Chiến Phan

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026

[Truyện] Khi đôi ta chung một đường (3) [Story] Walking the Same Path (3)


Sáu tháng sau ngày ông theo thiên sứ về trời.

Một buổi chiều nắng quái, có ba người trẻ đứng lặng bên lan can bến Bạch Đằng.

Áo mặc theo thời, điện thoại và máy ảnh đắt tiền, với  ánh mắt lại ngơ ngác như những kẻ lạc đường. Ngộ. Lạc đường ở nơi cha ông sống. Thomas và hai người em họ – những đứa cháu tò mò về một nơi người ông đã ra đi. .

Thomas cầm trên tay một chiếc hộp nhỏ bằng gỗ sồi, bên trong là tập hồ sơ mà ông đã để lại trên bàn trước khi về Việt Nam. Những bức ảnh trắng đen về Sài Gòn xưa, những dòng tản văn viết tay bằng tiếng Việt mà chúng từng cho là "vô giá trị", giờ đây trở thành tấm bản đồ dẫn lối. Lạ. Sức mạnh nào kéo người đàn ông từng tuổi đó, đưa ra một quyết định dứt khoát đến vậy, mặc cho con cháu cản ngăn. 

Thomas vẫn nhớ như in, lúc ông ngồi nghe “tâm sự”, khuyên răn, chất vấn, năn nỉ…đủ kiểu của con cháu; ông chỉ ngồi lặng im như nghe một ngôn ngữ xa lạ, để rồi ông chỉ nhắc đi nhắc lại đúng một câu để kết thúc mỗi đoạn thoại với từng người: “Ba sẽ về lại Việt Nam!” 

Thomas không hiểu, không rõ nhưng chẳng thể quên. Ông chẳng buồn trả lời cho những câu hỏi tại sao, như thể đời ông đã quá nhiều lần phải tự hỏi điều đó. Thiệt. Ông ngán phải cảm thấy thế nào, giờ chỉ còn là suy nghĩ và ý tưởng. Chìm sâu. Nổi háo hức phải làm những gì nghĩ suy. Thế thôi

"Là ở đây sao?" – Lisa, đứa em út, khẽ hỏi bằng tiếng Anh. Cô nhìn xuống dòng sông Sài Gòn đang cuộn sóng. "Ông đã chọn nơi này để tan biến sao?"

Thomas không đáp. Anh mở chiếc điện thoại, truy cập vào trang Facebook cũ của bà. Trên đó, tấm hình biểu tượng vẫn là nửa trái tim gấp bằng tờ hai đô ố vàng. Anh nhớ lại ngày ông ra sân bay, khi mở chiếc ví của ông, anh đã thấy nửa còn lại. Anh đã từng cười nhạo ông là "old-fashioned" (cổ hủ), nhưng khi đứng ở đây, hít hà cái mùi nước sông, dậy một mùi nồng nàn của vị ngọt phương Nam, ngưỡng đường xích đạo, ướp đủ cái nắng "mật đào" đặc trưng của phương Nam, Thomas bỗng thấy sống mũi mình cay nồng.

Đám trẻ bắt đầu đi bộ. Lộ trình của chúng không theo chỉ dẫn của Google Maps, mà theo nhịp đập của những trang viết mang tên Chien Phan, để lần tìm lại cảm xúc của ông. Tưởng. Một người ông khi đó là thế nào; người đã từng bế chúng vào lòng, vác chúng lên vai, nói bằng ngôn ngữ tiếng Việt, kể chúng nghe về mãnh đất hình chữ S, chẳng quan tâm chúng có thiết tha thế nào. Rõ. Ông yêu thương chúng, như ôm ấp một tình yêu lớn bằng nơi ông kể về, như thể nó vốn là. 

Chúng đi từ nhà thờ Đức Bà, nơi đàn bồ câu vẫn hăng hái mồi mỗi chiều. Thomas dừng lại đúng vị trí mà ông đã từng đứng để đợi bà năm mươi năm trước. Anh nhắm mắt lại, cố gắng hình dung ra gã trai đại học Vạn Hạnh với chiếc áo sơ mi thấm đẫm mồ hôi, đang hồi hộp chờ đợi tà áo dài của cô sinh viên Văn Khoa.

Lần đầu tiên trong đời, Thomas cảm nhận được sự "đau thương" mà anh từng thấy trên các băng rôn ở hải ngoại không phải là những khẩu hiệu chính trị khô khan. Đau, Cắt. Sự hy sinh thầm lặng của một người đàn bà ở lại chăm mẹ già, và là nỗi khắc khoải của một người đàn ông mang nửa trái tim đi qua nửa vòng trái đất. Chia lìa để gắn chặt. Thomas liệt kê lại những cô gái cũng đến với mình, yêu thương có, tò mò có, chỉ là để vui cũng có…nó không có sự đợi chời, lìa xa và kết nối như câu chuyện của ông bà. Ngợ. Thomas vẫn không nghĩ đời tồn tại một chuyện mơ, chuyện chỉ truyện, chỉ phim mới có, chủ đích cũng để tạo một cao trào thu hút một người xem. Ngớ. Truyện viết từ đời, đời viết thành truyện. Phim thì cũng chẳng phải thế sao?

Lần dò. 

Điaịa chỉ của bà ở một con hẻm nhỏ ven đô. Bà đón chúng trong chiếc áo dài màu nhạt, mái đầu nhuộm màu mây trắng xóa. Bà không ngạc nhiên khi thấy chúng. Bà mỉm cười, cái cười lấp lánh như nắng tan trên dòng sông.

"Các con về rồi đó hả?" – Bà nói bằng tiếng Việt, chậm rãi và rõ ràng. 

Thomas lúng túng cúi đầu, dùng vốn tiếng mẹ đẻ ít ỏi đã bị bỏ quên từ lâu: "Dạ... tụi con về thăm Nội... và thăm Bà." 

Thomas có cảm giác như bà đã biết chúng từ lâu, như thể bà ngồi cạnh ông trong những ngày ông chơi đùa cùng chúng nó, hay kể cả lúc ông thăm mộ người bà “thật sự” của chúng ở một nước Mỹ xa xôi. 

Bà dắt chúng vào nhà. Trên bàn thờ, tấm hình ông đang cười ma mãnh đặt cạnh một lọ gốm nhỏ. Bà lấy ra nửa mảnh giấy hai đô còn lại – mảnh giấy mà bà đã "cháy" cùng ông trong tâm tưởng, nhưng thực chất bà đã giữ lại một phần tro tàn của nó để ép vào cuốn sổ tay.


