như con kiến mưu sinh, nhưng hành trình cứ thoi đưa giữa những vùng trời khác biệt. Gã kể về cuộc sống của mình, nơi gã đối diện với những tâm tư riêng mang.

Đặc biệt nhất đêm nay là khi thằng nhóc Merci – con trai nó – lại chuyện trò say sưa cùng chú Allan. Thằng nhóc đang ở cái tuổi dậy thì với đủ thứ tâm tư rắc rối. Nó đứng ngoài cuộc, nhìn con trai mình trút cạn lòng mình với người chú về những món ăn, về chuyện vẽ vời, nấu nướng và cả về cái ngón đàn piano vừa mới bị bỏ ngang. Dường như tất cả được trút bỏ để có thể bắt đầu một chương đời mới.

Allan nhìn thằng nhóc Merci, rồi lại khẽ thở dài khi nhắc đến đứa con trai của chính gã. "Thằng nhóc chẳng thèm nhìn tao". Cái thái độ ơ hờ đó là phần Allan miêu tả về đứa nhỏ của mình, khi mà sự nghiệp của gã bắt đầu đi theo chiều đổ bóng. Gã vẫn cứ say sưa trên hành trình của một expat, cuộc đời gã là những dặm đường đi không ngừng nghỉ, để rồi nhận ra hình ảnh của đứa con trai đã vụt qua đời gã một cách nhanh chóng quá chừng.

Tình yêu thương của người cha là khác biệt. Trong cái sự ơ hờ đó, nó thấy một tình yêu thương thầm lặng. Con trai gã giờ đã sang trang, trở thành một anh kỹ sư cùng ngành như cái cách mà gã đã lựa chọn. Allan bắt đầu nghĩ đến việc sẽ tậu một con xe cho con trai mình – một cử chỉ đơn giản nhưng chứa đựng tất cả sự bù đắp của một người cha vốn dĩ chỉ biết thoi đưa trên những dặm dài biệt xứ. Gã do dự một chiếc Porche hay là một chiếc Honda cũ. 

Nhìn Allan, nhìn Merci, nó chợt nhớ đến lời bài hát mà bọn trẻ hay mở: "Có những con đường ta chưa bao giờ đi, có những người ta chưa từng gặp lại...".

Đêm đầu xuân, Sài Gòn gió thổi lồng lộng qua những tán cây. Nó thấy mình nên thôi bớt nói về đạo lý. Cuộc đời nó khởi đầu với những chặng hành trình và ngã rẽ chẳng biết đâu mà lần, nhưng chính trong những khoảnh khắc đó, nó đã gặp được Allan – một người anh em, một người bạn đồng hành qua bao mùa nắng gió.

Trăng tàn đâu chẳng thấy, chỉ thấy ba đứa trẻ đang lặng yên lắng nghe về một góc nhìn cuộc sống mới. Nó hiểu rằng, dẫu là kiếp thoi đưa hay chim lồng, thì những gì còn sót lại cuối cùng sau bao nhiêu va ngã, vẫn chính là sự tử tế và lòng yêu thương dành cho nhau.

Cảm ơn Sài Gòn, cảm ơn những ngày nắng bụi năm ấy, để hôm nay nó có một câu chuyện dài để kể lại cho đời sau.

Allan chào tạm biệt, lịch trình tiếp theo của gã là một đại lục mênh mông.

***


It met Allan again. Nearly twenty years had passed.

Saigon, in the final days of January 2026. The world seemed to have just shed its vibrant, flower-patterned coat, now standing weary after a long, exhausting celebration.

As the echoes of the holiday faded, people eagerly flocked back to the city. This time, the eagerness carried a different shade: a lingering scent of countryside kitchen smoke mixed with the fierce grit of worker ants beginning a new season of survival. In that transitional air, it met Allan again.

Nearly twenty years. A span long enough for a newborn to grow into a sturdy young man, and long enough for two once-arrogant youths to sit across from each other through clouds of hand-rolled cigarettes, noticing the streaks of ash-grey in their hair.



