Chiến Phan

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2026

[Tản mạn cuộc sống] Allan, Dặm dài Expat - [Life's Musings] Allan, THE EXPAT LONG MILES OF LIFE

 


Nó gặp lại Allan. Gần hai mươi năm trời.

Sài Gòn những ngày cuối tháng Giêng năm 2026, đất trời như vừa trút bỏ lớp áo hoa hòe rực rỡ nhưng mệt nhoài sau một cuộc nhậu dài hơi. 

Khi dư âm mùng mền đã cạn, người ta lại hăm hở kéo nhau trở lại phố. Lần này, cái hăm hở nó mang sắc thái khác: vừa có chút luyến tiếc mùi khói bếp, vừa có cái sự quyết liệt của mấy con kiến thợ sắp bắt đầu một mùa mưu sinh mới.

Trong cái không khí giao thoa ấy, nó gặp lại Allan.

Gần hai mươi năm trời. Một con số đủ dài để một đứa con nít mới đẻ kịp thành một gã thanh niên vạm vỡ, và cũng đủ để hai gã trai ngông nghênh ngày nào giờ ngồi nhìn nhau qua làn khói thuốc, thấy tóc trên đầu đã lốm đốm màu sương khói. Những điếu thuốc được quấn thủ công.  

Sài Gòn của những năm 2000 hiện về trong ký ức, nó như một thước phim trắng đen được ai đó tinh nghịch tô màu rực rỡ. Ngày đó, Allan – một gã trai vừa mới bước qua cái ngưỡng ba mươi, mang theo cái tôi cao ngạo và túi hành lý nhẹ tênh – bắt đầu dấn thân vào cái con đường gọi là "expat". Nó là đứa sinh viên ngán ngẫm với kiến thức của giảng đường, bởi mù tịt về kinh nghiệm cuộc sống, chọn con đường từ cuộc sống để bước lại về trường.

Việt Nam khi ấy với nó và Allan là một vùng đất hứa đầy nắng gió và bụi bặm của những công trình. Nó nhớ như in những ngày miệt mài cùng Allan – khi ấy gã nặng gần cả trăm ký, người ngợm núc ních nhưng nhiệt huyết thì tràn trề – cùng một đứa nhóc sinh viên vừa mới ra trường, cứ thế mà đi. 

Thênh thang. Những con đường ngành xây dựng thấm đẫm bước chân. Đi khắp các con đường Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Sư Vạn Hạnh (hồi đó cái đoạn dưới vẫn chưa đổi tên thành Thành Thái), Bạch Đằng …các kiểu. Rồi len lỏi vào từng cái cửa hàng vật liệu xây dựng, trang trí nội thất, dấn thân vào cái lĩnh vực mà lúc đầu nó cũng chẳng hiểu vì sao mình lại chọn đi cái con đường này. 

Nghĩ là đi một đoạn cho vui, ai dè gắn bó cũng đủ lâu, dẫu có lúc tưởng chừng như đứt đoạn.

Hành trình đó có cả nắng cháy da, có mưa xối xả, và có cả những nụ cười ngây ngô của mấy gã khờ đi tìm kiếm, khai mở một thị trường. Nó và Allan ngồi ở quán cà phê Soho, chuyện trò và đám phán, tiếng Anh, Hoa, Việt, hòa vào sự nhộn nhịp như khúc ca náo nhiệt của quán, gặp gỡ những cái tên vang bóng một thời... Những khách hàng mà ngày đó chỉ cần gõ cửa được vào nhà họ thôi là cả một chiến tích lẫy lừng. 

Đêm về, sau những giờ làm việc hăng say đến kiệt sức, cả hội; những gã Hoa Kiều khắp nơi tụ lại, chỉ vỏn vẹn mình nó là dân Việt lạc loài, lại dắt díu nhau đi "càn" một trận bí túy với men say, bước chân qua những quán bar của một Sài thành không ngủ, mùi Whisky còn bám víu đến tận cả ngày hôm sau. Để rồi, khi Sài Gòn bước qua ngưỡng không giờ, những chiếc bao tử lại kêu rống lên như đòi ra trận tiếp, là lúc bữa tối ở Hoàng Thành hay một Hoằng Long, để rồi cả đám bước đi nói cười nghêu ngao, dọc ngang con đường Lê Lợi của một Sài Gòn về đêm.



Trăng tàn và những mái đầu xanh

Đêm nay, nó và Allan ngồi lại với nhau ở con đường Ngô Văn Năm; nó tìm gã tìm lại vị giác của món Việt sau một chặng đường dài đã bỏ quên. Con đường này vẫn thế, vẫn nhộn nhịp cái cảnh người ta chuyện trò, ngã giá, mời gọi đủ kiểu. Nhưng bối cảnh thì đã khác xa rồi. 

Đối diện với nó không còn là những gã trai ba mươi tuổi nữa, mà là ba mái đầu xanh đang chăm chú lắng nghe của một thanh xuân vẫy gọi: Danny, John và Ronaldo. Một thế hệ kế thừa của HX, mấy đứa nhỏ đang chờ để nghe về một thời hoành tráng và huy hoàng, cái thời ngông nghênh và ngang tàng của mấy ông chú. Tương lai nào chờ.

Allan ngồi đó, cái dáng vẻ gầy đi một nửa. Gã đã bỏ rượu. Gã cười, cái nụ cười của một gã đàn ông đã đi qua những "trận càn" của Covid – cái thứ biến cố quái ác đã tác động quá mạnh đến thế hệ của gã, để tất cả có thể ngộ ra nhiều hơn về cái cuộc đời này.

Cục gạch quán. Sài Gòn đêm kế tiếp.

Allan nói về kiếp "expat" bằng cái giọng say sưa. Gã ví mình như con chim trong lồng, cứ bay đi rồi lại bay về cái nơi đã quen hơi bén tiếng. Chăm chỉ như con kiến mưu sinh, nhưng hành trình cứ thoi đưa giữa những vùng trời khác biệt. Gã kể về cuộc sống của mình, nơi gã đối diện với những tâm tư riêng mang.

Đặc biệt nhất đêm nay là khi thằng nhóc Merci – con trai nó – lại chuyện trò say sưa cùng chú Allan. Thằng nhóc đang ở cái tuổi dậy thì với đủ thứ tâm tư rắc rối. Nó đứng ngoài cuộc, nhìn con trai mình trút cạn lòng mình với người chú về những món ăn, về chuyện vẽ vời, nấu nướng và cả về cái ngón đàn piano vừa mới bị bỏ ngang. Dường như tất cả được trút bỏ để có thể bắt đầu một chương đời mới.

Allan nhìn thằng nhóc Merci, rồi lại khẽ thở dài khi nhắc đến đứa con trai của chính gã. "Thằng nhóc chẳng thèm nhìn tao". Cái thái độ ơ hờ đó là phần Allan miêu tả về đứa nhỏ của mình, khi mà sự nghiệp của gã bắt đầu đi theo chiều đổ bóng. Gã vẫn cứ say sưa trên hành trình của một expat, cuộc đời gã là những dặm đường đi không ngừng nghỉ, để rồi nhận ra hình ảnh của đứa con trai đã vụt qua đời gã một cách nhanh chóng quá chừng.

Tình yêu thương của người cha là khác biệt. Trong cái sự ơ hờ đó, nó thấy một tình yêu thương thầm lặng. Con trai gã giờ đã sang trang, trở thành một anh kỹ sư cùng ngành như cái cách mà gã đã lựa chọn. Allan bắt đầu nghĩ đến việc sẽ tậu một con xe cho con trai mình – một cử chỉ đơn giản nhưng chứa đựng tất cả sự bù đắp của một người cha vốn dĩ chỉ biết thoi đưa trên những dặm dài biệt xứ. Gã do dự một chiếc Porche hay là một chiếc Honda cũ. 

Nhìn Allan, nhìn Merci, nó chợt nhớ đến lời bài hát mà bọn trẻ hay mở: "Có những con đường ta chưa bao giờ đi, có những người ta chưa từng gặp lại...".

Đêm đầu xuân, Sài Gòn gió thổi lồng lộng qua những tán cây. Nó thấy mình nên thôi bớt nói về đạo lý. Cuộc đời nó khởi đầu với những chặng hành trình và ngã rẽ chẳng biết đâu mà lần, nhưng chính trong những khoảnh khắc đó, nó đã gặp được Allan – một người anh em, một người bạn đồng hành qua bao mùa nắng gió.