"Ông các con nói rằng, ông tin rằng các cháu sẽ về!" bà khẽ khàng nói, đôi mắt chì thời gian kẻ dài ở mí sâu lại long lanh như nước suối. 

Chiều hôm đó, bà dẫn ba đứa trẻ ra lại bến sông. Thomas lấy ra một nhúm đất nhỏ mang từ khu vườn gỗ sồi ở North Carolina – nơi ông đã sống bốn mươi năm. Anh rắc nó xuống dòng sông Sài Gòn. Đất phương Tây hòa vào sình non phương Đông. Tro tàn hòa vào phù sa.

Đứng dựa vào lan can, Lisa chợt thốt lên: "Sài Gòn đẹp quá, Bà ạ!"

Bà quàng tay qua vai cô gái trẻ, cái quàng tay y hệt cách ông đã làm với bà. Một luồng điện ấm áp truyền qua lớp vải caro. Lisa cảm thấy như có một sự hồi sinh đang diễn ra trong chính huyết quản mình. Cô không còn cảm thấy mình là một người khách lạ. Tự dưng. Cô gái muốn ở lại một nơi mới đến này. Chẳng hiểu.

Thomas lấy máy ảnh ra, nhưng rồi anh hạ xuống. Có những khoảnh khắc không thể thu vào ống kính, chỉ có thể ghi lại bằng tim. Vô vị. Những bức ảnh đăng trên instagram, hay các trang mạng vừa dùng, tìm kiếm những lời, khen, chê bình luận như bị sóng cuộn ra giữa sông rồi biến đi biệt tăm. Chỉ còn một ảnh hình lấp lánh trên sông. Anh nhìn thấy bóng dáng ông bà, trẻ trung và tràn đầy nhựa sống, đang sóng đôi đi trên vỉa hè Đồng Khởi.

Bà nói nhỏ, mắt thảng thả về sông: "Hết một vòng rồi đó các con. Giờ thì ai cũng đã được tự do. Đi vui nhé, hẹn gặp lại"

Trời về chiều, gió sông thổi mạnh. Nhà thờ Đức Bà phía sau lưng vẫn uy nghiêm đứng đó.

Bà mỉm cười, nụ cười đợi Xuân rạng rỡ trên gương mặt pha màu nhang khói. Những đứa trẻ "xa xứ" giờ đã không còn xa nữa. Chúng đã tìm thấy nửa trái tim còn lại của mình ngay tại con đường này – con đường mà ông bà đã chung một lối đi qua suốt một đời người.

..



Sài gòn, ngày 06 tháng 02 năm 2026. Thomas Blog! 

Sài Gòn không nằm trên bản đồ da dê mà Nội vẫn hằng giữ, Sài Gòn nằm trong hơi thở của bà và trong nửa tờ hai đô đã sờn rách nếp gấp thời gian.

Chúng tôi đã từng lớn lên với niềm kiêu hãnh về những tòa nhà chọc trời và thứ ngôn ngữ toàn cầu, để rồi nhìn những bức ảnh cũ của Nội như nhìn vào một bảo tàng đã hóa thạch. Chúng tôi gọi mình là những người tự do, nhưng hóa ra, chúng tôi lại là những kẻ mắc kẹt trong sự thiếu vắng cội nguồn.

Chiều nay, khi đứng bên lan can bến Bạch Đằng, nhìn bà trút những hạt tro cuối cùng vào lòng sông, tôi mới hiểu thế nào là sự "hỉ xả". Hóa ra, hạnh phúc của đời người không phải là sở hữu bao nhiêu mét vuông đất ở xứ người, mà là có một nơi để trao gửi nắm tro tàn sau một vòng đời dâu bể. Hạnh phúc là khi người ta dám đi trọn một con đường, dẫu con đường đó có tên là Tự Do hay Đồng Khởi, miễn là có một bàn tay để nắm, một bờ vai để quàng qua lúc tóc đã phai màu mây.

Nội đã đi một vòng trái đất để tìm lại nửa trái tim mình gửi lại Sài Gòn. Và chúng tôi, những đứa trẻ mang dòng máu pha màu nhang khói, đã tìm thấy chính mình trong nụ cười héo hắt nhưng bao dung của bà.

Tôi sẽ trở về Mỹ, nhưng trái tim tôi giờ đây đã có một nếp gấp mới. Một nếp gấp mang hình trái tim của tờ hai đô. Tôi sẽ kể cho những người bạn của mình nghe rằng: Quê hương không phải là nơi ta sinh ra, mà là nơi ta cảm thấy linh hồn mình được nhẹ bẫng khi chạm tay vào đất mẹ.

Phút giao mùa này, tôi không còn thấy lạnh. Vì tôi biết, ở một góc phố nào đó của Sài Gòn, linh hồn Nội vẫn đang sóng đôi cùng bà, đi giữa lòng con đường rộn rã, cười: "Đến cuối đường rồi em ạ..."

Hết một vòng. Mọi thứ đã hóa hư không, chỉ còn tình yêu là ở lại.

https://chienphan.blogspot.com/2016/01/khi-oi-ta-chung-mot-uong.html?fbclid=IwY2xjawPvh0ZleHRuA2FlbQIxMQBzcnRjBmFwcF9pZBAyMjIwMzkxNzg4MjAwODkyAAEeOktUwctI_0ABEByEuUYQRCIu-3NXQgoWJVUiE9r7AdgXjdYyX-Zk7RgmItI_aem_EJNZonWy5O1jBBFYhJ3ilw

https://chienphan.blogspot.com/2026/02/truyen-khi-oi-ta-chung-mot-uong-2-story.html?fbclid=IwY2xjawPyHjhleHRuA2FlbQIxMQBzcnRjBmFwcF9pZBAyMjIwMzkxNzg4MjAwODkyAAEerfKnI6ackMuKKG5rZmH_K0KJxySQebK6mcn2tQyLNZpoVfDCVJUDPByBJPk_aem_YRHxF2BYdouRlnIH7kGU9w

***

Six months after the day he followed the angels to heaven.

On a late afternoon under a lingering sun, three young people stood silently by the Bach Dang wharf railing. They wore the clothes of the trend, carrying expensive phones and cameras, yet their gazes were bewildered, like those who had lost their way. Strange. To be lost in the very place where their ancestors lived. Thomas and his two cousins—grandchildren curious about the place from which their grandfather had departed.

