Chiến Phan

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2026

[Sách] Những cánh thư vào Bắc ra Nam - Vũ Công Lập, Bùi Chí Trung


 

Nó bước chầm chậm vào căn nhà 34B Lý Nam Đế, lặng lẽ để lắng nghe hơi thở của đất trời hòa quyện với nhân sinh. Giữa cỏ cây hoa lá và những tán cây ăn trái trĩu quả, nó cảm nhận được sự hiện diện của một vị Đại tướng từng giấu mình nơi đây—một người con của mảnh đất miền Trung nắng gió, ngược ra đất Bắc để sống, để yêu, và để tận hiến. Ở đó, tình yêu dành cho người phụ nữ tên Cúc đã kết tinh thành ba đứa trẻ, được đặt dưới tình yêu bao la với đất nước, giữa ngút ngàn khói lửa chiến tranh, để rồi ông trở thành một trong những con người được sử sách ghi danh: Nguyễn Chí Thanh.

Bất chợt, nó nhớ đến "ông"—người đàn ông đã đi qua đời bà, người tình tóc bạc của ký ức. Nó tự hỏi, không biết ông có may mắn được nằm trong đội ngũ từng làm việc với vị Đại tướng này tại Bình - Trị - Thiên khói lửa năm ấy hay không? Những cánh thư trong cuốn sách này chính là "nhát chạm" để nối liền những đứt gãy của lịch sử và cảm xúc.

Những Cánh Thư: Khi "Trang Giấy Trắng" Không Còn Lấm Lem

Cuốn sách của Vũ Công Lập và Bùi Chí Trung không phải là một tập tài liệu lịch sử khô khốc. Nó là một tập hợp những dòng viết tay rướm máu và đầy hy vọng. Trong thế giới của Hirigoyen, ngôn từ có thể là vũ khí để quấy rối, nhưng ở đây, ngôn từ là oxy.

"Em yêu thương, giữa tiếng súng và khói bụi, hình ảnh em và các con là suối nguồn duy nhất giúp anh giữ vững niềm tin vào ngày chiến thắng."

Khác với những "trang giấy nhàu" của đời công bộc mà nó từng trăn trở, những lá thư này là những trang giấy được viết bằng sự chân thật tuyệt đối. Chúng không bị xóa đi miết để trở thành lấm lem, mà mỗi vết mực đều là một sự khẳng định về sự hiện diện. Vị Đại tướng lừng lẫy, người lèo lái những chiến dịch lớn lao, khi đặt bút viết cho vợ lại trở về là một gã Sapiens đầy tình trắc ẩn.


Vợ chồng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã sống trong một sự chia cắt, của nghĩa vụ quốc gia và của tử sinh cận kề. Nhưng họ không để mình trở thành nạn nhân. Họ không đóng vai "người bị giày xéo" như những kẻ tự huyễn mà nó từng gặp. Thay vào đó, họ biến những cánh thư thành nhịp cầu để phá vỡ mọi lồng sắt của sự sợ hãi.

"Chúng ta học sống trong tình yêu được chạm khắc từ mất mát... Và ở đây, mất mát là sự xa cách nghìn trùng, nhưng tình yêu lại là thứ lũy tiến theo thời gian."

 Tình thương từ những lá thư từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam đã tưới tắm cho những mầm xanh, để chúng không bao giờ trở thành những "bóng hình đơn độc trên sông".

Nó bước đến, ngồi cạnh bà Cúc đang nép mình ở sau nha, vai bà run run, nước mắt của bà đang chảy trên gò má, đó là lúc đất nước thông báo đã giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Bà không còn ông.

Nó đứng giữa vườn cây 34B Lý Nam Đế, nghĩ về người tình tóc bạc và những con người đã đi qua cuộc chiến. Có lẽ, những người như "ông" đã sống một đời công bộc lặng lẽ, cũng từng chứng kiến những sự tàn bạo, nhưng nhờ những tấm gương như Nguyễn Chí Thanh, họ tìm thấy sức mạnh để không im lặng một cách hèn nhát.

"Dẫu thế giới này chẳng dành cho tình yêu thương, thì chúng ta vẫn phải tự tạo ra nó trong từng nét chữ."

Hirigoyen nói về kẻ quấy rối cần hạ thấp người khác, còn Nguyễn Chí Thanh dạy ta cách nâng người khác lên bằng niềm tin. Cuốn sách nhắc nhở rằng, mọi danh xưng "chức sắc" đều vô nghĩa nếu không có một trái tim chân thật ở bên dưới.

"Mọi tình yêu, và cả sự tự trọng, đều được chạm khắc từ những mất mát và va đập."

Nó khép lại cuốn sách, cảm thấy trang giấy đời mình như được phẳng lại đôi chút. Những lá thư của Đại tướng chính là tiếng hót của con chim trong bụi mận gai, nhưng tiếng hót ấy không phải để chết đi, mà để sự sống được tiếp nối rực rỡ hơn trong lòng con cháu.

*** 

It walked slowly into the house at 34B Ly Nam De, quietly listening to the breath of heaven and earth blending with human existence. Amidst the plants, flowers, and trees heavy with fruit, it felt the presence of a General who once resided here—a son of the sun-drenched, wind-swept Central land, who journeyed North to live, to love, and to dedicate himself fully. There, his love for a woman named Cuc crystallized into three children, held beneath an immense love for the country amidst the towering smoke of war, leading him to become one of the figures inscribed in history: Nguyen Chi Thanh.

Suddenly, it remembered "him"—the man who had passed through her life, the white-haired lover of memory. It wondered if he was fortunate enough to have been among those who worked with the General in the fire and smoke of Binh-Tri-Thien in those years? The letters in this book are the very "touch" that connects the fractures of history and emotion.

The Letters: When the "Blank Page" Is No Longer Stained

The book by Vu Cong Lap and Bui Chi Trung is not a dry historical document. It is a collection of handwritten lines, bloodied yet full of hope. In the world of Hirigoyen, words can be weapons of harassment, but here, words are oxygen.

"My dearest, amidst the gunfire and dust, the image of you and our children is the only source that helps me maintain my faith in the day of victory."

Unlike the "crumpled pages" of the public servant's life that it once brooded over, these letters are pages written with absolute sincerity. They are not erased repeatedly until they become stained; rather, every ink mark is an affirmation of presence. The illustrious General, who steered great campaigns, returned to being a compassionate Sapiens the moment he put pen to paper for his wife.

General Nguyen Chi Thanh and his wife lived through separation, national duty, and the constant proximity of life and death. Yet they did not let themselves become victims. They did not play the role of the "trampled" like the self-deluded individuals it had met. Instead, they turned their letters into bridges to break every iron cage of fear.

"We learn to live in a love carved from loss... And here, loss is a thousand miles of distance, but love is something that multiplies over time."

The affection from the letters traveling South to North, and North to South, nourished the green shoots so they would never become "lonely shadows on the river."

It stepped forward, sitting beside Mrs. Cuc who was huddled behind the house, her shoulders trembling, tears streaming down her cheeks. That was the moment the country announced the liberation of the South and national unification. She no longer had him.