Trăng tàn đâu chẳng thấy, chỉ thấy ba đứa trẻ đang lặng yên lắng nghe về một góc nhìn cuộc sống mới. Nó hiểu rằng, dẫu là kiếp thoi đưa hay chim lồng, thì những gì còn sót lại cuối cùng sau bao nhiêu va ngã, vẫn chính là sự tử tế và lòng yêu thương dành cho nhau.

Cảm ơn Sài Gòn, cảm ơn những ngày nắng bụi năm ấy, để hôm nay nó có một câu chuyện dài để kể lại cho đời sau.

Allan chào tạm biệt, lịch trình tiếp theo của gã là một đại lục mênh mông.

***


It met Allan again. Nearly twenty years had passed.

Saigon, in the final days of January 2026. The world seemed to have just shed its vibrant, flower-patterned coat, now standing weary after a long, exhausting celebration.

As the echoes of the holiday faded, people eagerly flocked back to the city. This time, the eagerness carried a different shade: a lingering scent of countryside kitchen smoke mixed with the fierce grit of worker ants beginning a new season of survival. In that transitional air, it met Allan again.

Nearly twenty years. A span long enough for a newborn to grow into a sturdy young man, and long enough for two once-arrogant youths to sit across from each other through clouds of hand-rolled cigarettes, noticing the streaks of ash-grey in their hair.



The Saigon of the 2000s flickered back in its memory like a black-and-white film playfully tinted with vivid colors. Back then, Allan—a man who had just crossed the threshold of thirty, carrying a towering ego and a feather-light suitcase—began his journey as an "expat." It, on the other hand, was a student weary of lecture halls, devoid of life experience, choosing the path of the "real world" as a way to eventually find its way back to school.

Vietnam, for both it and Allan then, was a promised land of sun, wind, and the dust of construction sites. It remembered vividly the days of relentless toil alongside Allan—who weighed nearly a hundred kilograms back then, plump yet overflowing with passion—and a fresh-faced graduate. It just kept going.

The horizon was wide open. The roads of the construction industry were soaked with their footsteps. They traversed every corner: Ly Thuong Kiet, To Hien Thanh, Su Van Hanh (back when the lower section hadn't yet been renamed Thanh Thai), Bach Dang… and all the rest. They wound through every building material shop and interior decor showroom, diving into a field it didn't even understand why it had chosen at first. It thought it’d just walk this path for fun for a while, but it turned out it stayed long enough, even through moments that seemed ready to snap.

That journey had skin-scorching sun, torrential rain, and the naive smiles of fools opening up a market. It and Allan would sit at Soho Coffee, talking and negotiating—English, Chinese, and Vietnamese blending into the bustling melody of the cafe—meeting names that once shook the industry. In those days, simply getting a foot in the door of those clients' homes was a legendary victory.

At night, after working to the point of exhaustion, the whole gang—Overseas Chinese from all over, with it as the lone Vietnamese outlier—would drag each other out for a drunken "raid." They wandered through the bars of a sleepless Saigon, the scent of Whisky clinging to them until the following afternoon. Then, as Saigon crossed the threshold of midnight and their stomachs roared for the next battle, it was time for dinner at Hoang Thành or Hoang Long. The whole group would walk, laughing and singing loudly, crisscrossing Le Loi Street in the dead of night.

Waning Moon and Youthful Heads

Tonight, it and Allan sat together on Ngo Van Nam Street; it was helping Allan rediscover the taste of Vietnamese food after a long journey of neglect. This street remained the same—bustling with people chatting, bargaining, and beckoning. But the context was worlds apart.

Facing it were no longer thirty-year-old men, but three youthful heads listening intently to the call of spring: Danny, John, and Ronaldo. The next generation of HX, the kids waiting to hear about a magnificent and glorious time, the arrogant and unruly era of their "uncles." What future awaits them?

Allan sat there, his frame halved in size. He had quit drinking. He smiled—the smile of a man who had survived the "raids" of Covid—that cruel upheaval that struck his generation so hard, forcing them to realize more about this life.

Cuc Gach Cafe. Saigon, the following night.

Allan spoke about the "expat life" with an intoxicated passion. He likened himself to a bird in a cage, flying away only to return to the places he had grown fond of. Diligent as an ant making a living, yet his journey kept shuttling between different skies. He spoke of his life, where he faced his own private burdens.

The most special part of tonight was when young Merci—its son—chatted enthusiastically with Uncle Allan. The boy was at that pubertal age, filled with troublesome thoughts. It stood on the sidelines, watching its son pour his heart out to the uncle about food, drawing, cooking, and even the piano lessons that had just been abandoned. It was as if everything was being purged to start a new chapter of life.

Allan looked at Merci, then sighed softly as he mentioned his own son. "The kid doesn't even look at me." That indifferent attitude was how Allan described his child, while his own career began to cast long, fading shadows. He remained immersed in his expat journey—a life of restless miles—only to realize his son had flashed past his life far too quickly.

A father’s love is a different breed. In that indifference, it saw a silent devotion. Allan’s son had turned a page, becoming an engineer in the same industry, following the very path Allan had chosen. Allan began thinking about buying a car for his son—a simple gesture containing all the compensation of a father who had spent his life shuttling across distant lands. He hesitated between a Porsche and an old Honda.

Looking at Allan, looking at Merci, it was reminded of the song the kids often play: "There are roads we have never traveled, there are people we have never met again..."

In the early spring night, the Saigon wind blew fiercely through the trees. It felt it should stop talking about morality. Its life had started with journeys and crossroads it couldn't predict, but in those moments, it had met Allan—a brother, a companion through countless seasons of sun and wind.

The waning moon was nowhere to be seen, replaced by the sight of three children listening quietly to a new perspective on life. It understood that whether a shuttling expat or a caged bird, what remains after all the falls is simply kindness and love for one another.

Thank you, Saigon. Thank you for those dusty, sunny days of the past, so that today it has a long story to tell the next generation.

Allan said his goodbyes; his next schedule was a vast, endless continent.


[Sách] Bội ước [Ta Promesse] - Camille Laurens

 

"Chúng ta thường yêu cái ý niệm về một người hơn là chính con người họ. Và khi cái ý niệm đó sụp đổ, chúng ta gọi đó là sự phản bội, trong khi thực chất đó là sự tỉnh thức muộn màng."

Nó lật mở những trang sách của Camille Laurens vào một chiều Sài Gòn hanh nắng, cái nắng chói chang như thể khiến con người ta hoang mang khi đông tàn nhanh vậy. 

Là một tác phẩm kén người đọc. Một tác phẩm kén người đọc như cách người ta kén chọn việc phải đối diện với những sự thật trần trụi nhất của lòng mình. Laurens không ở đây để kể cho nó nghe một câu chuyện tình bình dị với những đóa hoa hồng hay những buổi chiều tà lãng mạn; bà ở đây để phơi bày một cuộc "bội ước" tàn khốc. 

Đó không chỉ là sự bội ước trong những lời thề thốt chót lưỡi đầu môi giữa người với người, mà đau đớn hơn, đó là sự bội ước của chính ký ức—thứ mà ta vẫn hằng tin tưởng để bấu víu vào khi thực tại quá đổi rối ren.

Đọc "Bội ước", nó như chạm tay vào những lát cắt rướm máu của cuộc đời tác giả. Một sự hiện diện đầy mong manh, uất ức và đôi khi là tuyệt vọng trước những nghiệt ngã của số phận ập đến đời bà. Nhưng kỳ lạ thay, chính trong cái tận cùng của sự tuyệt vọng ấy, văn chương lại thắp lên cho bà một tia hy vọng le lói, để bà tiếp tục sống, tiếp tục uất ức và tiếp tục mong manh một cách đầy kiêu hãnh.

Camille Laurens (sinh năm 1957) hiện lên như một đại diện ưu tú nhất của dòng văn học Autofiction (Tự truyện hư cấu) tại Pháp. Với bà, viết không phải là một hình thức giải trí xa xỉ; viết là một hành vi để sống sót. Cuộc đời bà là một chuỗi những sự hiện diện đầy đau đớn, từ cái chết lặng câm của đứa con trai sơ sinh đến những cuộc đổ vỡ tình cảm tan nát thành trăm mảnh. 

Laurens phơi mình ra trước bàn dân thiên hạ. Nhân vật chính vùng vẫy trong những mảnh vỡ của một tình yêu đã chết và sự ra đi của một đứa trẻ. Đó là một đau đớn đến tột cùng, nơi nhân vật không thể thoát khỏi cái bóng của quá khứ.