Thomas held a small oak box in his hand. Inside was the file his grandfather had left on the table before returning to Vietnam. Black-and-white photos of old Saigon, handwritten essays in Vietnamese that they once deemed "worthless," had now become a guiding map. Odd. What power could pull a man of that age to make such a definitive decision, despite the protests of his children?

Thomas remembered vividly the moment his grandfather sat listening to their "confessions," advice, questioning, and pleas... of every kind. He only sat in silence, as if listening to a foreign language, and then repeated just one sentence to end every conversation: "I am going back to Vietnam!"

Thomas did not understand, but he could not forget. His grandfather didn't bother to answer the "whys," as if his life had already asked that question too many times. Truthfully. He was tired of feeling a certain way; now, only thoughts and ideas remained. Deeply submerged. The urge to execute what he thought was all that mattered. That was it.

"Is it here?" Lisa, the youngest, asked softly in English. She looked down at the swirling waters of the Saigon River. "Did Grandpa choose this place to vanish?"

Thomas did not answer. He opened his phone and accessed the old woman’s Facebook page. There, the profile picture remained the half-heart folded from a yellowed two-dollar bill. He remembered the day his grandfather went to the airport; when he opened the old man's wallet, he saw the other half. He had once mocked him for being "old-fashioned," but standing here, breathing in the scent of the river water—a pungent, sweet fragrance of the South, near the equator, steeped in that characteristic "honey-peach" sunlight—Thomas suddenly felt a sharp sting in his nose.

The youths began to walk. Their route followed no Google Maps directions, but rather the heartbeat of the writings signed Chien Phan, tracing back the old man's emotions. Imagining. Who was their grandfather then? The man who had cradled them, carried them on his shoulders, spoke in Vietnamese, and told them about the S-shaped land, regardless of how much they cared. Clear. He loved them as he embraced a great love for the place he spoke of, as if it had always been so.

They walked from the Notre Dame Cathedral, where the pigeons still eagerly pecked for food every afternoon. Thomas stopped exactly where his grandfather had stood to wait for her fifty years ago. He closed his eyes, trying to visualize the lad from Van Hanh University with a sweat-soaked shirt, anxiously awaiting the silk tunic of the student from the Faculty of Letters.

For the first time in his life, Thomas felt that the "pain" he once saw on banners overseas was not just dry political slogans. Cutting, Aching. The silent sacrifice of a woman who stayed behind to care for an ailing mother, and the yearning of a man carrying half a heart halfway across the world. Separated to be bound tighter. Thomas listed the girls who had come into his own life—some for love, some for curiosity, some just for fun... none held that waiting, that parting, that connection like the story of his grandparents. Doubtful. Thomas never thought life held a dreamlike story, the kind only found in books or movies to create a climax for the audience. Absurd. Stories are written from life, and life is written into stories. Is film not the same?

Searching.

Her address was in a small alley on the outskirts. She greeted them in a pale-colored áo dài, her hair dyed the color of white clouds. She was not surprised to see them. She smiled, a sparkle like sunlight dissolving on the river.

"You’ve come back, haven't you?" she said in Vietnamese, slowly and clearly.

Thomas bowed his head awkwardly, using his meager, long-forgotten mother tongue: "Yes... we’ve come to visit Grandpa... and to visit you, Grandma."

Thomas felt as if she had known them for a long time, as if she had sat beside him during the days he played with them, or even when he visited the grave of their "real" grandmother in far-off America.

She led them into the house. On the altar, the photo of him smiling mischievously sat next to a small ceramic jar. She took out the remaining half of the two-dollar bill—the paper she had "burned" with him in her mind, but in reality, she had kept a part of its ash pressed into her notebook.

"Your grandfather said, he believed that you all would return!" she said softly, her eyes—lined by the kohl of time—shimmering like spring water.

That afternoon, she led the three youths back to the river wharf. Thomas took a handful of soil brought from the oak garden in North Carolina—where the old man had lived for forty years. He scattered it into the Saigon River. Western soil merged with Eastern silt. Ashes merged with alluvium.

Leaning against the railing, Lisa suddenly exclaimed: "Saigon is so beautiful, Grandma!"

The old woman draped her arm over the young girl’s shoulder, the exact same way he had once done to her. A warm current of electricity surged through the plaid fabric. Lisa felt a revival occurring in her own veins. She no longer felt like a stranger. Suddenly. The girl wanted to stay in this newly found place. She didn't quite understand why.

Thomas took out his camera, but then he lowered it. There are moments that cannot be captured by a lens, only by the heart. Pointless. The photos posted on Instagram or other networks, seeking likes or comments, seemed as if they would be swept out to sea and vanish. Only a shimmering image remained on the river. He saw the silhouettes of his grandparents, young and full of life, walking side by side on the Dong Khoi sidewalk.

The old woman spoke softly, her eyes drifting toward the river: "The circle is complete, my children. Now, everyone is free. Go in joy, until we meet again."

Evening fell, the river wind blew strongly. The Notre Dame Cathedral stood solemn behind them.

She smiled, a smile awaiting Spring, radiant on a face shaded with the color of incense smoke. The "exiled" children were no longer far away. They had found the remaining half of their heart right here on this road—the path their grandparents had shared for an entire lifetime.

..

Saigon, February 6, 2026. Thomas’s Blog!

Saigon is not found on the parchment map that Grandpa always kept; Saigon lives in Grandma’s breath and in the half of a two-dollar bill with its frayed folds of time.

We grew up with pride in skyscrapers and a global language, looking at Grandpa's old photos as if peering into a fossilized museum. We called ourselves free, but it turns out we were the ones trapped in the absence of roots.

This afternoon, standing by the Bach Dang wharf railing, watching Grandma pour the last grains of ash into the river, I finally understood the meaning of "release." It turns out, human happiness is not about owning square meters of land in a foreign country, but having a place to entrust one's ashes after a lifetime of upheaval. Happiness is when one dares to walk a road to its very end, whether that road is named Tu Do or Dong Khoi, as long as there is a hand to hold and a shoulder to lean on when hair has faded to the color of clouds.

Grandpa traveled around the world to find the half of his heart he left in Saigon. And we, children with blood tinted by the color of incense smoke, found ourselves in the withered yet forgiving smile of Grandma.

I will return to America, but my heart now has a new fold. A fold shaped like the heart of a two-dollar bill. I will tell my friends: Homeland is not where you are born, but where you feel your soul grow light upon touching the motherland.