It stood in the garden of 34B Ly Nam De, thinking of the white-haired lover and the people who passed through the war. Perhaps people like "him" lived a quiet life of public service, having also witnessed brutalities, but thanks to examples like Nguyen Chi Thanh, they found the strength not to remain silent in cowardice.

"Even if this world is not meant for love, we must still create it ourselves within every stroke of a pen."

Hirigoyen spoke of the harasser needing to belittle others, while Nguyen Chi Thanh teaches us how to lift others up through faith. The book reminds us that all titles of "rank" are meaningless if there isn't a truthful heart beneath.

"All love, and all self-respect, is carved from losses and collisions."

It closed the book, feeling the pages of its own life flatten slightly. The General's letters are the song of the bird in the thorn bush, but that song was not meant for death; it was so that life could continue more radiantly in the hearts of descendants.

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

[Sách] Quấy rối tinh thần - Marie France Hirigoyen


Sớm trời, lướt tin, chị chia sẻ một dòng tâm trạng về việc bắt nạt chốn văn phòng. Nó đọc, rồi ngẫm. Đời công bộc trôi qua, chẳng lẽ việc nhận ra sự tàn bạo lại khó đến thế sao? Hay con người ta vốn dĩ quá ngây thơ?

Nhớ. Ta bước ra từ học đường, được dạy rằng mình là những trang giấy trắng cần được viết thêm. Nhưng trang giấy ấy cứ bị viết rồi xóa miết, cho đến khi nhàu nát và lấm lem. Ẩn dưới những thớ giấy ấy là những vết chằng chịt, tì vết của những lần bị chà đạp tinh thần mà đôi khi chính ta cũng không gọi tên được.

Sự Im Lặng Của Những Kẻ "Tử Tế" Giả Tạo

Chuyện ở nhà hàng Liên Xô, khi chị đưa ra quan điểm, nó chỉ biết cười – một nụ cười chua chát, pha chút tự trách: "Thật ra bản thân cũng chẳng tốt hơn là bao?".

Nó cay đắng nhận ra rằng, trong môi trường làm việc, ta thường huyễn hoặc mình dưới những danh xưng "chức sắc huyện làng". Ta mặc định mọi điều của bậc "trưởng thượng" đều là đúng, là hợp tình. Ta tự biện minh cho những điều sai trái, miễn là nó không chạm đến lợi ích của mình. Im lặng dù biết rằng chẳng vô can, vẫn cứ lặng im, rồi tự huyễn hoặc rằng đó là điều tử tế nhất bản thân có thể làm.

Marie-France Hirigoyen đã bóc trần sự im lặng đó trong cuốn sách:

"Quấy rối tinh thần không phải là một sự bùng nổ bạo lực nhất thời, mà là một quá trình hủy diệt âm thầm, bền bỉ, nhắm vào tâm hồn nạn nhân cho đến khi họ không còn là chính mình."

Trong cái bầy người nơi văn phòng ấy, khi tranh chấp xảy ra, người ta nhìn nhau như những con thú hung hăng đang vồ vập lấy con mồi. Chúng đánh hơi thấy trong bầy con nào đang yếu nhất, rồi tập trung xâu xé để khẳng định vị thế "mạnh" của mình. Có con công khai, có con ẩn mình chờ ăn xác thối.

Tiêu trừ nhân tính. Ở một chiều ngược lại, dường như ta không chỉ bị nạp mình, mà đôi khi ta tình nguyện để điều đó xảy ra, cứ nghĩ đơn giản: "Kệ đi, miễn chẳng phải mình là được" hoặc giản đơn "đó là việc của quản lý hoặc cấp trên".

Nhớ. Viết lại một góc nhìn người Việt, rút tỉa từ trong ánh mắt cười nhếch mép của người ngoài: Tính cá nhân cao, thích làm chuyện lớn lao, ngặt nổi lại luôn đặt câu hỏi tại sao lại chỉ có bản thân mình?

Ta vất vưởng chờ đợi, lấy thời gian làm thước đo huyễn hoặc, gom góp hết thảy để bắt chẹt những người tử tế. Hỏi anh, anh đáp: "Thế giới đó chẳng dành cho tình yêu thương". Lặng im.

Tu tiên. Chị cười nói về nó và nha: "Một gã nửa chân bước trên con đường ấy, một ông thì bước trọn vẹn hai chân, giờ cứ hỏi nhau" 

Đó là lúc nó kể về những cảnh tượng mình thấy được, đặc biệt là trong hôn nhân. Tự huyễn. Con người ta cứ thích đóng vai nạn nhân, một cách vô tình, cho phép những bậc "trưởng thượng" hay "chức sắc huyện làng" được quyền ném mình đi, giày xéo mình như một món đồ chơi cũ, chẳng khác gì đám trẻ con chưa biết tự vệ. Hỏi anh, anh đáp: "Chân thật". Lặng im.

Cuốn sách của Hirigoyen soi tỏ một loại tội ác không để lại vết sẹo trên da thịt, nhưng lại làm mục rỗng linh hồn. Những kẻ quấy rối tinh thần thường dùng sự mập mờ, những lời bóng gió và sự cô lập để tước đoạt "oxy" của nạn nhân.

"Kẻ quấy rối cần phải hạ thấp người khác để tự nâng cao bản thân mình. Họ sống bằng sức sống của nạn nhân, giống như một loài ký sinh tâm hồn."

Kết nối với triết lý của Liz Wiseman, đây chính là cấp độ cực đoan nhất của Nhà quản lý Tiêu trừ (Diminisher). Họ không chỉ bóp nghẹt trí thông minh, họ còn bóp nghẹt cả quyền được tồn tại của nhân viên. Họ nhân danh sự "nghiêm khắc" hay "truyền thống" để nhốt cấp dưới vào một chiếc lồng sắt của sự sợ hãi.

Nó nhìn lại những trang giấy đời mình. Những vết mực lấm lem ấy không chỉ đến từ kẻ ác, mà còn đến từ sự ngông nghênh của chính mình. Khi đứng ngoài cuộc nhìn một đồng nghiệp bị "xâu xé", nó đã vô tình trở thành một mắt xích trong chuỗi quấy rối đó. Chẳng tốt lành gì. 

Trang giấy trắng của một đứa trẻ sau bao năm làm công bộc đã không còn sạch sẽ. Mực đã lấm lem, thớ giấy đã rách. Sự "ngây thơ" thuở mới vào đời giờ đây đã bị thay thế bằng sự tỉnh thức đau đớn. Chẳng tốt lành chi.

"Nạn nhân của quấy rối tinh thần thường cảm thấy tội lỗi. Họ tự hỏi mình đã làm gì sai, trong khi kẻ quấy rối lại luôn cảm thấy mình là người công chính."

Hirigoyen nhắc nhở rằng, bước đầu tiên để giải thoát là phải gọi tên được sự tàn bạo đó. Đừng để những danh xưng "trưởng thượng" che mắt. Đừng để sự im lặng biến ta thành đồng phạm.

Đọc "Quấy rối tinh thần" không phải để uất ức, mà để nhìn thấu cái bản chất "mạnh – yếu" đầy giả tạo của xã hội loài người, từ một mái ấm nhỏ, cho đến một công sở rồi một cộng đồng. Nỗi buồn khi nhận ra mình từng "hùa vào" những điều không lành mạnh chính là một nỗi buồn có ích

Mọi tình yêu, và cả sự tự trọng, đều được chạm khắc từ những mất mát và va đập. 