Với Camille Laurens, "Bội ước" không chỉ đơn thuần là việc ai đó quên đi một lời thề. Đó là một sự đứt gãy của niềm tin cơ bản vào thế giới.

"Lời hứa của anh là một hòn đảo, nhưng khi thủy triều dâng lên, tôi nhận ra đó chỉ là một nắm cát đang tan rã dưới chân mình."

Trong Bội ước, ngôn từ vừa là công cụ để yêu thương, vừa là vũ khí để hành hạ. Nhân vật tự đối thoại với chính mình, cố gắng tìm kiếm một sự thật giữa muôn vàn những lời nói dối, để rồi nhận ra rằng đôi khi, chúng ta phản bội chính mình trước khi bị người khác phản bội.

Laurens vạch trần rằng chúng ta thường bội ước với chính quá khứ của mình. Chúng ta tô hồng hoặc bóp méo nó để có thể chịu đựng được hiện tại.

"Sống mặn mòi và rối rắm không đáng sợ, đáng sợ là khi chúng ta bội ước với những trải nghiệm mặn mòi đó bằng cách giả vờ rằng mình vẫn ổn, trong khi tâm hồn đã rạn nứt từ lâu."

Có những lời hứa được dựng lên như một mê cung, nhốt người ta vào đó suốt cả một đời người, khiến "chim trời lại chẳng được tự do" chỉ vì trót tin vào một âm thanh đẹp đẽ.

Với Laurens, viết chính là một nghi lễ để tồn tại. 

"Tôi viết để đòi lại những gì đã bị tước đoạt, để biến sự bội ước thành một tác phẩm, nơi nỗi đau được định hình và cái đẹp được tái sinh."

Nó nhìn thấy sự giao thoa giữa bác sĩ Perry và Laurens: một người chữa lành bằng khoa học và trái tim, một người chữa lành bằng sự tàn nhẫn của ngòi bút. Cả hai đều đi tìm sự "hiện diện" của sự thật giữa những đổ nát của niềm tin.

"Bội ước" nhắc nhở nó rằng: Sự chân thật với chính mình là lời hứa quan trọng nhất. Giữa thế giới rầm rầm những lời thề thốt đầu môi, hãy học cách giữ lấy một khoảng lặng tỉnh thức, để không bị cuốn trôi bởi những "thuật toán" của cảm xúc giả tạo

***



"We often love the idea of a person more than the person themselves. And when that idea collapses, we call it betrayal, while in reality, it is a belated awakening."

It (the character) flipped open the pages of Camille Laurens on a sun-drenched Saigon afternoon, a brightness that somehow leaves one bewildered as winter fades too quickly.

This is a work for a selective reader—selective in the way one chooses to confront the naked truths of one's own heart. Laurens is not here to tell a simple love story of roses or romantic dusks; she is here to expose a brutal "betrayal." It is not merely a betrayal of fleeting promises made between people, but more painfully, it is the betrayal of memory itself—the very thing we desperately cling to when reality becomes too chaotic.

Reading "Betrayal," it felt as though one's hand was touching the bloodied incisions of the author’s life. A presence filled with fragility, resentment, and at times, despair before the cruelties of fate that crashed upon her. Yet strangely, at the very end of that despair, literature kindled a flickering flame of hope, allowing her to continue living, to continue being resentful, and to continue being fragile in a most dignified way.

Camille Laurens (born 1957) emerges as a preeminent representative of the Autofiction genre in France. For her, writing is not a luxury of entertainment; it is an act of survival. Her life has been a series of painful presences, from the silent death of her newborn son to the shattering of heart-wrenching relationships.

Laurens exposes herself before the world. The protagonist struggles amidst the shards of a dead love and the loss of a child. It is an ultimate agony where the character cannot escape the shadow of the past. To Camille Laurens, "Betrayal" is not simply someone forgetting a vow; it is a fracture of fundamental trust in the world.

"Your promise was an island, but as the tide rose, I realized it was only a handful of sand disintegrating beneath my feet."

In "Betrayal," language is both a tool for love and a weapon for torment. The character dialogues with herself, searching for a single truth amidst a multitude of lies, only to realize that sometimes, we betray ourselves long before others betray us. Laurens uncovers how we often betray our own past, gilding or distorting it just to endure the present.

"Living a life that is salty and entangled is not frightening; what is truly frightening is when we betray those salty experiences by pretending we are fine, while the soul has been fractured for a long time."

There are promises built like labyrinths, imprisoning a person for a lifetime, making it so that "a bird of the sky is denied its freedom" simply for having believed in a beautiful sound. For Laurens, writing is a ritual of existence.

"I write to reclaim what was snatched away, to transform betrayal into a work of art, where pain is shaped and beauty is reborn."

It sees the intersection between Dr. Perry and Laurens: one heals through science and the heart, the other heals through the cruelty of the pen. Both search for the "presence" of truth amidst the ruins of faith.

"Betrayal" serves as a reminder: being honest with oneself is the most important promise of all. Amidst a world roaring with lip-service vows, learn to hold onto a moment of mindful stillness, so as not to be swept away by the "algorithms" of artificial emotions.

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2026

[Sách] Đứa trẻ được nuôi trong chuồng chó - Bruce D. Perry, Maia Szalvitz [THE BOY WHO WAS RAISED AS A DOG]


"Justin không biết nói. Cậu bé chỉ biết khạc nhổ, cào cấu và phát ra những tiếng kêu rít của loài thú. Thế giới của cậu chỉ rộng bằng bốn thanh sắt, nơi sự hiện diện duy nhất của con người là những bàn tay ném thức ăn vào như nuôi một sinh vật lạ."

Nó theo chân của bác sĩ tâm thần nhi khoa Bruce Perry vào một đêm Sài Gòn rầm rầm tiếng còi xe, nghe câu chuyện của Justin, một trong những hồ sơ bệnh án dày đặc về trẻ em. Những mãnh đời ấu thơ ám ảnh. Đây không phải là một tập hồ sơ bệnh án khô khốc; nó là một hành trình đi vào miền bí ẩn của bộ não người—nơi những tổn thương thời thơ ấu có thể tạc nên một quái vật hoặc một thiên thần.

Ở một chiều Sài Gòn rũ nắng. Nhớ.

Nó hỏi thằng nhóc lớn: — Bạn con dạo này thế nào rồi? — Bạn chuyển lớp, rồi chuyển trường luôn rồi ba. — Thằng nhóc trả lời. Đắng.

Nó im lặng. Nhận ra sự yêu thương và ích kỷ quá mong manh. Trong tâm tính người lớn, sự ích kỷ đôi khi mang gương mặt của tình yêu. Chúng ta yêu thương chỉ đúng mỗi con mình!? Những đứa trẻ gục ngã dưới kỳ vọng của gia đình lại tiếp tục bị dán nhãn 'dị biệt'. Chúng phải chiến đấu trong một cuộc chiến không cân sức với những phụ huynh 'bình thường' xung quanh – những người dùng quyền lực của mình để 'nhắn nhủ' giáo viên, để cô lập và đẩy chúng ra khỏi tập thể. Đứa trẻ tội nghiệp ấy, ngay cả khi muốn hòa nhập, cũng bị những lời 'dặn dò' độc hại chặn đứng mọi lối về. Chim trời lại chẳng được tự do.

Perry cảnh báo chúng ta về sự thiếu hụt kích thích trong những "chiếc lồng" hiện đại:

"Bộ não trẻ em cần sự tương tác như cơ thể cần oxy. Khi một đứa trẻ bị phó mặc cho sự cô độc, các vùng não phụ trách thấu cảm sẽ héo úa, để lại một khoảng trống đen ngòm nơi đáng lẽ phải là tình yêu."

Bác sĩ Perry dùng kiến thức khoa học để chữa lành, nhưng trên hết là dùng trái tim. Ông nhìn thấy những phụ huynh chỉ hối hận khi đã quá muộn:

"Nhiều bậc cha mẹ tin rằng trẻ con sẽ 'quên' đi những tổn thương vì chúng còn quá nhỏ. Họ sai rồi. Cơ thể ghi nhớ, bộ não ghi nhớ, và những vết sẹo ấy sẽ định hình cách chúng nhìn thế giới mãi mãi."