In this threshold of seasons, I am no longer cold. Because I know, at some corner of Saigon, Grandpa’s soul is still walking beside Grandma, moving through the bustling street, smiling: "We’ve reached the end of the road, my dear..."

The circle is complete. Everything has turned to void; only love remains.

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026

[Truyện] Khi đôi ta chung một đường (2) [Story] Walking the Same Path (2)

Chiều bến Bạch Đằng, nắng gác bóng trên những tòa nhà cao tầng soi mình xuống dòng sông chảy xiết. Gió từ sông thổi ngược lên, mang theo vị mặn của phù sa và cả cái nồng nàn của một đô thị đang cựa mình trong những đổi thay chóng mặt.

Người đàn bà đứng đó, đơn độc nhưng không hề lẻ loi. Bà nhìn làn tro trắng mỏng manh vừa tan vào lòng sông, khẽ mỉm cười. Trong tâm tưởng của bà, ông, như vẫn còn đây. Ông chỉ đang thực hiện một cú nhảy cuối cùng, từ đôi vai gầy của bà để trở về với dòng nước Sài Gòn – nơi khởi nguồn của những nụ cười Catinat và những giọt nước mắt Tự Do của hơn nửa thế kỷ trước.

Lần giở. Bà tìm trong chiếc túi nhung nhỏ đeo bên người, ngón tay run rẩy chạm vào một mảnh giấy cũ kỹ, ố vàng nhưng được ép nhựa kỹ lưỡng. Nửa trái tim bằng tờ hai đô. Mảnh giấy ấy đã nằm trong bóp ông suốt bốn mươi năm ở xứ người, đã cùng ông đi qua những mùa tuyết tan và những buổi chiều vàng ngồi nhìn mây bay trên mái nhà gỗ.

Nhớ. Buổi tối đầu tiên khi ông trở về. Sài Gòn khi ấy rực rỡ ánh đèn, khác xa với cái màu xám xịt của khói đạn ngày gã ra đi. Ông nhìn bà, đôi mắt đã mờ đục vì thời gian nhưng cái ánh nhìn "nhất quỷ, nhì ma" thuở học trò thì vẫn còn đó. Run. Ông rút từ trong ví ra nửa trái tim ấy, đặt cạnh nửa trái tim mà bà đã giữ gìn như sinh mạng suốt bao năm.

Hai mảnh giấy ráp lại. Chúng không còn khít khao như ngày đầu, vì những nếp gấp đã sờn, vì mồ hôi và cả những giọt nước mắt đã làm nhòe đi một phần con số. Nhưng khi hai nửa trái tim chạm vào nhau trên mặt bàn gỗ cũ, bà nghe thấy tiếng thời gian rền rĩ, nghe thấy tiếng động cơ trực thăng và cả tiếng gào thét của một thời tan tác chim bay.

"Anh về rồi," ông nói, giọng khàn đặc. "Anh mang tự do của anh về trả lại cho em."

Bà không khóc. Ở tuổi này, người ta không còn khóc bằng mắt. Héo hắt. Bà cười: "Tự do làm gì khi đường Catinat đã đổi tên, và nhà thờ Đức Bà cũng đã khác màu gạch cũ, anh ơi!"

Những ngày sau đó, họ cùng nhau đi. Đi như để bù đắp cho bốn mươi năm đứt đoạn.

Họ đi qua Đồng Khởi, ông vẫn thói quen cũ, quàng tay qua vai bà. Ông bảo, Sài Gòn giờ lạ quá, người ta đi vội quá, chẳng ai còn đủ kiên nhẫn để "mai phục" cả tháng trời chỉ để nhìn thấy một tà áo trắng Văn Khoa lướt qua. Bà chỉ cười, đôi mắt ngó qua ngó lại những biển hiệu rực rỡ. Với bà, Sài Gòn vẫn rộn rã, vẫn là cái nơi mà bà đã chọn ở lại để giữ lấy một chữ "Hiếu", dẫu phải đánh đổi bằng cả một thời xuân sắc.

Phương xa. Đám con cháu thỉnh thoảng gọi về qua cái màn hình nhỏ xíu. Chúng nói tiếng Anh, tiếng Pháp, chúng nhìn Sài Gòn qua lăng kính của những du khách. Xa lạ. Chúng chẳng thể hiểu nổi vì sao một tờ giấy hai đô rách nát lại có thể khiến ông nội chúng kiên quyết bỏ lại tất cả để trở về.

Có một chiều, khi ngồi dưới tán cây cổ thụ gần bưu điện thành phố, ông khẽ tựa đầu vào vai bà, hơi thở mệt nhọc:

  • "Em này, nếu ngày đó em đi với anh, liệu mình có hạnh phúc hơn không?"

Bà im lặng hồi lâu, nhìn đàn bồ câu đang hăng hái mồi dưới chân.

  • "Hạnh phúc không có chữ 'nếu', anh ạ. Ngày đó em ở lại vì mẹ, anh đi vì tự do của anh. Chúng ta đều đã chọn điều mình cho là đúng. Giờ gặp lại, đi chung một đoạn đường cuối thế này, chẳng phải là ơn trên đã quá ưu ái rồi sao?"

Ông nhắm mắt, môi mỉm cười. Trong khoảnh khắc ấy, bà thấy gã trai Vạn Hạnh năm nào đang nắm tay cô gái Văn Khoa, chạy băng qua những tờ truyền đơn rơi trắng đường Tự Do.

Ai rồi cũng về nơi ấy. Ngày đó đến. Ngày mà ông không còn đủ sức để quàng tay qua vai bà nữa.

Ông đi vào một buổi sáng nắng đẹp, cái nắng giống hệt buổi sáng Catinat năm nào. Ông đi thanh thản, trong tay vẫn nắm chặt nửa mảnh giấy hai đô. Trước khi nhắm mắt, ông chỉ thì thầm: "Trả lại em... cả trái tim..."

Bà không tổ chức tang lễ linh đình. Bà biết ông ghét sự ồn ào giả tạo. Bà đưa ông đi hỏa táng, rồi giữ bình tro nhỏ bên mình suốt mùa đông cho đến tận giây phút này – phút giao mùa của một năm mới.

Đứng bên lan can bến sông, bà cảm thấy lòng mình nhẹ bẫng. Những hạt tro bay theo gió, chúng không rơi xuống nước ngay mà lượn vòng trên không trung, như đang quyến luyến tà áo bà một lần cuối. Bà lấy từ trong túi ra nửa mảnh giấy của mình, châm một ngọn lửa nhỏ. Mảnh giấy cháy nhanh, tàn tro xám nhẹ bay lên, hòa lẫn với tro cốt của ông.