***

MORAL HARASSMENT: CRUMPLED PAGES AND THE ILLUSION OF THE KIND

Early morning, scrolling through the news, she shared a status about workplace bullying. It (the character) read, then pondered. A lifetime of public service has passed; is it truly that difficult to recognize brutality? Or are people inherently too naive?

Remember. We emerge from school, taught that we are blank pages waiting to be written upon. But that page is written on and erased repeatedly until it is crumpled and stained. Beneath those fibers lie tangled scars—the marks of mental trampling that we sometimes cannot even name.

The Silence of the "Pseudo-Kind"

A story at a Soviet restaurant: when she offered her perspective, it could only laugh—a bitter laugh, tinged with self-reproach: "Truth be told, am I any better?"

It bitterly realized that in a work environment, we often delude ourselves with titles like "village dignitaries." We assume everything from the "elders" is correct and justifiable. We rationalize wrongdoings as long as they don't touch our interests. Silent despite knowing we are not innocent, we remain silent, deluding ourselves that it is the kindest thing we can do.

Marie-France Hirigoyen exposed this silence in her book:

"Moral harassment is not a sudden explosion of violence, but a process of silent, persistent destruction, targeting the victim's soul until they are no longer themselves."

In that human pack at the office, when conflict arises, people look at each other like aggressive beasts lunging for prey. They sniff out the weakest cub in the litter, then congregate to tear it apart to assert their "strong" status. Some do it openly; others hide, waiting to scavenge the remains.

The diminishment of humanity. On the flip side, it seems we don't just find ourselves caught in it; sometimes we volunteer for it. We think simply: "Forget it, as long as it's not me," or "That's the business of management or superiors."

Remember. Rewriting a Vietnamese perspective, distilled from the smirking gaze of an outsider: High individualism, a penchant for grand things, yet always plagued by the question: "Why am I all alone?"

We drift and wait, using time as a delusional yardstick, gathering everything just to entrap the truly kind. When asked, he replied: "That world is not meant for love." Silence.

Cultivating the Way (Tu tiên)

She laughed about it and him: "One guy has half a foot on that path, the other has both feet in; now they keep questioning each other."

That was when it spoke of the scenes it had witnessed, especially within marriage. Self-delusion. People love to play the victim, inadvertently allowing "elders" or "village dignitaries" the right to throw them away, to trample them like an old toy, no different from defenseless children. When asked, he replied: "Truthfulness." Silence.

Hirigoyen’s book illuminates a type of crime that leaves no physical scars but hollows out the soul. Moral harassers often use ambiguity, innuendo, and isolation to strip the victim of "oxygen."

"The harasser needs to belittle others to elevate themselves. They live off the victim's vitality, like a spiritual parasite."

Connecting this to Liz Wiseman’s philosophy, this is the most extreme level of the Diminisher. They don't just stifle intelligence; they stifle an employee's very right to exist. They invoke "strictness" or "tradition" to imprison subordinates in an iron cage of fear.

It looks back at the pages of its own life. Those ink stains came not only from the wicked but from its own arrogance. By standing on the sidelines watching a colleague be "torn apart," it inadvertently became a link in that chain of harassment. No good at all.

The blank page of a child after years of being a public servant is no longer clean. The ink is smudged; the paper is torn. The "naivety" of entering the world has been replaced by a painful awakening. Nothing good about it.

"Victims of moral harassment often feel guilty. They wonder what they did wrong, while the harasser always feels righteous."

Hirigoyen reminds us that the first step toward liberation is to name that brutality. Do not let titles like "elders" blind you. Do not let silence turn you into an accomplice.

Reading "Moral Harassment" is not for the sake of resentment, but to see through the hollow "strong-weak" nature of human society—from a small home to an office, then to a community. The sadness of realizing one once "joined in" on unhealthy things is a useful sadness.

Every love, and every ounce of self-respect, is carved from loss and collision.

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2026

PTS - Khói Qua Trời Cũ, Người Ở Lại Giữa Mùa Hoa [Fading Smoke, Lingering Blooms]


Phần 1: Serena và Những Bước Chân Đầu Tiên Trên Vỉa Hè Bách Khoa

Nó nhớ lần đầu gặp cô nhóc, một ngày Sài Gòn hầm hập hơi nóng từ những khối bê tông vây hãm; nhựa đường như muốn trút giận ngược lên những táng cây lưa thưa, tạo thành hoa nắng lên thân mình. Serena bước vào với cái mác sinh viên thực tập khoa Logistics của trường Bách Khoa. Bách Khoa – cái nôi của những bộ óc vuông vức, nơi những con số được mài giũa sắc lẹm đến mức có thể cắt đứt những mộng mơ viển vông. 

Cô bé ấy mang theo cái mùi của giảng đường, của những xấp tài liệu dày cộp và một ánh mắt trong veo đến lạ lùng, dù trong lòng chắc hẳn đang đầy rẫy những lo âu về một "thế giới thực" khắc nghiệt. Cô bé không quá nổi bật, hòa vào trong lứa sinh viên thực tập khi ấy dưới một mái nhà. 

Hồi. PTS còn sơ khai. Khoa Logistics là nơi đầu tiên được "thí điểm" để trở lại một hành trình, nung nấu một giấc mơ. Serena, cái tên cô nhóc chọn cho mình để dễ dàng giao dịch với nước ngoài, nghe thanh thoát như một tiếng chuông gió, bắt đầu hành trình bằng việc dấn thân vào những khái niệm khô khốc: Kaizen, một thuật ngữ của những gã Nhật ưa dùng để cải tiến là chính, tối ưu hóa dòng chảy, quản trị chuỗi cung ứng... Nó hướng dẫn cho cô nhóc cái nhiệm vụ mà bất cứ một gã sừng sỏ nào cũng phải ngao ngán: Dự báo thị trường và đặt hàng.

"Thị trường không phải là một bài toán tĩnh, nó là một con quái vật đang thở," nó cho là như thế. Đặt hàng bao nhiêu là đủ? Sức hấp thụ của người tiêu dùng sẽ ra sao khi những cơn sóng lạm phát bắt đầu vỗ vào bờ? Cô nhóc nhỏ bé từ vùng đất Bình Dương – nơi trập trùng những rừng cao su bạt ngàn, nơi tiếng lá rụng xào xạc trong những buổi chiều tà là âm thanh duy nhất phá tan sự tĩnh lặng – giờ đây phải đứng giữa Sài Gòn, đối mặt với những bảng tính Excel dài dằng dặc, trước khi bước lên một nấc tiếp theo để xây dựng thành hệ thống.

Nó yêu những con người tìm về phố. Nó nhìn thấy Serena lặn lội từ vùng quê đỏ màu đất lên thành phố tìm con chữ, rồi lại miệt mài gõ cửa một đơn vị nhỏ bé để thử một "nghiệp nghề". Sự chăm chỉ của cô nhóc như một con kiến cần mẫn, không nề hà những công việc không tên. Có những ngày, nó thấy Serena đứng giữa sân trời lộng gió, tung bay lọn tóc mai, ánh mắt cô bé xa xăm nhìn về phía chân trời nơi có những chiếc xe tải chở hàng nối đuôi nhau. Đó là sự khởi đầu của một hành trình dấn thân, nơi kinh nghiệm được chắt chiu từ chính những lần đặt dư hàng hay những phen "cháy" kho đến toát mồ hôi hột.