Nhưng nó lại tự hỏi. Liệu tình yêu đó có duy trì được lâu? Hay đi nửa đường, mệt lại nghỉ, rồi lại quên mau? Perry nhắc nhở:

"Chữa lành không phải là một sự kiện, đó là một quá trình lặp đi lặp lại. Bạn không thể 'sửa' một đứa trẻ trong một ngày; bạn phải yêu thương chúng trong từng nhịp thở hằng ngày."

Perry đã mua lại cuộc đời của một đứa trẻ bằng sự kiên nhẫn. Nó thấy sự lười biếng của mình khi nhân danh "kiếm tiền" để trốn tránh con. Perry vạch trần cái lý lẽ ấy:

"Trẻ em không cần những món đồ chơi đắt tiền hay những chuyến đi xa xỉ. Chúng cần sự hiện diện tỉnh thức của bạn. Một giờ ngồi bệt dưới sàn chơi cùng con có giá trị hơn cả một gia tài gửi vào tài khoản tiết kiệm của chúng sau này."

Cái giá của sự lười biếng là sự đứt gãy kết nối. Khó hiểu. Tại sao ta vẫn chọn cách dễ dàng hơn là quay lưng đi?

Khoảnh khắc đứa trẻ bị tổn thương lần đầu tiên dám chạm tay vào bác sĩ. Perry miêu tả:

"Đó là một khoảnh khắc tĩnh lặng tuyệt đối. Bàn tay nhỏ bé, run rẩy của cậu bé vươn ra, chạm nhẹ vào tay tôi. Trong giây phút đó, hệ thống cảnh báo nguy hiểm trong não cậu bé—vốn đã gào thét suốt nhiều năm—bỗng dưng im bặt. Cậu bé đã chọn tin tưởng."

Đó là một "nhát chạm" lên chất liệu của sự tin tưởng. Yêu thương đến từ đâu, sao khó tìm đến vậy? Yêu thương lại mong manh, sao tan biến nhanh thế?  Chim trời lại chẳng được tự do.

***


"Justin did not know how to speak. He only knew how to spit, scratch, and emit the high-pitched shrieks of a wild animal. His world was only as wide as four iron bars, where the only human presence was hands tossing food in as if feeding an alien creature."

It (the character) followed the footsteps of child psychiatrist Bruce Perry on a Saigon night roaring with sirens, listening to the story of Justin—one of the many dense medical records of children. Haunting childhoods. This is not a dry collection of medical files; it is a journey into the mysteries of the human brain—where childhood traumas can carve out a monster or an angel.

On a sun-drenched Saigon afternoon. Remember.

It asked the older boy: — How is your friend doing lately? — He changed classes, and then transferred schools altogether, Dad. — The boy replied. Bitter.

It fell silent. Realizing that love and selfishness are so fragile. In the adult psyche, selfishness sometimes wears the face of love. Do we only love our own children!? Children collapsing under family expectations are then labeled as "misfits." They must fight an uneven war with the "normal" parents around them—those who use their power to "instruct" teachers, to isolate, and to push them out of the collective. That poor child, even when wishing to belong, is blocked at every turn by toxic "warnings." A bird of the sky is denied its freedom.

Perry warns us about the lack of stimulation in modern "cages":

"A child’s brain needs interaction as much as the body needs oxygen. When a child is abandoned to solitude, the brain regions responsible for empathy will wither, leaving a black void where love should have been."

Dr. Perry uses scientific knowledge to heal, but above all, he uses his heart. He sees parents who only regret when it is too late:

"Many parents believe that children will 'forget' traumas because they are so small. They are wrong. The body remembers, the brain remembers, and those scars will shape how they see the world forever."

But it wondered. Can that love endure? Or will they walk halfway, grow tired and rest, and then quickly forget? Perry reminds us:

"Healing is not an event; it is a repetitive process. You cannot 'fix' a child in a day; you must love them in every single breath, every day."

Perry reclaimed a child's life through patience. It saw its own laziness when invoking "making money" to evade its children. Perry exposes that reasoning:

"Children do not need expensive toys or luxury trips. They need your mindful presence. One hour sitting on the floor playing with your child is worth more than a fortune sent to their savings account later."

The price of laziness is a severed connection. Inexplicable. Why do we still choose the easier path of turning away?

The moment a traumatized child first dares to touch the doctor. Perry describes:

"It was a moment of absolute stillness. The boy’s small, trembling hand reached out and lightly touched mine. In that second, the alarm system in the boy’s brain—which had been screaming for years—suddenly went silent. He had chosen to trust."

That was a "touch" upon the material of trust. Where does love come from, and why is it so hard to find? Love is so fragile; why does it vanish so quickly? A bird of the sky is denied its freedom.

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2026

[Sách] Lorenzo De' Medici - Miles J. Unger


"Sống mặn mòi và rối rắm không đáng sợ, đáng sợ là sống mà không để lại một nhát chạm nào lên chất liệu của thời gian."

Nó gặp lại Miles J. Unger vào một sớm đầu xuân, sau khi đã từng cùng chìm đắm trong cuộc đời của Picasso, hôm nay nó đặt chân đến nước Ý của một thời rực rỡ. 

https://chienphan.blogspot.com/2022/11/sach-picasso-miles-j-unger.html

Miles J. Unger giới thiệu đến nó một Lorenzo, hiện lên không phải như một vị thánh, mà là một thực thể đầy mâu thuẫn, một gã đi trên dây giữa hai vực thẳm: Một bên là gã "Chủ ngân hàng" đầy toan tính, lạnh lùng với những con số và bảng cân đối kế toán; một bên là nhà "Bảo trợ nghệ thuật" thanh cao, người sẵn sàng quỳ xuống trước một bức tượng dang dở của Michelangelo.

Lorenzo bước vào đời không phải bằng gươm giáo, mà bằng sự nhạy bén của một bộ óc biết biến tiền bạc thành quyền lực mềm. Unger bóc tách sự "hiện diện" của Lorenzo qua cách ông đối đầu với những gia tộc thù địch và cả Giáo hoàng.

"Lorenzo không cai trị bằng nỗi sợ hãi thuần túy, mà bằng sự thấu cảm (Omoiyari) kỳ lạ dành cho cái đẹp và sự thấu thị về bản chất con người."

Nó chợt nhớ đến triết lý của Machiavelli (người vốn chịu ảnh hưởng từ thời đại này). Lorenzo là hiện thân của một gã biết đứng ở giữa: giữa sự tàn nhẫn cần thiết để bảo vệ gia tộc và sự hào phóng vô bờ bến để nuôi dưỡng những thiên tài như Michelangelo hay Botticelli. Đó là một dạng "trí tuệ kết tinh" tột đỉnh—biết cách dùng nghệ thuật để che đậy những vết nứt của sự bất ổn chính trị.

Sự sắc sảo của cuốn sách nằm ở chỗ nó không tách rời hai con người này. Lorenzo hiểu rằng tiền bạc là mạch máu, nhưng nghệ thuật mới là linh hồn để duy trì sự sống cho gia tộc Medici.

"Ông dùng những đồng florin vàng để mua lấy sự bất tử, và dùng những nhát cọ của Botticelli để che đi mùi của sự thối nát chính trị."

Đó là sự đối lập đầy nghiệt ngã. Để có được một Florence rực rỡ Phục hưng, Lorenzo đã phải vận hành một bộ máy ngân hàng khổng lồ với những thủ đoạn đôi khi tàn nhẫn. Sự thanh cao của cái đẹp lại được nuôi dưỡng từ những toan tính trần trụi nhất.

Vụ ám sát hụt trong nhà thờ Santa Maria del Fiore (Âm mưu nhà Pazzi) hiện lên trong sách như một thước phim quay chậm đầy kinh hoàng. Ngay trong thánh đường, giữa tiếng kinh cầu, máu đã đổ. Khoảnh khắc Lorenzo bị đâm trúng cổ nhưng vẫn rút kiếm chống trả, trong khi em trai ông gục xuống, là đỉnh điểm của sự "nghẹt thở" của quyền lực.

"Quyền lực là một chiếc vương miện bằng gai được phủ vàng; nó lấp lánh dưới ánh mặt trời nhưng lại đâm nát tâm hồn kẻ đội nó mỗi khi đêm về."

Đây chính là thực tế khắc nghiệt: Chính trị và kinh doanh không bao giờ là những con đường thẳng tắp. Chúng giao nhau tại những "ngã ba máu", nơi sự sinh tồn buộc con người ta phải trở thành một con thú tỉnh thức nhất.