The Saigon of the 2000s flickered back in its memory like a black-and-white film playfully tinted with vivid colors. Back then, Allan—a man who had just crossed the threshold of thirty, carrying a towering ego and a feather-light suitcase—began his journey as an "expat." It, on the other hand, was a student weary of lecture halls, devoid of life experience, choosing the path of the "real world" as a way to eventually find its way back to school.

Vietnam, for both it and Allan then, was a promised land of sun, wind, and the dust of construction sites. It remembered vividly the days of relentless toil alongside Allan—who weighed nearly a hundred kilograms back then, plump yet overflowing with passion—and a fresh-faced graduate. It just kept going.

The horizon was wide open. The roads of the construction industry were soaked with their footsteps. They traversed every corner: Ly Thuong Kiet, To Hien Thanh, Su Van Hanh (back when the lower section hadn't yet been renamed Thanh Thai), Bach Dang… and all the rest. They wound through every building material shop and interior decor showroom, diving into a field it didn't even understand why it had chosen at first. It thought it’d just walk this path for fun for a while, but it turned out it stayed long enough, even through moments that seemed ready to snap.

That journey had skin-scorching sun, torrential rain, and the naive smiles of fools opening up a market. It and Allan would sit at Soho Coffee, talking and negotiating—English, Chinese, and Vietnamese blending into the bustling melody of the cafe—meeting names that once shook the industry. In those days, simply getting a foot in the door of those clients' homes was a legendary victory.

At night, after working to the point of exhaustion, the whole gang—Overseas Chinese from all over, with it as the lone Vietnamese outlier—would drag each other out for a drunken "raid." They wandered through the bars of a sleepless Saigon, the scent of Whisky clinging to them until the following afternoon. Then, as Saigon crossed the threshold of midnight and their stomachs roared for the next battle, it was time for dinner at Hoang Thành or Hoang Long. The whole group would walk, laughing and singing loudly, crisscrossing Le Loi Street in the dead of night.

Waning Moon and Youthful Heads

Tonight, it and Allan sat together on Ngo Van Nam Street; it was helping Allan rediscover the taste of Vietnamese food after a long journey of neglect. This street remained the same—bustling with people chatting, bargaining, and beckoning. But the context was worlds apart.

Facing it were no longer thirty-year-old men, but three youthful heads listening intently to the call of spring: Danny, John, and Ronaldo. The next generation of HX, the kids waiting to hear about a magnificent and glorious time, the arrogant and unruly era of their "uncles." What future awaits them?

Allan sat there, his frame halved in size. He had quit drinking. He smiled—the smile of a man who had survived the "raids" of Covid—that cruel upheaval that struck his generation so hard, forcing them to realize more about this life.

Cuc Gach Cafe. Saigon, the following night.

Allan spoke about the "expat life" with an intoxicated passion. He likened himself to a bird in a cage, flying away only to return to the places he had grown fond of. Diligent as an ant making a living, yet his journey kept shuttling between different skies. He spoke of his life, where he faced his own private burdens.

The most special part of tonight was when young Merci—its son—chatted enthusiastically with Uncle Allan. The boy was at that pubertal age, filled with troublesome thoughts. It stood on the sidelines, watching its son pour his heart out to the uncle about food, drawing, cooking, and even the piano lessons that had just been abandoned. It was as if everything was being purged to start a new chapter of life.

Allan looked at Merci, then sighed softly as he mentioned his own son. "The kid doesn't even look at me." That indifferent attitude was how Allan described his child, while his own career began to cast long, fading shadows. He remained immersed in his expat journey—a life of restless miles—only to realize his son had flashed past his life far too quickly.

A father’s love is a different breed. In that indifference, it saw a silent devotion. Allan’s son had turned a page, becoming an engineer in the same industry, following the very path Allan had chosen. Allan began thinking about buying a car for his son—a simple gesture containing all the compensation of a father who had spent his life shuttling across distant lands. He hesitated between a Porsche and an old Honda.

Looking at Allan, looking at Merci, it was reminded of the song the kids often play: "There are roads we have never traveled, there are people we have never met again..."

In the early spring night, the Saigon wind blew fiercely through the trees. It felt it should stop talking about morality. Its life had started with journeys and crossroads it couldn't predict, but in those moments, it had met Allan—a brother, a companion through countless seasons of sun and wind.