Cuộc đời vốn không chỉ có hoa hồng. Một cô bé thực tập được ưu ái, được chỉ dạy tận tình đôi khi lại trở thành thử thách dành cho riêng em. Người ta xầm xì, kẻ công khai trong những sự hiềm khích, lẫn lỗn giữa cá nhân và công việc, trong khi Serena vẫn cứ âm thầm như một nhành cỏ dại, lặng lẽ xanh dù chẳng ai tưới tắm. Nó chẳng can thiệp, dòng chảy của cuộc sống đó, vốn dĩ cần phải tự khơi thông. 

“Họ chẳng thích hoa dành dành, họ chỉ thích cỏ dại và hoa dại thôi”. Có lẽ Serena chính là nhành dành dành trắng muốt ấy, vô tình bị quăng quật giữa một đồng cỏ dại đầy gai góc của sự thay đổi. Cái áp lực phải lớn lên, phải thay đổi, phải "tự động hóa" từng nếp nghĩ để không bị đào thải như những bánh răng lỗi thời đã khiến cô nhóc nhiều đêm thức trắng, đôi mắt thâm quầng soi vào màn hình máy tính xanh lét lúc nửa đêm.

Và áp lực ấy, trớ trêu thay, lại đến từ chính nó.

Nó tự hiểu mình là một "người thầy" khắc nghiệt, một gã thợ rèn chỉ biết dùng lửa nóng và búa tạ để uốn nắn những thanh thép non. Trong tư duy bướng bỉnh của mình, nó tin rằng thứ duy nhất mình có thể trao cho cô nhóc chẳng có gì ngoài kiến thức khô khốc và một môi trường áp lực đến nghẹt thở. Nó muốn cô phải tập quen với cơn bão, để khi bước ra khỏi cánh cửa Home, cô có đủ sải cánh mà tung bay giữa trời xanh bao la mà không sợ bất kỳ cơn gió ngược nào quật ngã.

Nhưng Serena không đi. Cô chọn ở lại, lầm lụi và kiên định.

Sự lựa chọn đó khiến nó phải ngạc nhiên đến sững sờ. Lạ. Trên chuyến tàu mang ấy, nó đã chứng kiến biết bao chàng trai, cô gái cùng lứa với Serena lần lượt rời ga sau một kỳ trải nghiệm ngắn ngủi. Năm năm, năm năm trăm lượt đến và đi. Đám trẻ đi vì thấy "đời không như là mơ", vì những giấc mộng màu hồng về một công sở nhàn hạ sớm bị xé toạc bởi thực tế phũ phàng, hoặc đơn giản là họ không chịu nổi cái nhiệt độ hầm hập của một lò luyện mà ở đó, sự đào thải luôn trực chờ sau mỗi con số. Vậy mà nhành dành dành ấy vẫn bám rễ, lặng lẽ tỏa hương giữa những ngày nắng cháy.

Phần 2: Mùa Hạ Huế Và Bến Đỗ Của Trái Tim Chững Chạc

Năm năm. Một con số không quá dài cho một kiếp người nhưng là cả một thanh xuân rực rỡ cho một hành trình làm việc.

Ngày cuối cùng của Serena không có tiếng pháo nổ, không có những buổi tiệc xa hoa, chỉ có một bầu không khí trầm mặc đến kỳ lạ. Nó nhìn Serena của hiện tại: một người con gái chững chạc, đôi vai đã vững vàng hơn để gánh vác những trọng trách từ CS (Chăm sóc khách hàng) cho đến vận hành hệ thống. Cô nhóc ngày nào hay lúng túng trước những khái niệm "khách hàng thân thiết" giờ đây đã có thể tự tin đi dọc các nẻo đường đất nước, thấu hiểu từng nhịp thở của hệ thống logistics phức tạp.

Ngoại hình cô đã thay đổi, không còn cái nét thô mộc của nữ sinh Bách Khoa, thay vào đó là sự tinh tế, điềm đạm. Serena đã học được cách biến những con số vô hồn thành những giá trị phục vụ con người. Cô biết rằng, đằng sau mỗi đơn hàng là một hy vọng, đằng sau mỗi phản hồi của khách hàng là một sự tin tưởng cần được nâng niu.

Nhưng rồi, con tàu nào cũng phải cập bến, và cánh chim nào cũng cần một bầu trời riêng để sải cánh.

Vào một mùa Xuân, khi những mầm non đang bắt đầu cựa mình trên những cành cây khô khốc quanh văn phòng, Serena quyết định dừng lại. Cô rời khỏi con tàu..

Trong những câu chuyện tản mạn cuối cùng, nó nghe về một chàng trai. Một chàng trai ngồi ôm đàn ca hát dưới bầu trời Hạ ở Huế mộng mơ – nơi dòng Hương Giang lững lờ trôi như thể thời gian đã ngưng đọng. Trái tim Serena, sau những năm tháng bôn ba với "áp lực của sự thay đổi", với những vòng xoáy của hệ thống và chỉ số, giờ đây rạo rực với một tình yêu bùng cháy. Thanh xuân vẫy gọi cô về phía những giai điệu, về phía một bờ vai bình yên.

Nếu cuộc đời không rực rỡ thì đừng làm lấm lem thêm.

Nó nhớ lại hình ảnh những khu rừng cao su Bình Dương trong ký ức của Serena. Giờ đây, cô không còn là cô bé lạc lõng giữa Sài Gòn nữa. Cô bước đi với tâm thế của một người đã "ngược dòng để lớn", đã nếm trải đủ đắng cay ngọt bùi của nghề nghiệp để biết trân trọng những giá trị giản đơn.

Khung cảnh thiên nhiên hiện ra trong tâm trí nó khi tiễn em: Một khoảng trời ngút ngàn xanh, nơi có gió thổi lộng và mùi hương của sự tự do. Cô nhóc của nó sẽ đi, đi để con tim mình bớt lẻ loi, để yêu và được yêu.

Cô bé khóc thút thít trong vòng tay nó ngày cuối.

"Ngút ngàn đi nhé, cho con tim mình bớt lẻ loi," nó thầm chúc.

Nhìn theo bóng dáng Serena khuất dần sau cánh cửa, nó chợt nhận ra cuộc đời này đôi khi như vốn dĩ nó phải thế. Cây xẻ ra thành ván để làm nhà, người đi qua đời nhau để để lại những ký ức. Mùi cỏ non ngan ngát của quê nhà Serena, mùi mát lành của khoảng trời xưa cũ chợt ùa về trong tâm khảm nó. Nó hít một hơi thật sâu, cảm nhận bầu trời có gió, có vị mặn của mồ hôi và vị ngọt của những mùa hoa dành dành đã nở.

Sài Gòn ngoài kia vẫn hối hả. Những con kiến vẫn thoi đưa. Bầu trời ngoài kia vẫn xanh, lá vẫn xanh, và miền ký ức về cô nhóc Logistics ngày nào vẫn thơm nồng mùi cỏ dại. Những buổi ngồi cùng đám trẻ sinh viên vẫn tiếp tục, chỉ là có một cái tên được ghi vào dòng ký ức cũ. 