Unger giúp nó nhận ra một sự thật: Lorenzo chính là bậc thầy sơ khai của "Ngoại giao văn hóa". Thay vì mang quân đi chinh phạt, ông mang các họa sĩ, kiến trúc sư và tri thức đi tặng cho các vương triều khác.

"Một bức tượng đẹp có sức mạnh bình định biên giới hơn cả một vạn kỵ binh."

Ngày nay, các cường quốc vẫn đang chơi cuộc chơi của Lorenzo. Con đường kinh doanh và chính trị rốt cuộc đều dẫn về một điểm chung: Ai nắm giữ được "biểu tượng", kẻ đó nắm giữ được tương lai.

Trong cuộc chơi đầy bão tố của Lorenzo, nó chợt dừng lại ở hình ảnh người nghệ sĩ. Nó nhớ đến anh chàng đam mê chất liệu đến từ miền Trung mà nó từng gặp. Một người gắn đời mình với chữ "Đa"—đa đoan, đa cảm, và cũng thật "đa" chất liệu. Một con người mang cái vị mặn mòi của biển, sự rối rắm của những dặm đường đã qua, nhưng tâm hồn thì vẫn miệt mài mài giũa từng phiến đá, từng thớ gỗ như thể đó là cách duy nhất để hiện diện.

***


"Living a life that is salty and entangled is not frightening; what is truly frightening is to live without leaving a single touch upon the material of time."

It (the character) encountered Miles J. Unger again on an early spring morning. After having once immersed itself in the life of Picasso, today it set foot in the Italy of a radiant era.

Unger introduces it to a Lorenzo who emerges not as a saint, but as an entity full of contradictions—a man walking a tightrope between two abysses: On one side is the calculating "Banker," cold with numbers and balance sheets; on the other is the noble "Patron of the Arts," who is willing to kneel before an unfinished statue by Michelangelo.

Lorenzo entered life not with swords and spears, but with the sharpness of a mind that knew how to transform money into soft power. Unger dissects Lorenzo's "presence" through the way he confronted hostile families and even the Pope.

"Lorenzo did not rule by pure fear, but by a strange empathy (Omoiyari) for beauty and an insight into human nature."

It suddenly recalled the philosophy of Machiavelli (who was himself influenced by this era). Lorenzo was the embodiment of a man who knew how to stand in the middle: between the cruelty necessary to protect his family and the boundless generosity to nurture geniuses like Michelangelo or Botticelli. This was a form of ultimate "crystallized intelligence"—knowing how to use art to mask the fractures of political instability.

The brilliance of the book lies in the fact that it does not separate these two personas. Lorenzo understood that money is the blood, but art is the soul that sustains the life of the Medici family.

"He used gold florins to purchase immortality, and used the brushstrokes of Botticelli to mask the scent of political decay."

It was a grim opposition. To achieve a radiant Renaissance Florence, Lorenzo had to operate a massive banking machine with maneuvers that were sometimes ruthless. The nobility of beauty was fed by the most naked of calculations.

The failed assassination in the Cathedral of Santa Maria del Fiore (The Pazzi Conspiracy) appears in the book like a terrifying slow-motion film. Right inside the sanctuary, amidst the chanting of prayers, blood was shed. The moment Lorenzo was stabbed in the neck but still drew his sword to fight back, while his brother fell, was the peak of the "suffocation" of power.

"Power is a crown of thorns covered in gold; it glitters under the sun but pierces the soul of the wearer every night."

This is the harsh reality: Politics and business are never straight paths. They intersect at "bloody crossroads," where survival forces one to become the most alert of beasts.

Unger helps it realize a truth: Lorenzo was the early master of "Cultural Diplomacy." Instead of sending armies to conquer, he sent painters, architects, and intellectuals as gifts to other dynasties.

"A beautiful statue has the power to pacify borders more than ten thousand cavalrymen."

Today, great powers are still playing Lorenzo’s game. The paths of business and politics eventually lead to a common point: Whoever holds the "symbol" holds the future.

Amidst Lorenzo’s stormy game, it suddenly paused at the image of the artist. It remembered the young man passionate about materials from Central Vietnam whom it had once met. A person who bound his life to the word "Đa" (Multi)—multi-faceted, multi-sentimental, and truly "multi-material." A man carrying the salty taste of the sea and the entanglement of roads traveled, yet whose soul remained diligent in refining every stone and every piece of wood as if it were the only way to truly be present.


Thứ Hai, 16 tháng 3, 2026

[Truyện] Thoát khỏi bóng cây - Beyond the Wood’s Shadow



Gã ngồi đó, tĩnh lặng như một pho tượng đồng hun được đặt nhầm chỗ trong không gian lộng lẫy này. Căn biệt thự ven đô ở Long An rộng đến thênh thang, rộng đến mức tiếng bước chân của gã trên nền đá cẩm thạch cũng dội lại những âm thanh rỗng tuếch, nghe như tiếng đời đang giễu cợt gã. Nắng sớm lướt nhẹ qua những tán sứ đại, hoa trắng muốt rụng đầy trên thảm cỏ, đậu lên mặt bàn trà gỗ trắc đã lên nước bóng loáng – thứ gỗ quý mà ngày xưa, nằm mơ gã cũng không dám chạm tay vào.

Gỗ gợi lên cho gã những kiến thức đã từng chiêm nghiệm ở một đất nước xa xôi, lại là “láng giềng” theo nghĩa anh em. Những thớ gỗ, vân gỗ ở đây biết nói chuyện. Chúng kể cho gã nghe về tuổi đời, về cái tên mà con người đặt cho: nào căm xe, nào gõ đỏ… bằng đủ thứ ngôn ngữ, từ tiếng Việt rổn rảng của những con buôn trong nước, cho đến thứ tiếng Anh bồi của những gã lái gỗ tận Phi Châu xa xôi.

Gã thích gỗ ư? Không hẳn. Gã thích những xấp tiền đô dày cộp đến từ gỗ. Gã thích những cuộc ăn chơi kiểu “đại gia”, những ly rượu và bóng hồng vây quanh, phủ đầy mặt bàn trong men say mỗi khi một đợt gỗ được xuất đi. “Ăn của rừng, rưng rưng nước mắt”. Tiền từ gỗ như cái nghiệp, nó chẳng chịu đứng yên, nó chạy từ tay người này sang tay người khác như một trò ảo thuật cay đắng. Hành trình ấy kết thúc bằng việc gã trắng tay. Phải mất gần chục năm, gã mới thực sự thoát khỏi cái bóng của cây rừng, chính xác là thoát khỏi thứ tiền đầy ma mị và day dứt ấy.

Gã thấy sướng, sướng với việc có thể cho đi những gì tốt nhất. Gã nhận ra mọi thứ đều có thể giải quyết bằng tiền, những lời tung hô, yêu thương cũng từ đó tìm kiếm, từ người thân, bạn bè cho đến những người nằm trên cánh tay gã.



Gỗ cũng giúp gã nhìn lại những người đàn bà đã đi ngang đời mình. Có người chắt chiu, hiu hắt; có người mang theo nỗi căm hờn u uất vì những gì đã cho đi. Toan tính và đổ vỡ.

Gã chậm rãi với tay lấy bình trà, cử chỉ thong dong như một vị cao tăng đang cử hành một nghi lễ huyền bí. Gã không có gì phải vội, bởi thời gian lúc này với gã chỉ là một khái niệm mờ nhạt bên lề chén trà. Trình tự từng bước, tâm tưởng gã ngược dòng về những vùng cao nguyên xa xôi, nơi những đọt trà non mơn mởn được đôi tay thiếu nữ nâng niu hái xuống, rồi trải qua bao nắng gió, sấy khô để gói ghém cả linh hồn thảo mộc vào trong từng búp lá.

Gã bắt đầu làm nóng chiếc chén – một tuyệt tác từ đất sét nung đã kinh qua trăm ngàn độ lửa đỏ, để lại trên thân mình những đường vân gồ ghề đầy kiêu hãnh. Gã thả chiếc chén lướt qua, lướt lại trên lòng bàn tay, cảm nhận hơi ấm và sự thô ráp của đất mẹ. Chỉ có mỗi mình gã chìm đắm trong cuộc chơi độc thoại với đất và nước. Lượt nước đầu tiên được gã trút xuống mặt bàn gỗ, khói trắng bốc lên mang theo hương thơm thanh khiết, u uẩn. Nếu lúc này có ai đó ngồi đối diện, chắc hẳn gã sẽ kể cho họ nghe về "đời trà", về sự tĩnh lặng sau những bão giông.