The waning moon was nowhere to be seen, replaced by the sight of three children listening quietly to a new perspective on life. It understood that whether a shuttling expat or a caged bird, what remains after all the falls is simply kindness and love for one another.

Thank you, Saigon. Thank you for those dusty, sunny days of the past, so that today it has a long story to tell the next generation.

Allan said his goodbyes; his next schedule was a vast, endless continent.


[Sách] Bội ước [Ta Promesse] - Camille Laurens

 

"Chúng ta thường yêu cái ý niệm về một người hơn là chính con người họ. Và khi cái ý niệm đó sụp đổ, chúng ta gọi đó là sự phản bội, trong khi thực chất đó là sự tỉnh thức muộn màng."

Nó lật mở những trang sách của Camille Laurens vào một chiều Sài Gòn hanh nắng, cái nắng chói chang như thể khiến con người ta hoang mang khi đông tàn nhanh vậy. 

Là một tác phẩm kén người đọc. Một tác phẩm kén người đọc như cách người ta kén chọn việc phải đối diện với những sự thật trần trụi nhất của lòng mình. Laurens không ở đây để kể cho nó nghe một câu chuyện tình bình dị với những đóa hoa hồng hay những buổi chiều tà lãng mạn; bà ở đây để phơi bày một cuộc "bội ước" tàn khốc. 

Đó không chỉ là sự bội ước trong những lời thề thốt chót lưỡi đầu môi giữa người với người, mà đau đớn hơn, đó là sự bội ước của chính ký ức—thứ mà ta vẫn hằng tin tưởng để bấu víu vào khi thực tại quá đổi rối ren.

Đọc "Bội ước", nó như chạm tay vào những lát cắt rướm máu của cuộc đời tác giả. Một sự hiện diện đầy mong manh, uất ức và đôi khi là tuyệt vọng trước những nghiệt ngã của số phận ập đến đời bà. Nhưng kỳ lạ thay, chính trong cái tận cùng của sự tuyệt vọng ấy, văn chương lại thắp lên cho bà một tia hy vọng le lói, để bà tiếp tục sống, tiếp tục uất ức và tiếp tục mong manh một cách đầy kiêu hãnh.

Camille Laurens (sinh năm 1957) hiện lên như một đại diện ưu tú nhất của dòng văn học Autofiction (Tự truyện hư cấu) tại Pháp. Với bà, viết không phải là một hình thức giải trí xa xỉ; viết là một hành vi để sống sót. Cuộc đời bà là một chuỗi những sự hiện diện đầy đau đớn, từ cái chết lặng câm của đứa con trai sơ sinh đến những cuộc đổ vỡ tình cảm tan nát thành trăm mảnh. 

Laurens phơi mình ra trước bàn dân thiên hạ. Nhân vật chính vùng vẫy trong những mảnh vỡ của một tình yêu đã chết và sự ra đi của một đứa trẻ. Đó là một đau đớn đến tột cùng, nơi nhân vật không thể thoát khỏi cái bóng của quá khứ.

Với Camille Laurens, "Bội ước" không chỉ đơn thuần là việc ai đó quên đi một lời thề. Đó là một sự đứt gãy của niềm tin cơ bản vào thế giới.

"Lời hứa của anh là một hòn đảo, nhưng khi thủy triều dâng lên, tôi nhận ra đó chỉ là một nắm cát đang tan rã dưới chân mình."

Trong Bội ước, ngôn từ vừa là công cụ để yêu thương, vừa là vũ khí để hành hạ. Nhân vật tự đối thoại với chính mình, cố gắng tìm kiếm một sự thật giữa muôn vàn những lời nói dối, để rồi nhận ra rằng đôi khi, chúng ta phản bội chính mình trước khi bị người khác phản bội.

Laurens vạch trần rằng chúng ta thường bội ước với chính quá khứ của mình. Chúng ta tô hồng hoặc bóp méo nó để có thể chịu đựng được hiện tại.