Tạm biệt, Serena. Hãy cứ rực rỡ như mùa Hạ ở Huế, và hãy cứ chân thật như mùi nhựa cao su của đất mẹ Bình Dương. Thanh xuân của em, xin giữ lại một góc nhỏ trong tim, như một phần của cuộc "Ngược Dòng Để Lớn" đầy kiêu hãnh.

***

 


Part 1: Serena and Her First Steps on the Pavements of Bach Khoa

It remembers the first time it met the girl. It was a day when Saigon was sweltering, trapped in the oppressive heat radiating from concrete blocks; the asphalt seemed to vent its anger upward toward the sparse trees, casting dappled "sun-flowers" across their trunks. Serena walked in with the label of an intern from the Logistics Department of Bach Khoa University. Bach Khoa—the cradle of "square minds," where numbers are sharpened so keenly they could cut right through any idle daydreams.

She carried with her the scent of the lecture hall, stacks of thick documents, and an oddly crystal-clear gaze, even though her heart was surely brimming with anxieties about a harsh "real world." She didn’t stand out much, blending into the crowd of interns under the same roof at that time.

Back then, the PTS was still in its infancy. The Logistics Department was the first to be "piloted" to return to a journey, fueling a dream. Serena—the name she chose for herself to facilitate international dealings—sounded as ethereal as a wind chime. She began her journey by plunging into bone-dry concepts: Kaizen (a term favored by the Japanese primarily for improvement), flow optimization, supply chain management... It assigned her a task that would make even the most seasoned veteran cringe: Market forecasting and ordering.

"The market isn't a static math problem; it's a breathing beast," it believed. How much is enough to order? How would consumer absorption fare when waves of inflation began to crash against the shore? The little girl from Binh Duong—a land of undulating, vast rubber forests where the rustle of falling leaves in the late afternoon was the only sound breaking the silence—now had to stand in the middle of Saigon, facing endless Excel spreadsheets before moving to the next level of system building.

It loves those who find their way to the city. It saw Serena trekking from the red-earthed countryside to the city in search of knowledge, then tirelessly knocking on the door of a small unit to test a "career." Her diligence was like that of a tiny ant, never shying away from nameless tasks. There were days it saw Serena standing in the wind-swept courtyard, her hair fluttering, her eyes gazing distantly toward the horizon where freight trucks lined up one after another. That was the start of a committed journey, where experience was distilled from over-ordering or "out-of-stock" scares that broke a cold sweat.

Life, by nature, is not just roses. An intern who is favored and taught wholeheartedly sometimes becomes a challenge unto herself. People whispered, some openly hostile, blurring the lines between personal feelings and work, while Serena remained silent like a wild blade of grass, quietly greening even without being watered. It didn't intervene; the flow of life must find its own way.

“They don’t like gardenias; they only like weeds and wildflowers.” Perhaps Serena was that pure white gardenia, accidentally tossed into a thorny field of change. The pressure to grow up, to change, to "automate" every thought process so as not to be discarded like an obsolete gear, kept the girl awake for many nights, her dark-rimmed eyes reflected in the blue light of the computer screen at midnight.

And that pressure, ironically, came from it.

It understood itself as a harsh "master," a blacksmith who only knew how to use intense fire and a sledgehammer to forge young steel. In its stubborn mindset, it believed the only thing it could offer her was dry knowledge and a suffocatingly high-pressure environment. It wanted her to get used to the storm, so that when she stepped out of the doors of HomeX, she would have enough wingspan to soar through the vast blue sky without fear of any headwind knocking her down.

But Serena didn't leave. She chose to stay, persistent and steadfast.

That choice left it utterly stunned. Strange. On that train, it had witnessed so many boys and girls of Serena’s generation leave the station after a brief stint. Five years—five hundred arrivals and departures. The youngsters left because they found "life is not a dream," because their rosy fantasies of a leisurely office job were quickly torn apart by grim reality, or simply because they couldn't withstand the searing heat of a furnace where displacement lurked behind every number. Yet, that gardenia kept its roots, quietly exhaling its fragrance amidst the scorching days.

Part 2: Hue’s Summer and the Anchor of a Matured Heart

Five years. A number not too long for a human lifespan, but a brilliant youth for a professional journey.

Serena’s final day was without the sound of firecrackers or lavish parties; there was only an oddly solemn atmosphere. It looked at the Serena of the present: a mature woman, her shoulders steadier to shoulder responsibilities ranging from CS (Customer Service) to system operations. The girl who once fumbled with "loyal customer" concepts could now confidently travel the country’s roads, understanding every heartbeat of a complex logistics system.

Her appearance had changed, no longer possessing the rustic look of a Bach Khoa student; instead, there was sophistication and poise. Serena had learned to turn soulless numbers into human values. She knew that behind every order is a hope, and behind every customer feedback is a trust to be cherished.

But eventually, every ship must dock, and every bird needs its own sky to spread its wings.

One Spring, as young buds were starting to stir on the withered branches around the office, Serena decided to stop. She stepped off the ship.

In their final drifting conversations, it heard about a boy. A boy sitting with a guitar, singing under the dreamy Summer sky of Hue—where the Huong River flows languidly as if time has stood still. Serena’s heart, after years of struggling with the "pressure of change," with the whirlpools of systems and metrics, was now fluttering with a burning love. Youth beckoned her toward melodies, toward a peaceful shoulder.

If life isn't brilliant, don't make it even more stained.

It recalled the images of the Binh Duong rubber forests in Serena’s memory. Now, she was no longer the lost girl in Saigon. She walked with the mindset of one who had "gone against the current to grow," who had tasted enough of the bitterness and sweetness of the profession to appreciate simple values.

A natural landscape appeared in it's mind as it saw her off: A vast blue sky, where the wind blows freely and the scent of freedom lingers. It's little girl would go—go so her heart would be less lonely, to love and be loved.

The girl sobbed in it's arms on the final day.

"Go far and wide, so your heart won't be lonely," it silently wished.

Watching Serena’s silhouette fade behind the door, it suddenly realized that life is sometimes just as it should be. Trees are sawn into planks to build houses; people pass through each other's lives to leave behind memories. The fragrance of young grass from Serena’s hometown, the cool scent of an old sky, suddenly rushed back into it's mind. It took a deep breath, feeling the sky with its wind, the saltiness of sweat, and the sweetness of the gardenia seasons that had bloomed.

Saigon out there is still bustling. The ants are still moving to and fro. The sky out there is still blue, the leaves are still green, and the memory of the Logistics girl from years ago still smells strongly of wild grass. The sessions sitting with groups of student interns continue; it's just that one name has been inscribed into the chronicles of the past.

Farewell, Serena. Stay as brilliant as a Summer in Hue, and stay as genuine as the scent of rubber sap from the Binh Duong motherland. Your youth—please let it keep a small corner in the heart, as a part of a proud journey of "Going Against the Current to Grow.


Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

[Tản mạn cuộc sống] Ly hôn - Khi đàn chim chọn cách rời nhau - Divorce – When the Flock Chooses to Part

 


“Thiên trường địa cửu nguyện lúc đầu

Vật hóa tinh di hận về sau”

“Mày đừng hỏi mẹ nó đâu nghe, con nhỏ nó nghe nó buồn... tao với mẹ nó đã li dị rồi.”

Sài Gòn đêm. Bệnh viện Nhi Đồng 2 chẳng còn nằm lọt thỏm giữa những tàng cây cổ thụ xanh rì, nó đã được chặt bớt đi, để nhường lại cho tòa nhà bê tông hóa, tầng 2, nơi mà không khí vốn dĩ phải tĩnh mịch thì nay lại bị xé toạc bởi tiếng ho của trẻ con và tiếng thở dài của người lớn. Thời tiết những ngày này hung hăng lạ kỳ, lúc nắng rát bỏng tay, lúc lại ẩm ương se sắt khiến cô nhóc nhà nó sụt sịt mãi chẳng thành giấc.

Giữa cái hành lang bệnh viện nồng nặc mùi ê-te và sự mệt mỏi chực chờ, nó giật mình khi nghe tiếng gọi quen thuộc. Là thằng bạn cùng bàn thời đại học đầy tự do. Thằng bạn nhận ra từ giọng nói nó.

Dưới ánh đèn neon hắt hiu, thằng bạn vẫn là ánh mắt đằng sau chiếc kính cận dày cộm, hàm răng lúc nào cũng nở một nụ cười chực sẵn như một thói quen tự vệ, mái tóc đã điểm bạc phần nhiều. Nó và thằng bạn, là một trong ba đứa ngồi ở cái băng ghế cuối cùng, trông lẻ loi như một nốt lặng lạc nhịp ở một giảng đường đại học.

Thằng bạn nó giỏi. Giỏi từ hồi còn ngồi ghế giảng đường, khi đám bạn còn mải mê với những vần thơ hay những giấc mơ bay bổng, nó đã biết cách lùng sục để kiếm những đồng tiền đầu tiên, hiểu về một nghiệp vụ ngoại thương thực tế. 

Giờ. Ly cà phê đen đặc, làn khói thuốc tàn bốc lên cay xè mắt, cả đám ngày đó lao vào kiếm sống, để rồi dùng sự bận rộn làm cái lý do chính đáng nhất để quên mất việc hỏi thăm nhau dù chỉ là online.

Nó vừa định mở lời hỏi thăm vợ con bạn, thì thằng bạn xua tay, nụ cười hơi méo xệch: – “Mày đừng hỏi mẹ nó đâu nghe, con nhỏ nó nghe nó buồn... tao với mẹ nó đã li dị rồi.”


Câu nói nhẹ tênh mà nặng nghìn cân. Nó khựng lại, thấy mình như vừa đâm sầm vào một bức tường vô hình. Li dị. Hai chữ ấy vang lên trong không gian đặc quánh, xao xác lòng. Thằng bạn nó giờ đứng trước một ngã đường mới, có phải là tự do, hay một sự trống trải đến rợn người.

Người ta tìm nhau, lập đàn, rồi lại tan đàn. Kiếp nhân sinh này sao giống một mùa cư trú của loài chim di cư đến thế? Bay đi, tìm về, rồi lại chọn cách tách đàn để bay về một phương trời đơn độc khác. Liệu cái sự "kết thúc" đó có thật sự là một sự "giải thoát", hay chỉ là một cách trốn chạy sự ngột ngạt của những ngộ nhận ban đầu?

“Tìm hoài chưa thấy đâu câu trả lời” 

***

Nó bỗng nhớ đến một người anh. Một đêm còn ủ nắng ngang tàng đổ lửa hắt lên từ đường nhựa, anh kể cho nó nghe về khoảnh khắc anh bước ra khỏi cửa nhà mình, chẳng mang theo gì. Anh không ngoảnh lại. Thấy rõ. Bóng dáng đứa con nhỏ đang ngồi nép vào góc tường, nơi chiếc cầu thang nhỏ hẹp đã lên màu rêu phong của thời gian.

Hình ảnh đứa trẻ ấy khắc sâu vào tâm can anh như một vết sẹo không bao giờ lành. Anh đi, đầu không ngoảnh lại, nhưng sau lưng không phải là "thềm nắng lá rơi đầy" thơ mộng của Quang Dũng, mà là một vực thẳm của sự dằn vặt. Anh hứa sẽ cho con những điều tốt nhất, nhưng "tốt nhất" là gì thì chính anh cũng chẳng rõ. Phải chăng là những tờ chi phiếu gửi về mỗi tháng, hay là một mái ấm đã bị xé đôi mà anh chẳng cách nào dán lại được?

Tự hỏi. Chẳng rõ. Lời nguyện cầu ngày ấy tìm đâu: “nguyện thề đến năm mươi năm về sau”  

Nhớ. 

Nó về nhà, nhìn mẹ – "người tình tóc bạc" của nó. Bà ngồi đó, dưới ánh sáng vàng vọt của buổi chiều tà, đôi tay nhăn nheo lần tràng hạt hoặc có khi chỉ ngồi thẫn thờ nhìn ra khoảng sân vắng. Bà có một quy tắc sắt đá cho đám trẻ "sống lâu" trong nhà: – “Đời bà chỉ đi rước dâu mỗi thằng một lần thôi. Đứa nào làm hỏng, bà không đi nữa.”

Câu nói nửa đùa nửa thật của mẹ mang theo cả một hệ tư tưởng cũ kỹ nhưng kiên định. Với bà, hôn nhân là một sự gắn kết thiêng liêng, không phải là thứ trang phục muốn thay là thay, muốn cởi là cởi. Mẹ sợ cái cảnh "tan đàn xẻ nghé", sợ những đứa trẻ phải ngơ ngác nhìn cha mẹ chúng chia đôi thế giới. 

Nhưng thế hệ của nó lại khác. Nó thấy ngập đầy trên những trang giấy báo, trên các diễn đàn, trên cả những hồ sơ phê duyệt mỗi ngày là những tờ xác nhận ly hôn xanh xao. Người ta quyết định nhanh hơn, dứt khoát hơn. Họ gọi đó là sự sống thật với bản thân, là không chấp nhận một sự ngộ nhận kéo dài.


Kể. Anh, chị nghe. Ở một trưa nắng ngang tàng, leo thang lên lầu 5 ở một Sài Gòn Center dùng bữa.

Nó đem chuyện này nói với anh, với chị trong một buổi ăn trưa. Nơi gặp nhau định kỳ, tất cả nói về văn chương, về triết đo, về việc con người ta đôi khi sống cả đời chỉ để nhận ra mình đã... chọn nhầm.

– “Có lý lẽ cho là một sự ngộ nhận,” chị nói. Nhưng anh cười nhạt: – “Ngay cả khi biết đó là sự ngộ nhận, liệu ta có chắc rằng đó có thật sự là ngộ nhận không?”. Lặng. Nó nghĩ. “Vậy liệu tiếp theo có là sự ngộ nhận mới? Hay ta lại tiếp tục xây một cái tổ mới, rồi lại đợi mùa di trú tiếp theo để bay đi?”