Thời gian là một gã đồ tể không có trái tim. Gã bắt đầu cảm nhận được ráng chiều của cuộc đời đang phủ xuống mình, không phải bằng màu đỏ rực rỡ của hoàng hôn mà bằng sự rã rời của xương khớp. Gã nhìn ra khu vườn, nơi những nhành lan lủng lẳng đang ráng mình hút lấy hơi ẩm của đất trời. Gã thấy mình trong đó: một sinh thể cố bám víu vào sự sống, cố làm ra vẻ tươi tốt nhưng thực chất rễ đã mỏi, nhựa đã cạn.

Những biểu hiện về tuổi tác bắt đầu hiện rõ. Những dấu hiệu vật lý trong sinh hoạt vợ chồng không còn là chuyện thầm kín, nó trở thành một nỗi hoang mang hiện hữu. Gã lo lắng cho sức khỏe, lo cho việc kiếm tiền, dù trong bụng gã biết rõ mình đã ở ngưỡng an toàn. Cái bản năng của con kiến dự trữ lương thực cho mùa đông quá dài đã khiến gã không bao giờ biết đủ.

Gã tự hỏi, cuộc đời lang bạt ấy mang lại cho gã điều gì? Có phải gã đang đi tìm một "mảnh đất hứa" hay thực ra gã đang chạy trốn khỏi chính mình? 



Cuối cùng, nước trà sóng sánh hiện ra trong chiếc chén sành được tạo hình kỳ ảo. Dưới ánh nắng xiên khoai, chén trà trông chẳng khác gì một "chén thánh", chứa đựng cả sự cứu rỗi cho một linh hồn lữ thứ vừa tìm thấy lối về.

Khói trà bốc lên, mỏng và xanh như sợi chỉ, run rẩy trước một cơn gió lạc từ sông Vàm Cỏ thổi về.

Gã nhìn đôi bàn tay mình – đôi bàn tay đã từng thò vào đống tro tàn của làng quê cũ để tìm một củ khoai cháy ,từng bám chặt vào vạt áo mẹ trong những đêm chạy loạn mịt mù khói lửa, cũng chính đôi bàn tay đã từng thoăn thoắt tráo những con bài dưới ánh đèn mờ của sòng bạc, và cũng là đôi bàn tay đã từng ký vào tờ đơn ly dị để đổi lấy một sự giải thoát mà gã gọi là tự do.


Hơn bốn mươi năm. Chặng đường đi, chặng đường tình.

Gã không còn đói cái ăn, nhưng gã lại đói một cảm giác thuộc về. Gã đã đi qua tất cả những "rừng thiêng nước độc" của Campuchia, Lào hay Myanmar, dẫm chân lên những vùng đất lạ chỉ để thỏa cái khao khát không bị chôn chặt dưới một mái nhà. Với gã, mái nhà xưa cũ không phải là nơi để về, mà là một biểu tượng của sự gồng gánh: giấc mơ thoát nghèo của mẹ, trách nhiệm thành tài của anh. Gã đã lớn lên bằng cách "nhai" sự khắc nghiệt của đời mình để không bị chết đói, rồi lại dùng sự lọc lõi để không bị chết chìm giữa phố thị.

Nhưng tự do là một thứ hàng hóa đắt đỏ. Gã mua nó bằng sự cô độc.

Nụ cười nửa miệng của gã giờ đây dành cho những bức ảnh của hai đứa con gái. Những lần hiếm hoi gặp chúng, gã không dạy chúng cách sắp bài hay cách tính toán thiệt hơn của một kế toán tài chính. Gã đứng bếp, lụi hụi với mùi hành tỏi, dạy chúng cách nêm nếm một bát canh sao cho vừa vị, cách nhìn nhận cuộc sống không phải chỉ toàn màu hồng mà là "những thứ thở than, là những thứ ngút ngàn". Gã truyền cho con cái bản năng sinh tồn của mình, nhưng lại giấu nhẹm đi nỗi sợ hãi về một tương lai bất định đang rình rập sau chén trà sáng.

Gã nhớ đến anh – người bạn, người đồng hành trong tâm tưởng. Anh có lẽ là người duy nhất hiểu rằng sự "lang bạt" của gã không phải vì gã ghét mái ấm, mà vì gã sợ phải chứng kiến sự vụn vỡ của nó một lần nữa. Gã chọn cách ra đi trước khi bị bỏ lại.

Tiếng chuông điện thoại rung lên nhẹ trên bàn. Một tin nhắn từ cô con gái lớn: "Ba ơi, cuối tuần này ba có về nấu món cá kho cho con không?".

Gã lặng đi. Ánh nắng đã tràn ngập căn phòng, chiếu rõ những nếp nhăn nơi khóe mắt và mái tóc đã bắt đầu pha sương của gã. Giấc mơ thoát nghèo của gã đã làm xong. Vị trí xã hội gã đã có. Người phụ nữ thứ hai, theo như cách người ta đếm, chẳng phải gã vẫn đang hiện diện đó như một bến đỗ an toàn. Nhưng sao trong khoảnh khắc này, gã lại thấy mình giống hệt như gã sinh viên năm nào vác bia thuê cho cô ruột – mệt nhoài và xót xa.

***



Gã nhớ về những đêm nằm co quắp trong ký túc xá, khi đôi vai vác bia thuê còn sưng tấy, đỏ rực lên như bị ai châm lửa đốt. Ở cái chốn chật chội ấy, câu chuyện "kiếm ăn" mới thực sự bắt đầu với đủ vị chát đắng. Gã khi ấy không chỉ vác bia; gã quăng mình vào đời, làm bất cứ việc gì để có tiền, hung hục và liều mạng như một chiến sĩ trên yên ngựa không bao giờ biết mỏi. Nhưng đời vốn dĩ không chỉ có mồ hôi, nó còn giăng sẵn những cạm bẫy đợi chờ những gã trai ngây ngô.

Ký túc xá trong lòng gã còn mang cả hình bóng của mẹ. Bà chính là người đã dang tay đón gã, đưa gã ra khỏi bóng tối của chốn lao tù sau một cú ngã đầu đời đau đớn. Cái biến cố mất xe của khách khi gã cùng đám bạn rủ nhau đi giữ xe kiếm tiền vẫn là một vệt đen nhức nhối, một vết sẹo lồi trong ký ức. Gã vào tù, ra khám khi tuổi đời còn quá trẻ, cái cảm giác lạnh lẽo của bốn bức tường và sự nhục nhã của kẻ "thất bại" ngay từ vạch xuất phát đã găm vào tim gã một nỗi uất nghẹn khôn nguôi, dù chỉ là vỏn vẹn tính bằng ngày tạm giam. 

Ngày mẹ xót xa nhìn đôi vai gầy, bảo gã thôi làm việc cho người thân để ra ngoài ở riêng, gã đã khóc. Gã không khóc vì cực thân, mà khóc vì thấy mình sao mà bất lực, sao mà hèn mọn trước cái nghèo dai dẳng cứ bám riết lấy gia đình.

Nhưng ký túc xá cũng là nơi lưu giữ cả một thanh xuân rực rỡ nhất của gã. Những con đường Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Tri Phương ngày ấy in đậm dấu chân của những anh em từ khắp mọi miền đất nước tụ hội về. Sinh viên mà, nghèo nhưng hăng hái. 

Gã tự hào vì anh em gắn bó với nhau, cho đến tận những ngày gã kiếm được tiền hay trắng tay, gã vẫn tin rằng anh em chẳng ai bỏ gã. Là do gã nghỉ. Gã không thôi quên được mình là một trong những kẻ đầu tiên tạo nên hiệu ứng “đi bão” cuồng nhiệt sau những trận thắng vang dội của đội tuyển Việt Nam. Khi ấy, tinh thần dân tộc hòa cùng máu nóng tuổi trẻ như một ngòi nổ bừng cháy rực trời, khiến gã quên đi những nhọc nhằn của cơm áo.

Để rồi, định mệnh lại đưa đẩy gã nương náu hết nhà người cô này đến người cô khác, nơi gã vô tình chạm tay vào "ngón nghề" cờ bạc. Gã như con cá gặp nước, đôi tay vốn thô kệch vì vác bia bỗng chốc trở nên điệu nghệ, mềm mại một cách lạ kỳ với những quân bài. 