Giờ thì họ đã thực sự chung một đường. Không còn phân biệt Tự Do hay Đồng Khởi, không còn khoảng cách giữa Tây phương và Đất mẹ.

Bà đứng dựa vào lan can, nắng chiều hắt lên gương mặt chân chim một vẻ đẹp thánh thiện. Ở cửa nhìn ra sông, bóng dáng ông dường như vẫn đứng đó, nháy mắt một cái thật tình tứ rồi tan vào sương khói.

Dưới lòng sông, những con sóng nhỏ vẫn lăn tăn gọi bờ. Sài Gòn vẫn rộn rã, vẫn chuyển mình. Nhưng trong trái tim người đàn bà ấy, có một con đường sẽ mãi mãi mang tên Tình Yêu – con đường mà hai nửa trái tim đã tìm thấy nhau, sau một vòng đời dâu bể.

Bà quay lưng bước đi, nhịp chân khẽ rung nhịp nhàng trên vỉa hè Đồng Khởi. Phía sau bà, nhà thờ Đức Bà vẫn uy nghiêm, Đức Mẹ vẫn mỉm cười bao dung. Một mùa xuân mới lại về.

***

Tiếng bước chân của bà trên vỉa hè Đồng Khởi dần thưa nhịp, để lại một khoảng trống mênh mông nơi bến sông. Nhưng câu chuyện về nửa tờ hai đô không tan biến theo làn khói nhang. Nó lặn sâu vào tâm thức của những đứa trẻ mang dòng máu Việt nhưng nói thứ ngôn ngữ của bên kia đại dương, để rồi một ngày, chúng tìm về.


Sáu tháng sau ngày ông theo thiên sứ về trời.

Một buổi chiều nắng quái, có ba người trẻ đứng lặng bên lan can bến Bạch Đằng.

(Ảnh: Internet)

***



WALKING THE SAME PATH: AN EPILOGUE BY THE RIVER AT DUSK

At the Bach Dang wharf, the afternoon sun casts the shadows of skyscrapers deep into the swiftly flowing river. The river breeze blows upward, carrying the saltiness of alluvium and the heady intensity of a city twisting itself through dizzying transformations.

The woman stands there, solitary but not alone. She watches the fragile white ashes dissolve into the river, a faint smile on her lips. In her mind, he is still here. He is merely making one final leap—from her thin shoulders back into the waters of Saigon, the origin of Catinat’s smiles and Tu Do’s tears from over half a century ago.

Unfolding. She searches through the small velvet pouch at her side, her fingers trembling as they touch a scrap of paper—old, yellowed, but meticulously laminated. Half a heart made from a two-dollar bill. That scrap had lived in his wallet for forty years in a foreign land, accompanying him through melting snows and golden afternoons spent watching clouds from a wooden porch.

Remembrance. The first evening he returned. Saigon then was brilliant with lights, a world away from the grey smoke of gunfire on the day he departed. He looked at her; his eyes were clouded by time, but that "mischievous" schoolboy glint remained. Trembling. He pulled that half-heart from his wallet, placing it beside the half she had guarded like her very soul for all those years.

The two pieces of paper were joined. They no longer fit perfectly as they once did—the folds were frayed, and sweat and tears had blurred part of the serial numbers. But as the two halves touched on the old wooden table, she heard the groan of time, the roar of helicopter engines, and the screams of an era of scattered birds.

"I’m home," he said, his voice husky. "I’ve brought my freedom back to give to you."

She did not cry. At this age, people no longer cry with their eyes. Withered. She smiled: "What use is freedom, my love, when Catinat Street has changed its name, and even the Notre Dame Cathedral wears a different shade of brick?"

In the days that followed, they walked together. Walking as if to mend forty years of disconnection.

They crossed Dong Khoi; he kept his old habit, draping his arm over her shoulders. He remarked that Saigon felt so strange now—people moved too fast, and no one had the patience to "lay in wait" for an entire month just to catch a glimpse of a white silk tunic from the Faculty of Letters. She only laughed, her eyes darting between the vibrant neon signs. To her, Saigon was still bustling, still the place she chose to stay to fulfill the word "Filial Piety," even if it meant bartering away her youth.

From afar. The grandchildren would occasionally call through a tiny screen. They spoke English and French; they saw Saigon through the lens of tourists. Alien. They could never fathom why a tattered two-dollar bill could make their grandfather insist on leaving everything behind to return.

One afternoon, sitting under an ancient tree near the City Post Office, he leaned his head lightly on her shoulder, his breath labored: "Tell me, if you had gone with me that day, would we have been happier?"

She remained silent for a long time, watching the pigeons eagerly pecking for food at their feet. "Happiness has no 'ifs,' my dear. That day, I stayed for my mother, and you left for your freedom. We both chose what we believed was right. Now that we've met again, walking this final stretch together, isn't it a profound grace from above?"

He closed his eyes, a smile on his lips. In that moment, she saw the Van Hanh student of years ago holding the hand of the girl from the Faculty of Letters, running across the white leaflets scattered over Tu Do Street.

Everyone eventually returns there. That day arrived. The day he no longer had the strength to drape his arm over her shoulders.

He passed away on a beautiful sunny morning, a sun exactly like that Catinat morning long ago. He left peacefully, still clutching the half of the two-dollar bill. Before closing his eyes, he only whispered: "Returning to you... my whole heart..."

She did not hold a grand funeral. She knew he loathed superficial noise. She had him cremated, then kept the small urn of ashes beside her throughout the winter until this very moment—the threshold of a new year.

Standing by the river railing, she felt her heart grow light. The grains of ash flew with the wind; they did not fall into the water immediately but circled in the air as if clinging to her tunic one last time. She took her half of the paper from her pocket and lit a small flame. The paper burned quickly, the light grey ash rising to mingle with his.

Now, they truly walked the same path. No more distinction between Tu Do or Dong Khoi, no more distance between the West and the Motherland.

She leaned against the railing, the afternoon sun casting a saintly beauty upon her weathered face. In the doorway looking out at the river, his silhouette seemed to linger, giving one last intimate wink before dissolving into the mist.

Beneath the river, small ripples still called to the shore. Saigon remained bustling, constantly transforming. But in that woman’s heart, there was a road that would forever be named Love—the path where two halves of a heart found each other after a lifetime of upheaval.