Cuộc sống vốn dĩ thong thả ra đi theo cách của nó. Nó cứ thế ghi nhận những gì cuộc đời ban tặng, cả những nụ cười rạng rỡ của đôi trẻ ngày cưới, lẫn những giọt nước mắt thầm lặng của người đàn ông đứng ở góc khuất bệnh viện nhi đồng.

Mọi lựa chọn đều có cái giá của nó. Có người chọn ở lại trong một chiếc lồng chật hẹp để giữ lấy hơi ấm của bầy đàn. Có người chọn tung cánh bay đi để tìm sự tự do, dẫu biết rằng phía trước là bão tố và sự cô độc. Chẳng biết đâu mà lần. 


Sau cùng, nó nhận ra rằng cuộc sống không chỉ có hai màu đen trắng của "bắt đầu" và "kết thúc". Nó là một dải màu đa sắc, nơi có cả sự đau đớn của chia lìa và sự ấm áp của những tình cảm chân thành không vị lợi. Thằng bạn nó vẫn sẽ tiếp tục kiếm tiền, vẫn sẽ yêu con nó theo cách riêng của một kẻ tách đàn. Anh nó vẫn sẽ mang theo hình ảnh đứa trẻ nơi cầu thang như một động lực để sống và tìm những điều “tốt nhất” cho con.

Hóa ra, dù đàn có tan, dù chim có bay đi muôn hướng, thì tình yêu thương vẫn là sợi dây vô hình kết nối những mảnh vỡ lại với nhau. 

Mọi thứ rồi sẽ trôi đi, thong thả và lặng lẽ. Nó đứng dậy, bế cô nhóc bước ra khỏi sảnh bệnh viện. Ngoài kia, Sài Gòn bắt đầu trở mình cho một ngày mới. Người ta vẫn sẽ tìm thấy nhau, vẫn sẽ lập đàn, và dẫu có tan đàn đi chăng nữa, thì mặt trời vẫn sẽ mọc, và lòng người vẫn sẽ tìm thấy một bến đỗ bình yên nào đó giữa dòng đời xuôi ngược.

Cảm ơn cuộc sống vì những ngộ nhận, để ta biết trân trọng hơn những phút giây thật lòng.

Cảm ơn.

***

"Heaven and earth are eternal, so was the vow at the start,

But as stars shift and worlds turn, only resentment fills the heart."

“Don’t ask where her mother is, okay? The little one will get sad if she hears... her mother and it have divorced.”

Saigon at night. Children’s Hospital 2 no longer sits tucked away beneath a canopy of lush ancient trees; many have been felled to make way for concrete expansion. On the second floor, the air that should have been tranquil is instead pierced by the coughing of children and the heavy sighs of adults. The weather lately has been strangely aggressive—scorching heat one moment, followed by a damp, biting chill the next, leaving its little girl sniffling and unable to find a deep sleep.

In the hospital corridor, thick with the scent of ether and lingering exhaustion, it was startled by a familiar call. It was its old desk-mate from those free-spirited university days. The friend had recognized it simply by its voice.

Under the dim neon lights, its friend still wore that look behind thick spectacles, with a smile always at the ready—a defensive habit. His hair, however, was now mostly silver. Back in the university lecture halls, it and his friend were part of a trio sitting on the back bench, looking like a lonely, off-beat rest note in a grand symphony.

Its friend was brilliant. He had been brilliant since their student days; while the rest of the gang was lost in verses of poetry or soaring dreams, he already knew how to scout for his first earnings, understanding the reality of foreign trade operations.

Now. Over a cup of thick black coffee, with cigarette smoke rising to sting the eyes, it thought of how they all rushed into making a living back then, eventually using "busyness" as the most justifiable excuse to forget to check in on one another, even online.

It was just about to ask after his friend's wife and child when the friend waved his hand, his smile twisting slightly: “Don’t ask where her mother is, okay? The little one will get sad if she hears... her mother and it have divorced.”

The words were feather-light yet weighed a thousand tons. It froze, feeling as though it had slammed into an invisible wall. Divorce. The two words echoed through the heavy air, unsettling its soul. Its friend now stood at a new crossroad—was it freedom, or a bone-chilling emptiness?

People find each other, form a flock, and then the flock scatters. Why is this human existence so much like the migratory season of birds? Flying away, seeking a home, then choosing to break from the flock to fly toward another solitary horizon. Is this "ending" truly a "release," or just a way to escape the suffocation of initial misconceptions?

“Searching forever, yet the answer is nowhere to be found.”


It suddenly remembered an older brother. On a night when the stubborn heat of the day still radiated up from the asphalt, the man told it about the moment he walked out of his front door, carrying nothing. He didn't look back. Yet, it saw it clearly: the silhouette of his small child huddled in the corner, by the narrow staircase that had turned the color of weathered moss.

The image of that child was etched into his heart like a scar that would never heal. He walked away, head unturned, but behind him was not the poetic "sun-drenched porch covered in fallen leaves" of the poet Quang Dũng, but a chasm of remorse. He promised to give his child "the best," but what "the best" actually was, he didn't truly know. Was it the child-support checks sent every month, or a home that had been torn in two which he had no way of mending?

It wondered. It was unclear. Where could one find that old prayer now: “Vowing to stay together fifty years into the future”?

Remembering.

It went home and looked at its mother—its "silver-haired lover." She sat there in the sallow light of the late afternoon, her withered hands moving over prayer beads, or sometimes just sitting in a daze, staring out at the empty yard. She had an ironclad rule for the "long-living children" in the house: “In my life, I will only go to fetch a bride for each of you once. Whoever breaks it, I’m not going again.”

Its mother’s half-joking, half-serious words carried an old-fashioned but steadfast ideology. To her, marriage was a sacred bond, not a garment to be changed or shed at will. She feared the "scattered flock," feared the sight of children looking on in bewilderment as their parents split their world in two.

But its generation is different. It sees it overflowing on newsprint, on forums, and even in the daily approval files—the pale, cold papers of divorce certifications. People decide faster, more decisively. They call it living truthfully to oneself, refusing to accept a prolonged misconception.

Telling. It told its older brother and sister about it. One afternoon, under a defiant sun, they climbed to the 5th floor of Saigon Centre for a meal.

It brought the subject up during lunch. Their periodic meeting place, where they spoke of literature, of philosophy, and of how people sometimes spend their whole lives only to realize they have... chosen wrong.

“There is an argument that it is a misconception,” the sister said. But the brother smiled faintly: “Even when we know it is a misconception, can we be sure it truly is one?” Silence. It thought: “So, will the next thing be a new misconception? Or do we simply build a new nest, only to wait for the next migratory season to fly away again?”

Life, by its nature, departs at its own leisurely pace. It simply records what life bestows—both the radiant smiles of a young couple on their wedding day and the silent tears of a man standing in a corner of the children’s hospital.

Every choice has its price. Some choose to stay in a cramped cage to keep the warmth of the flock. Others choose to spread their wings and fly away in search of freedom, knowing well that storms and solitude lie ahead. It didn't know for sure.

Ultimately, it realized that life is not just the black and white of "beginning" and "ending." It is a multi-colored spectrum, containing both the agony of parting and the warmth of sincere, selfless affection. Its friend will continue to earn a living, will continue to love his child in the unique way of one who has left the flock. Its older brother will carry the image of the child by the staircase as a motivation to live and find the "best things" for his kid.