Gã được dạy cách sắp bài, tráo bài theo những mật hiệu riêng biệt của các bậc “cô, thầy”. Chỉ cần một âm điệu gọi tên khác đi, gã biết mình phải hoán đổi bộ bài nào để xoay chuyển cả một định mệnh trên sòng phẳng. Gã dùng sự lọc lõi ấy để tồn tại, để thoát khỏi kiếp vác bia rã rời xương cốt. Gã có tiền, nhưng cũng chính lúc ấy, sự bình yên trong tâm hồn gã bắt đầu xuất hiện những vết rạn nứt đầu tiên, sâu hoắm và không cách nào hàn gắn. Chẳng ai giàu nhờ cờ bạc. Cờ bạc lại chính là một trong những kẻ lấy đi của gã nhiều nhất. 

Chén trà trên tay gã bây giờ nhẹ tênh, nhưng gã lại thấy nặng hơn cả két bia năm cũ. Cái mệt nhoài của gã sinh viên vác bia là cái mệt của cơ bắp, còn cái mệt của gã hôm nay là cái mệt của một kẻ đã leo lên được đỉnh núi nhưng nhìn lại sau lưng, những người cùng gã đi từ chân núi đã chẳng còn ai. Gã đã thoát nghèo, đã thành tài theo đúng giấc mơ của mẹ, nhưng sao cái xót xa của gã sinh viên năm ấy vẫn cứ vẹn nguyên, như một bóng ma lẩn khuất sau làn khói trà thơm.

Bất giác, gã khẽ hát thầm mấy câu Bolero, cái giọng khàn đặc vị thuốc lá và sương gió: "...Thà là giọt mưa, rớt trên tượng đá. Thà là giọt mưa, rớt trên mặt sông..." Giai điệu sầu thảm ấy thấm vào từng thớ thịt. Gã thấy mình đúng là giọt mưa, cứ rơi hoài, rơi mãi nhưng chẳng thể tan vào đâu được. Đời gã là một chuỗi những mâu thuẫn: gã lấy một người vợ Bắc để tìm lại nguồn cội Trung – Bắc của mình, nhưng rồi lại ly dị để tìm sự tự do. Gã thèm khát sự gắn kết nhưng lại sợ sự ràng buộc. Gã yêu các con nhưng lại chỉ dám gặp chúng qua những tờ đơn và những khoảng thời gian hiếm hoi.

Cơn đau thắt nhẹ nơi ngực trái khiến gã phải dừng lại, nhấp ngụm trà đắng. Sức khỏe là một thứ nợ mà gã đang phải trả lãi cao sau những năm tháng "vào sinh ra tử" trên yên ngựa cuộc đời. Sự cô độc lúc này không còn là một lựa chọn sang chảnh của kẻ phong trần, mà là một bản án. Gã sợ hãi. Gã sợ một ngày nào đó gã sẽ nằm lại giữa sự lộng lẫy này mà chẳng có một bàn tay nào nắm lấy tay gã thật chặt, không phải vì nghĩa vụ, mà vì yêu thương thực thụ.

Ánh nắng Long An bắt đầu gắt hơn, chiếu rõ những hạt bụi li ti nhảy múa trong không trung. Gã nhớ đến những lần hiếm hoi gặp lại hai đứa con gái sau tờ đơn ly dị. Trong cái không gian căn bếp nhỏ, gã không còn là một kế toán tài chính khô khan, không còn là kẻ lọc lõi trong cuộc đời kiếm tiền. Gã đứng đó, lụi hụi với mùi hành tỏi, nêm nếm bát canh sao cho vừa vị "Bắc pha Trung".

Gã dạy đám trẻ nấu nướng – đó là thứ ngôn ngữ yêu thương duy nhất gã còn giữ được sau bao nhiêu giông bão. Gã nói về cuộc sống, về những thứ "thở than", về những "ngút ngàn" của kiếp nhân sinh. Gã không muốn chúng là những con kiến chỉ biết đi kiếm ăn, gã muốn chúng biết thưởng thức cả vị cay đắng của cuộc đời với một thái độ thản nhiên. Gã nhìn chúng, rồi nhìn thấy mình trong đôi mắt trong veo ấy. Có lẽ, hành trình lang bạt của gã chỉ là để chuẩn bị cho khoảnh khắc này: khoảnh khắc gã nhận ra mình cần được tha thứ.

Tha thứ cho người phụ nữ đầu tiên gã đã bỏ lại. Tha thứ cho chính gã vì đã quá mải mê với hấp lực của những người khác giới mà quên đi rằng, một mái nhà không được xây bằng tiền, mà bằng sự hiện diện. Mâu thuẫn giữa việc muốn thoát nghèo và việc giữ gìn tổ ấm đã xé nát gã trong suốt những năm bốn mươi tuổi. Gã đã thành công trong việc thoát nghèo, nhưng gã đã thất bại trong việc giữ lấy một trái tim trọn vẹn.

Gã đứng dậy, bóng gã đổ dài trên nền đá hoa cương. Gã không còn thấy mình trơ trọi nữa. Gã thấy mình là một phần của dòng chảy nhân sinh này, giống như con chim kia, dẫu có bay đi đâu rồi cũng sẽ về tổ. Một cuộc đời lang bạt, một nỗi niềm giấu kín, một nỗi sợ hãi... tất cả giờ đây được hòa tan trong tách trà sáng đã nguội nhưng dư vị vẫn còn nồng nàn.

Gã sẽ về. Về để nấu món cá kho cho con, về để được sống thật với cái ráng chiều của đời mình. Bởi gã hiểu, sau tất cả những vinh hoa và cay đắng, thứ duy nhất còn lại là hơi ấm của sự tha thứ và tình yêu thương không điều kiện.

Gã nhấp ngụm trà cuối cùng, đắng ngắt nơi đầu lưỡi nhưng lại ngọt thanh ở cổ họng. Gã nhận ra, tự do không phải là đi đến những nơi không ai biết mình là ai, mà tự do là khi gã dám thừa nhận rằng mình vẫn cần một vòng tay vòng phía sau lưng.

Gã đứng dậy, vươn vai một cái thật dài như muốn trút bỏ lớp vỏ của một kẻ phong trần. Gã cầm điện thoại, ngón tay lướt chậm trên màn hình rồi trả lời: "Ba về."

Đất trời lặng gió. Nắng Long An hôm nay đẹp lạ kỳ.

***

He sat there, as still as a bronze statue misplaced within this opulent space. The suburban villa in Long An was vast—so vast that the sound of his footsteps on the marble floor echoed with a hollow ring, sounding as if life itself were mocking him. The morning sun glided gently through the frangipani trees, their porcelain-white blossoms carpeting the green grass and settling upon the rosewood tea table, polished to a high gloss—a precious wood that, in the old days, he wouldn't have dared to touch even in his dreams.

The wood evoked in him knowledge gained from a distant land, a "neighbor" in the fraternal sense. The grain and textures here could speak. They told him of their age, of the names humans gave them: Căm xe, Gõ đỏ... in a multitude of languages, from the boisterous Vietnamese of domestic traders to the broken English of timber dealers as far away as Africa.

Did he love wood? Not necessarily. He loved the thick stacks of dollars that came from it. He loved the "tycoon-style" revelry—the wine and the women surrounding him, covering the table in a drunken haze every time a shipment went out. "Eating from the forest brings tears to the eyes." Wealth from timber was like a karmic debt; it never stayed still, jumping from one hand to another like a bitter magic trick. That journey ended with him empty-handed. It took nearly a decade for him to truly escape the shadow of the forest—or more accurately, to escape the haunting and lingering money born of it.

He felt a sense of gratification—the pleasure of being able to give the best things. He realized that everything could be solved with money; the cheers and the love he sought also came from it—from relatives and friends to those lying in his arms.

Wood also helped him look back at the women who had crossed his life. Some were frugal and fading; others carried a smoldering resentment and sorrow for all they had given. Calculation. Ambition. Brokenness.

He slowly reached for the teapot, his movements leisurely like a high monk performing a mystical rite. He was in no rush, for time at this moment was but a faint concept on the rim of a teacup. Step by step, his mind drifted back to the distant highlands, where tender tea buds were gathered by the nurturing hands of young maidens, then weathered by sun and wind, dried to encapsulate the soul of the herbs within each bud.