She turned and walked away, her footsteps moving with a rhythmic tremble on the Dong Khoi sidewalk. Behind her, the Notre Dame Cathedral stood solemn, and the Virgin Mary continued to smile with boundless compassion. A new spring had arrived.


The sound of her footsteps on the Dong Khoi sidewalk gradually thinned, leaving a vast emptiness by the riverbank. But the story of the half of a two-dollar bill did not vanish with the incense smoke. It dived deep into the consciousness of children carrying Vietnamese blood but speaking the languages from across the ocean, so that one day, they would find their way back.

Six months after the day he followed the angels to heaven.

On a late afternoon under a lingering sun, three young people stood silently by the Bach Dang wharf railing.


Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

Nhật ký của cha - Merci - Tảo mộ [Dad'sDiary: The Dawn Journey to the Roots]


“Ai rồi cũng về nơi đây con ạ,” ông già chỉ cho thằng nhóc những ngôi mộ trẻ, những đứa nhỏ, những người lớn chứ không chỉ có người già. “Sự sống và cái chết luôn song hành, như sáng và tối vậy.”

Sài Gòn lúc tờ mờ sáng và cây cầu của những giấc mơ

Sài Gòn. Tháng Chạp nũng nịu rất riêng. Nó không lạnh buốt như cái rét của miền Trung quê cha. Nó se lạnh, cái lạnh đủ để người ta muốn xích lại gần nhau hơn, nhưng cũng đủ tỉnh táo để bắt đầu một hành trình mà "Ông già" gọi là "đi tìm gốc rễ".

Tảo mộ. Tờ mờ sáng. Kim đồng hồ nhích từng bước lười biếng. Ông già và Merci. Thằng nhóc mười ba tuổi, đang ở cái ngưỡng lẻ ra "giấc ngủ là chân lý", vặn vẹo thân hình như một con sâu bướm đang cố thoát khỏi cái kén chăn ấm, đằng này thằng nhóc ngồi chờ sẵn ông già để bắt đầu một chuyến đi.

Lủi thủi dắt xe ra khỏi hẻm. Đường phố lúc này chưa nhiều tiếng còi xe inh ỏi, chỉ có tiếng chổi tre quét rác ràn rạt trên mặt đường của những người công nhân vệ sinh.

Bầu trời lúc này là một bức tranh sơn dầu chưa khô. Những mảng màu xanh đen đậm đặc bắt đầu bị pha loãng bởi một dải màu tím than và hồng nhạt ở phía chân trời. Những áng mây lơ lửng, xếp lớp lên nhau như những chiếc vảy cá khổng lồ, trôi lững lờ như chẳng muốn đánh thức thành phố đang say ngủ. Đối nghịch với vẻ tĩnh lặng của bầu trời là những ánh đèn đường vàng vọt, cô độc, chiếu xuống mặt đường nhựa còn đọng sương đêm, tạo nên một cảm giác vừa liêu trai vừa ấm áp.

Khi xe lăn bánh qua cầu Bình Triệu, gió sông thổi thốc vào mặt, tỉnh cả người. Merci ngồi sau, hai tay đút túi áo khoác, bắt đầu ngắm một ánh bình minh đang lên, nơi những tòa nhà như xuyên vào bầu trời. Lố nhố.


Đời buôn gánh bán bưng. Chợ sáng đã bắt đầu nhóm họp. Những sạp hoa rực rỡ sắc màu: hoa vạn thọ vàng rực cả một góc đường, hoa ly thơm nồng nàn, và những bó cúc trắng tinh khôi. Cô bán hàng đon đả mời chào, cạnh bên là cô con gái nhỏ, chừng độ tuổi của thằng nhóc, đang phụ mẹ bó những nhành huệ trắng bằng sự tỉ mỉ của một nghệ nhân nhí. Merci nhìn chăm chú. 

Ông già không đáp, nghĩ về những đứa trẻ phải lớn nhanh hơn tuổi của mình. Cười. Khen. Con gái giỏi, rồi đi. Đường đi bắt đầu nhiều khói bụi hơn khi dòng người đổ về phía ngoại ô ngày một đông. Những chiếc xe chở đầy quà Tết, những chậu mai vàng rực rung rinh sau yên xe máy, tất cả tạo nên một không khí hối hả, như thể ai cũng đang chạy đua với thời gian để kịp về nhà.

Chuyện trò. Nghĩa trang liệt sĩ. Chủ đề thằng nhóc hỏi về nơi nằm xuống của cha, ông; có phải nằm ở nơi đó không. Rối lòng. Ông già khơi lại từ điển lưu giữ trong đầu mình. Tâm tưởng. Nghĩa trang liệt sĩ hiện ra dưới ánh bình minh rực rỡ. Nơi tưởng nhớ về những con người đã ngã xuống, vô danh. Xe vẫn lướt đi trên một chủ đề được nói tiếp. Thằng nhóc của ông già tưởng nhớ về một nơi được khắc ghi, có tên những chú, bác và ông mình. 

Trò chuyện. Thằng nhóc hỏi về dòng họ. Ông già bắt đầu kể cho thằng nhóc nghe về cha ông – những câu chuyện mà chính ông già cũng từng được nghe kể lại từ “người tình tóc bạc” (mẹ của ông già), từ chị, từ các anh. Gia đình vốn có một bức ảnh cũ bị khuyết mất một góc hình – một khoảng trống bí ẩn của lịch sử. Và giờ đây, chỉ có thằng nhóc Merci đi cùng ông già để dặm vá lại những ký ức đó.

Thằng nhóc tò mò hỏi về ông nội – người lính biệt động thành năm nào. “Ông nội sống ở đâu và vì sao lại ra đi hả ba?”

Ông già chạy chậm lại. Ôn một hoài niệm cũ, lục lọi ký ức chắt chiu trong hành trình lần mò về quá khứ. “Ông nội con từng sống ở quận Nhất, được cấp nhà ở đường Ngô Tùng Châu giờ là đường Lê Thị Riêng, trong cùng con hẻm nhỏ người nghệ sĩ tài danh Thanh Nga, người đã ra đi khi độ tuổi xuân thì. Những vết thương chiến tranh không chỉ hằn trên da thịt mà còn giấu kín trong lồng ngực. Rồi lần lượt, ông cũng ra đi trong chính con hẻm nhỏ đó, vì những vết thương cũ tái phát.”