"Sống mặn mòi và rối rắm không đáng sợ, đáng sợ là khi chúng ta bội ước với những trải nghiệm mặn mòi đó bằng cách giả vờ rằng mình vẫn ổn, trong khi tâm hồn đã rạn nứt từ lâu."

Có những lời hứa được dựng lên như một mê cung, nhốt người ta vào đó suốt cả một đời người, khiến "chim trời lại chẳng được tự do" chỉ vì trót tin vào một âm thanh đẹp đẽ.

Với Laurens, viết chính là một nghi lễ để tồn tại. 

"Tôi viết để đòi lại những gì đã bị tước đoạt, để biến sự bội ước thành một tác phẩm, nơi nỗi đau được định hình và cái đẹp được tái sinh."

Nó nhìn thấy sự giao thoa giữa bác sĩ Perry và Laurens: một người chữa lành bằng khoa học và trái tim, một người chữa lành bằng sự tàn nhẫn của ngòi bút. Cả hai đều đi tìm sự "hiện diện" của sự thật giữa những đổ nát của niềm tin.

"Bội ước" nhắc nhở nó rằng: Sự chân thật với chính mình là lời hứa quan trọng nhất. Giữa thế giới rầm rầm những lời thề thốt đầu môi, hãy học cách giữ lấy một khoảng lặng tỉnh thức, để không bị cuốn trôi bởi những "thuật toán" của cảm xúc giả tạo

***



"We often love the idea of a person more than the person themselves. And when that idea collapses, we call it betrayal, while in reality, it is a belated awakening."

It (the character) flipped open the pages of Camille Laurens on a sun-drenched Saigon afternoon, a brightness that somehow leaves one bewildered as winter fades too quickly.

This is a work for a selective reader—selective in the way one chooses to confront the naked truths of one's own heart. Laurens is not here to tell a simple love story of roses or romantic dusks; she is here to expose a brutal "betrayal." It is not merely a betrayal of fleeting promises made between people, but more painfully, it is the betrayal of memory itself—the very thing we desperately cling to when reality becomes too chaotic.

Reading "Betrayal," it felt as though one's hand was touching the bloodied incisions of the author’s life. A presence filled with fragility, resentment, and at times, despair before the cruelties of fate that crashed upon her. Yet strangely, at the very end of that despair, literature kindled a flickering flame of hope, allowing her to continue living, to continue being resentful, and to continue being fragile in a most dignified way.

Camille Laurens (born 1957) emerges as a preeminent representative of the Autofiction genre in France. For her, writing is not a luxury of entertainment; it is an act of survival. Her life has been a series of painful presences, from the silent death of her newborn son to the shattering of heart-wrenching relationships.

Laurens exposes herself before the world. The protagonist struggles amidst the shards of a dead love and the loss of a child. It is an ultimate agony where the character cannot escape the shadow of the past. To Camille Laurens, "Betrayal" is not simply someone forgetting a vow; it is a fracture of fundamental trust in the world.

"Your promise was an island, but as the tide rose, I realized it was only a handful of sand disintegrating beneath my feet."

In "Betrayal," language is both a tool for love and a weapon for torment. The character dialogues with herself, searching for a single truth amidst a multitude of lies, only to realize that sometimes, we betray ourselves long before others betray us. Laurens uncovers how we often betray our own past, gilding or distorting it just to endure the present.

"Living a life that is salty and entangled is not frightening; what is truly frightening is when we betray those salty experiences by pretending we are fine, while the soul has been fractured for a long time."

There are promises built like labyrinths, imprisoning a person for a lifetime, making it so that "a bird of the sky is denied its freedom" simply for having believed in a beautiful sound. For Laurens, writing is a ritual of existence.

"I write to reclaim what was snatched away, to transform betrayal into a work of art, where pain is shaped and beauty is reborn."

It sees the intersection between Dr. Perry and Laurens: one heals through science and the heart, the other heals through the cruelty of the pen. Both search for the "presence" of truth amidst the ruins of faith.

"Betrayal" serves as a reminder: being honest with oneself is the most important promise of all. Amidst a world roaring with lip-service vows, learn to hold onto a moment of mindful stillness, so as not to be swept away by the "algorithms" of artificial emotions.

[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...