He began to warm the cup—a masterpiece of fired clay that had endured thousands of degrees of heat, leaving proud, rugged ridges upon its body. He let the cup glide back and forth across his palm, feeling the warmth and the coarseness of Mother Earth. He was alone, immersed in a soliloquy of earth and water. He poured the first rinse onto the wooden table; white steam rose, carrying a pure, melancholic fragrance. If someone were sitting opposite him now, he would surely tell them about the "life of tea," about the stillness that follows the storm.

Time is a heartless butcher. He began to feel the late afternoon of life descending upon him, not with the brilliant red of sunset, but with the weariness of his joints. He looked out at the garden, where dangling orchids strained to absorb the moisture of heaven and earth. He saw himself in them: a living being clinging to life, trying to appear lush while the roots were tired and the sap had run dry.

The signs of age began to manifest clearly. Physical indicators in marital life were no longer a secret; they became a tangible anxiety. He worried about his health, about making money, even though he knew deep down he was in a safe zone. The instinct of an ant hoarding food for an excessively long winter made it so he could never feel "enough."

He wondered: what did that wandering life bring him? Was he searching for a "Promised Land," or was he actually running away from himself?

Finally, the tea shimmered in the uniquely shaped ceramic cup. Under the slanted rays of the sun, the cup looked like a "Holy Grail," containing the salvation for a wandering soul who had just found the way home. Blue-green smoke rose, thin as a thread, trembling before a stray breeze blowing from the Vam Co River.

He looked at his hands—hands that had once reached into the hot ashes of his old village for a burnt potato, that had clung to his mother’s hem during smoke-filled nights of escape, hands that had deftly swapped cards under the dim lights of gambling dens, and hands that had signed the divorce papers in exchange for a release he called "freedom."

Over forty years. A journey of miles, a journey of love.

He was no longer hungry for food, but he hungered for a sense of belonging. He had traversed the "sacred forests and toxic waters" of Cambodia, Laos, and Myanmar, treading on strange lands just to satisfy the craving to not be buried under a single roof. To him, the old home was not a place to return to, but a symbol of a burden: his mother's dream of escaping poverty, his brother's responsibility to succeed. He had grown up by "chewing" the harshness of his life to avoid starvation, then used his wits to avoid drowning in the city.

But freedom is an expensive commodity. He bought it with loneliness.

His half-smile was now reserved for the photos of his two daughters. During those rare meetings, he didn't teach them how to arrange cards or calculate the gains and losses of a financial accountant. He stood in the kitchen, fussing over the smell of garlic and shallots, teaching them how to season a bowl of soup just right, and how to view life not just as rosy, but as "things of sighs, things of vastness." He passed on his survival instincts to them but hid the fear of an uncertain future lurking behind his morning tea.

He thought of his friend—his companion in spirit. That man was perhaps the only one who understood that his "wandering" wasn't because he hated home, but because he feared witnessing its collapse once again. He chose to leave before being left behind.

The phone buzzed lightly on the table. A message from his eldest daughter: "Dad, are you coming home this weekend to cook braised fish for me?"

He fell silent. Sunlight flooded the room, highlighting the wrinkles at the corners of his eyes and his graying hair. His dream of escaping poverty was complete. He had his social standing. The "second woman"—as people counted—was she not present there as a safe harbor? Yet in this moment, he felt exactly like that student years ago, hauling beer for his aunt—exhausted and aching.


He remembered nights huddled in the dormitory, his shoulders swollen and red as if set on fire from carrying beer crates. In that cramped place, the story of "making a living" truly began with all its bitter tastes. Back then, he didn't just carry beer; he threw himself into life, doing anything for money, frantic and desperate like a soldier on horseback who never tired. But life isn't just sweat; it has traps waiting for naive boys.

The dormitory in his heart also carried the image of his mother. She was the one who reached out to take him, leading him out of the darkness of prison after a painful first fall in life. The incident of losing a customer's motorcycle while he and his friends were trying to earn money by guarding bikes remained a throbbing black mark, a raised scar in his memory. He had been in and out of jail at such a young age; the coldness of the four walls and the humilitation of being a "failure" before life even started was wedged in his heart as an unquenchable resentment, even if it was only measured in days of detention.

When his mother looked at his thin shoulders with pity and told him to stop working for relatives and move out on his own, he cried. He didn't cry for his hardship, but because he felt so helpless, so lowly before the persistent poverty that clung to his family.

But the dormitory was also where his most brilliant youth was kept. The streets of Nguyen Chi Thanh and Nguyen Tri Phương were imprinted with the footsteps of brothers gathered from all over the country. They were students—poor but enthusiastic.

He was proud of the bond between those brothers; even when he made money or lost it all, he believed no one would abandon him. He was the one who left. He could never forget being one of the first to create the "storming" (street celebrations) effect after the glorious victories of the Vietnam national team. Back then, national spirit merged with the hot blood of youth like a fuse burning bright, making him forget the hardships of earning a living.

Destiny eventually pushed him to take shelter from one aunt's house to another, where he accidentally touched the "trade" of gambling. He was like a fish in water; his hands, once coarse from carrying beer, suddenly became exquisite and strangely soft with playing cards.

He was taught how to arrange and swap cards according to the secret signals of the "masters." With just a different tone of his name being called, he knew which deck to swap to change an entire destiny on the gambling table. He used that cunning to survive, to escape the bone-aching life of hauling beer. He had money, but at that very moment, the peace in his soul began to show its first cracks—deep and impossible to mend. No one gets rich from gambling. Gambling was, in fact, one of the things that took the most from him.

The teacup in his hand now felt weightless, yet he found it heavier than the beer crates of old. The exhaustion of the student was a fatigue of the muscles, but his exhaustion today was the fatigue of one who has climbed to the peak only to look back and find no one left who started with him at the base. He had escaped poverty, had become successful according to his mother's dream, yet the heartache of that student remained intact, like a ghost lurking behind the fragrant tea smoke.

Involuntarily, he softly hummed a few lines of Bolero, his voice raspy with tobacco and wind: "...Better to be a raindrop, falling on a stone statue. Better to be a raindrop, falling on the river's surface..." That mournful melody seeped into his flesh. He felt he was indeed a raindrop, falling forever, yet unable to dissolve into anything. His life was a series of contradictions: he married a Northern wife to find his Central-Northern roots, then divorced for freedom. He craved connection but feared commitment. He loved his children but only dared to see them through legal papers and rare moments.

A slight tightening in his left chest made him pause to sip the bitter tea. Health was a debt he was paying high interest on after years of "life and death" on the saddle of life. Loneliness at this point was no longer a chic choice of a wanderer, but a sentence. He was afraid. He feared that one day he would lie amidst this splendor with no hand to hold his firmly—not out of duty, but out of true love.

The Long An sun grew harsher, highlighting the tiny dust particles dancing in the air. He remembered the rare times he saw his daughters after the divorce. In the small space of the kitchen, he was no longer a dry financial accountant or a cunning moneymaker. He stood there, busy with the smell of garlic and onions, seasoning the soup to a "Northern-Central mix."

He taught the kids to cook—it was the only language of love he had left after so many storms. He spoke of life, of "sighs," of the "vastness" of human existence. He didn't want them to be ants just looking for food; he wanted them to enjoy even the bitterness of life with a calm attitude. He looked at them and saw himself in those clear eyes. Perhaps his wandering journey was just to prepare for this moment: the moment he realized he needed to be forgiven.

To forgive the first woman he left behind. To forgive himself for being too captivated by the allure of others and forgetting that a home is not built with money, but with presence. The conflict between wanting to escape poverty and preserving a home had torn him apart throughout his forties. He had succeeded in escaping poverty, but he had failed to keep a heart whole.

He stood up, his shadow stretching long across the granite floor. He no longer felt desolate. He saw himself as a part of this human flow, like that bird—no matter where it flies, it will eventually return to the nest. A wandering life, a hidden sorrow, a fear... all were now dissolved in the morning tea, cold now, but with a lingering, rich aftertaste.

He would go back. Back to cook the braised fish for his child, back to live truly with the late afternoon of his life. For he understood that after all the glory and bitterness, the only thing left is the warmth of forgiveness and unconditional love.

He took the last sip of tea, bitter on the tip of the tongue but sweet at the throat. He realized that freedom is not going to places where no one knows who you are; freedom is when you dare to admit that you still need a pair of arms wrapping around you from behind.

He stood up, stretching his arms wide as if to shed the shell of a wanderer. He picked up his phone, his finger sliding slowly across the screen, and replied: "I’m coming home."

The earth and sky were still. The Long An sun today was exceptionally beautiful.


[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...