Merci im lặng. Ông già tưởng đoán. Nó nhìn vào bóng tối của những con hẻm, có lẽ đang tưởng tượng về một thời rực lửa mà ông nội nó đã đi qua. Khi đi qua nghĩa trang liệt sĩ, ông già giải thích một cách giản đơn rằng: “Nơi đó là chốn giấu của những con người đã ngã xuống. Có những bia mộ vô danh đến giờ vẫn chưa tìm lại được người thân. Đó là cách để mình học cách trân trọng cuộc sống, trân trọng hòa bình mà mình đang có.”

Đời mộ. Những cuộc đời gắn bó với bia mộ, mộ bia. Chuyện trò, sau gần cả năm gặp lại. Người nói với mộ, mộ im. Người nói với người giữ mộ, kẻ còn, người mất. 

Đất, nước, gió và chuyện “đầu heo” làng Sình

“Đây là con trai lớn em, em dẫn đi để biết nơi ông cha chúng nó nằm xuống”. Đi đến mộ nào, ông già cũng nói. 

Nơi mộ ông. Ông già nói với người giữ mộ, gã đàn ông đã gậy sộp theo năm tháng, chiếc áo sơ mi kẻ sọc cũng bắt đầu sờn bạc theo tháng năm.

Nơi mộ cha. Ông già nói với người chăm mộ, gã đàn ông giờ rạng rỡ một nụ cười, ánh mắt ánh lên tia sáng khi kể về cuộc sống của hiện tại, hai đứa con gái đã trưởng thành, yên bề gia thất, có công việc đàng hoàng để bớt lắng lo, đưa làm nghề giáo, đứa làm mua hàng của một siêu thị Nhật. Cười. Ông già nói: nói cháu nó cố gắng anh nha. 

Quét dọn, lau chùi, dọn dẹp. Thấp đèn, đốt hương, sau khi mâm bánh trái đủ đầy, hoa nở rộ một góc mộ. Thằng nhóc bắt đầu cúng kiến cùng với ông già với những câu hỏi lần giở về một thế giới mới. 

“Ông cố là người thế nào ba? Sao trên bia lại ghi ba chữ Bình - Trị - Thiên?”

Ông già ngồi xuống bên nấm mộ, kể về người đàn ông trưởng tộc quyền uy ở làng Sình, Thừa Thiên. “Ngày xưa, mỗi dịp lễ lạt, ‘đầu heo’ phải được mang để dành riêng, để kính dâng và để ông cố ngồi ở chiếu trên cùng. Đó là cái uy của người đứng đầu. Rồi chuyện ‘đích tôn’ truyền thừa qua bác hai, rồi đến anh hai... những con người của một thời đại cũ, chẳng biết giờ thế hệ trẻ có còn thiết tha nhớ đến không.”

Ông già giải thích cho Merci về ba chữ Bình Trị Thiên – một dòng lịch sử của mảnh đất từng sáp nhập, tách rời rồi lại hợp nhất của ngày hôm nay. Merci xoa nhẹ lên tấm bia đá lạnh ngắt, 

“Ai rồi cũng về nơi đây con ạ,” ông già chỉ cho thằng nhóc những ngôi mộ trẻ, những đứa nhỏ, những người lớn chứ không chỉ có người già. “Sự sống và cái chết luôn song hành, như sáng và tối vậy.”

Đang tải lên: Đã tải 166418/166418 byte lên.


Những người giữ mộ và tập tục đời người

Ông già gọi để nhắc mình nhớ. Ông già giới thiệu Merci với những con người giữ mộ. Ông gọi tên từng người một cách thân thiết, như sợ nếu mình quên gọi, tên họ sẽ tan biến vào thinh không. 

Ông già gọi để nhắc nhớ mọi người, để lỡ mai sau có đứa trẻ tìm về, có người dẫn đường cho chúng tìm về mộ của ông cha. Ông già sẻ chia cho con trẻ một tập tục của cha ông – thứ mà có lẽ nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng có thể viết cả một cuốn sách dày để phân tích.

Ông già chẳng muốn đặt gánh nặng lên vai đám trẻ làm gì, chỉ là muốn cho nó biết cuộc sống có cái chi, có một tập tục như thế, một sợi dây liên kết vô hình giữa người sống và người chết. Cười. Ông già của ngày xưa của hai ba mươi năm về trước, chắc không tưởng tượng được mình của hôm nay, cũng bắt đầu tập giữ gìn những gì mà ông bà từng kể, để đám trẻ mường tượng về một cuộc sống của cha ông, về cội nguồn của một dòng lịch sử.

“Con chỉ cần biết thôi, không cần phải ‘gồng’ mình lên để gánh vác đâu,” ông già vỗ vai thằng nhóc khi thấy nó đang đứng nhìn chăm chú một ngôi mộ vô danh.

Cuối tuần, Sài Gòn bắt đầu “lang bạt” nắng. Bình minh rực rỡ lúc sớm mai đã nhường chỗ cho cái nóng bắt đầu len lỏi. Con người từ khắp nơi bắt đầu đổ ra đường, trả lại cho Sài Gòn cái vẻ ngất ngư, hối hả của những ngày cuối năm.

Hai cha con trở về nhà khi cái nắng đã đậu vàng trên vai áo. Merci mệt phờ. Sau một buổi sớm tảo mộ, sau những câu chuyện về ông nội biệt động, về ông cố trưởng tộc và những ngôi mộ trẻ,...thằng nhóc hứng thú về một câu chuyện khác của cuộc sống này. Chẳng phải sinh, mà là tử.

https://chienphan.blogspot.com/2013/01/at-gio-mua-chuyen-tro-mot-som-thanh-minh.html

***


“Everyone will eventually return here, son,” the Old Man said, pointing to the graves of the young, the children, and the adults, not just the elderly. “Life and death always go hand in hand, like light and darkness.”

Saigon at Dawn and the Bridge of Dreams

Saigon. The twelfth lunar month has its own peculiar way of being coquettish. It isn’t the biting, bone-chilling cold of the Father's Central hometown. It is a brisk chill—just enough to make people want to huddle closer, yet sharp enough to keep one alert to begin a journey that the "Old Man" calls "the search for roots."

Visiting ancestral graves. Daybreak. The clock hands move with a lazy reluctance. The Old Man and Merci. A thirteen-year-old boy at an age where "sleep is the ultimate truth," wriggling like a caterpillar trying to escape its warm blanket cocoon. Yet, here he was, sitting ready, waiting for the Old Man to begin the trip.

They quietly wheeled the motorbike out of the alley. The streets were not yet filled with the chaotic blare of horns, only the rhythmic shush-shush of bamboo brooms against the pavement as sanitation workers swept the night away.

The sky at this hour was an unfinished oil painting. Thick patches of deep blue-black were being diluted by a streak of charcoal violet and pale pink on the horizon. Clouds hovered, layered like giant fish scales, drifting listlessly as if they didn't want to wake the slumbering city. Contrasting with the sky's stillness were the lonely, jaundiced streetlights casting a glow on the dew-slicked asphalt, creating a sensation that was both ghostly and warm.

As the bike rolled over Binh Trieu Bridge, the river breeze slapped their faces, jolting them awake. Merci sat behind, hands tucked deep in his jacket pockets, beginning to watch a sunrise that pierced through the skyline. Crowded yet sparse.

The life of street vendors. The morning market was already gathering. Stalls of vibrant flowers: marigolds turning a corner into a sea of gold, fragrant lilies, and pure white daisies. A saleswoman called out cheerfully; beside her was a young girl, roughly Merci’s age, helping her mother bundle white tuberoses with the meticulousness of a child artisan. Merci watched intently.

The Old Man didn't respond, thinking about children who have to grow up faster than their years. A smile. A word of praise: "That girl is capable," and they moved on. The road became dustier as the stream of people heading toward the outskirts grew thicker. Motorbikes laden with Tet gifts and shivering golden apricot blossoms created a hurried atmosphere, as if everyone was racing against time to make it home.

Conversations. The Martyrs' Cemetery.

The boy asked if his grandfather and grand-uncles lay there. A stir in the heart. The Old Man rummaged through the dictionary stored in his mind. In his mind's eye, the Martyrs' Cemetery appeared under the brilliant sunrise—a place of remembrance for those who fell, nameless. The bike glided on as the topic continued. The Old Man’s boy remembered a place where names were etched—the names of his uncles and his grandfather.

They talked about the lineage. The Old Man began telling Merci about their ancestors—stories he himself had heard from the “Silver-Haired Lover” (the Old Man’s mother), from his sisters, and his brothers. The family possessed an old photograph with a missing corner—a mysterious void in history. And now, only Merci accompanied the Old Man to patch up those memories.

The boy curiously asked about his grandfather—the Saigon Special Forces soldier of years past. “Where did Grandpa live, and why did he pass away, Dad?”

The Old Man slowed down. He revisited an old nostalgia, searching through memories cherished during this crawl back to the past. “Your grandfather used to live in District 1. He was granted a house on Ngo Tung Chau Street—now Le Thi Rieng—in the very same small alley as the legendary artist Thanh Nga, who passed away in the bloom of her youth. War wounds are not just scarred on the skin; they are hidden deep within the chest. One by one, he also passed away in that same small alley when his old wounds flared up.”

Merci fell silent. The Old Man guessed his thoughts. The boy looked into the darkness of the alleys, perhaps imagining the fiery times his grandfather had walked through. As they passed the Martyrs' Cemetery, the Old Man explained simply: “That is the hiding place of those who fell. There are nameless headstones whose families have still not been found. It is a way for us to learn to appreciate life, to appreciate the peace we have.”

Life at the gravesite. Lives intertwined with headstones and epitaphs. Conversation, after nearly a year apart. The living spoke to the graves; the graves remained silent. The living spoke to the grave keepers; the gone and the remaining.

Earth, Water, Wind, and the "Pig's Head" of Sinh Village

“This is my eldest son; I brought him here so he knows where his ancestors lie.” At every grave they visited, the Old Man would say this.

At the grandfather's grave. The Old Man spoke to the grave keeper, a man who had grown frail over the years, his striped shirt fading with time.

At the father's grave. The Old Man spoke to the caretaker, a man now radiant with a smile, his eyes shining as he spoke of his current life: his two daughters were grown and settled with good jobs—one a teacher, the other a buyer for a Japanese supermarket. A smile. The Old Man said: "Tell the children to keep trying, brother."

Sweeping, wiping, tidying. Lighting lamps, burning incense. After the trays of cakes and fruits were laid out and flowers bloomed at the corner of the grave, the boy began to pray with the Old Man, his questions unfolding a new world.

“What was Great-Grandpa like, Dad? Why does the headstone say these three words: Binh - Tri - Thiên?”

The Old Man sat by the grave, telling him about the powerful clan head in Sinh Village, Thua Thien. “In the old days, during festivals, the ‘pig's head’ had to be set aside specifically to be offered and so that Great-Grandpa could sit at the head of the table. That was the prestige of a leader. Then there was the matter of the ‘eldest grandson’ inheritance through your eldest uncle, then your eldest brother... people of an old era, I wonder if the younger generation still cares to remember them.”

The Old Man explained to Merci about the three words Binh Tri Thien—a historical line of a land that was merged, separated, and merged again today. Merci gently stroked the cold stone tablet.

“Everyone will eventually return here, son,” the Old Man said, pointing to the graves of the young, the children, and the adults, not just the elderly. “Life and death always go hand in hand, like light and darkness.”

The Grave Keepers and the Traditions of a Lifetime

The Old Man called out names to remind himself to remember. He introduced Merci to the grave keepers. He called each by name intimately, as if fearing that if he forgot to call them, their names would dissolve into the void.

He called out to remind everyone, so that if one day the children returned, there would be a guide to lead them to their ancestors' graves. The Old Man shared with the child a tradition of their fathers—something the researcher Phan Cam Thuong could probably write an entire thick book to analyze.

The Old Man didn’t want to place a burden on the children’s shoulders; he just wanted them to know what life entails—that there is such a tradition, an invisible thread connecting the living and the dead. A smile. The Old Man of twenty or thirty years ago probably couldn't have imagined himself today, also beginning to preserve what his grandparents once told him, so the children could envision the lives of their ancestors, the roots of a historical lineage.

“You only need to know, you don't need to 'brace' yourself to carry it,” the Old Man patted the boy’s shoulder as he saw him staring intently at an anonymous grave.

The weekend. Saigon began to be "vagrant" with sunlight. The brilliant sunrise of the early morning had given way to the heat that began to creep in. People from everywhere began to pour into the streets, returning to Saigon its giddy, hurried look of the year's end.

The two returned home as the sun perched golden on their shoulders. Merci was exhausted. After a morning of grave visiting, after the stories of the special forces grandfather, the clan head great-grandfather, and the young graves... the boy was intrigued by a different story of this life. Not of birth, but of death.

[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...