It turns out that even if the flock scatters, even if the birds fly in every direction, love remains the invisible thread that connects the broken pieces.

Everything will pass, leisurely and quietly. It stood up, carrying the little girl as it walked out of the hospital lobby. Outside, Saigon began to stir for a new day. People will still find one another, will still form flocks, and even if those flocks scatter, the sun will still rise, and the human heart will still find a peaceful harbor somewhere amidst the ebb and flow of life.

Thank you, life, for the misconceptions, so that it may learn to cherish more the moments of true sincerity.

Thank you.


Thứ Hai, 6 tháng 4, 2026

[Sách] Bài học tiếng Hy Lạp - Han Kang

 

Nó lật mở những trang sách của Han Kang vào một buổi chiều bảng lảng, khi những tảng nắng cuối ngày rớt qua khe lá như những mảnh vụn của thời gian. Đây là quyển thứ ba nó đọc của bà, sau khi đã đi qua sự khước từ cực đoan của Người ăn chay và nỗi đau tập thể của Bản chất của người.

https://chienphan.blogspot.com/2025/09/sach-nguoi-chay-han-kang.html

https://chienphan.blogspot.com/2025/04/sach-ban-chat-cua-nguoi-han-kang.html

Ở lần này, nó tìm thấy một sự thú vị nhiều hơn. Han Kang viết về ngôn từ, về cấu trúc của tiếng Hy Lạp cổ bằng một sự chi tiết và cụ thể đến lạ kỳ. Nó thấy mình trong đó—một kẻ đam mê con chữ, luôn đi tìm sự "soi tỏ" trong từng thanh âm và nét gạch.

"Ngôn từ không chỉ là công cụ; chúng là những sinh thể mang theo ký ức và cả những vết sẹo của lịch sử."

Nhưng rồi, nó thấy tiếc. Những cảm xúc mê mải về con chữ đó dường như chỉ là một sự vùng vẫy cuối cùng của một con người đang ngập ngụa trong đầm "bi kịch" của cuộc sống. Càng về sau, cái đam mê tinh khôi ấy cứ đuối dần qua từng chương sách. Han Kang dường như đã nhường chỗ lại cho những nhân vật, những tình huống và những cốt truyện rầm rầm kéo đến để lấp đầy khoảng trống của sự im lặng.

Cuộc sống vẫn tiếp diễn, như cuộc sống đang tiếp diễn.

"Mọi tình yêu đều được chạm khắc từ mất mát... Chúng ta học sống trong tình yêu ấy."

Có lẽ Han Kang muốn nói rằng: Ngay cả khi con chữ trở nên đuối sức trước bi kịch, thì sự hiện diện của con người bên cạnh nhau mới là "nhát chạm" cuối cùng để cứu rỗi tất cả. Một nỗi buồn có ích để ta biết trân trọng hơn những tảng nắng đang rớt qua khe lá lúc này.

Đọc Han Kang là một cuộc hành trình đi sâu vào tâm kén của sự tồn tại.

Để hiểu Bài học tiếng Hy Lạp, phải hiểu người đàn bà đã viết ra nó. Han Kang sinh ra tại Gwangju, một mảnh đất mang theo vết sẹo lịch sử của những cuộc thảm sát. Tuổi thơ bà là những câu chuyện về cái chết, về sự tàn bạo của con người đối với con người.

"Tôi luôn tự hỏi: Con người là gì? Tại sao con người lại có thể tàn ác đến thế, và đồng thời, tại sao họ lại có thể đẹp đẽ đến thế?"

Chính sự ám ảnh về thân phận con người đã nhào nặn nên một văn phong tiết chế đến mức tối giản, nhưng mỗi con chữ lại mang sức nặng của một "nhát chạm" rướm máu. Khác với sự "gồng mình" cấu trúc của Foer, Han Kang viết như thể bà đang trút hơi thở cuối cùng vào trang giấy, nhẹ tênh mà nghẹt thở.

Bài học tiếng Hy Lạp (Greek Lessons) ra đời trong một giai đoạn Han Kang rơi vào sự im lặng tuyệt đối. Bà chia sẻ rằng có những lúc bà không thể đọc, cũng không thể viết, như thể ngôn từ đã phản bội bà. Tác phẩm này chính là sự "rửa tội" cho chính tác giả, một nỗ lực để tìm lại sợi dây liên kết với thế giới thông qua một ngôn ngữ "đã chết"—tiếng Hy Lạp cổ.

Câu chuyện xoay quanh hai con người: một người phụ nữ mất đi tiếng nói sau những biến cố gia đình và một người đàn ông dạy tiếng Hy Lạp đang mất dần thị lực. Họ gặp nhau tại điểm giao thoa của bóng tối và sự câm lặng.

"Bởi vì không thể cất lời, nên trong tâm trí cô, những dòng suy nghĩ cuồn cuộn chảy như những con sóng ngầm. Ngôn từ giờ đây là những chiếc gai sắc nhọn đâm vào cổ họng."

Người đàn ông mù và người phụ nữ câm, họ không thể giao tiếp bằng những phương thức thông thường. Họ kết nối bằng những "bài học" về một ngôn ngữ cổ xưa, nơi mà mỗi từ ngữ đều mang một linh hồn riêng.

"Họ chạm vào nhau bằng những rung cảm của tâm hồn. Tiếng Hy Lạp cổ trở thành nhịp cầu duy nhất để họ nhận ra mình vẫn còn đang sống."

Đọc xong cuốn sách, nó thấy mình chậm lại, từ tốn hơn với những dấu yêu hiện tại. Sự mất mát trong văn của Han Kang không đẩy người ta xuống hố sâu, mà nâng người ta dậy bằng một "nỗi buồn có ích".

"Mọi tình yêu đều được chạm khắc từ mất mát... Chúng ta học sống trong tình yêu ấy."

Cơn đau của họ không biến mất, nhưng họ đã tìm thấy cách để "cười lại được" trong bóng tối. Nó nhìn nhóc Julie, thấy mộng mơ tưởng cạn giờ lại ùa về ngút ngàn. Có lẽ, lời hứa quan trọng nhất không phải là nói ra, mà là sự hiện diện tỉnh thức bên nhau.

"Bài học tiếng Hy Lạp" là minh chứng cho việc: Ngay cả khi thế giới này rơi vào bóng tối và sự lặng câm, chúng ta vẫn có thể tìm thấy nhau, miễn là ta còn đủ lòng trắc ẩn để vươn tay ra cho một "nhát chạm" của sự tin tưởng.

***



It flipped open the pages of Han Kang on a shimmering afternoon, as the day’s final patches of sunlight filtered through the leaves like fragments of time. This was the third book of hers it had read, following the radical renunciation in The Vegetarian and the collective agony of Human Acts.

This time, it found a greater sense of intrigue. Han Kang writes about words and the structure of Ancient Greek with an uncanny level of detail. It saw itself reflected there—a lover of words, always seeking "illumination" in every sound and stroke.

"Words are not just tools; they are living entities carrying memories and even the scars of history."

But then, it felt a sense of regret. That intoxicating obsession with words seemed merely a final struggle of a person drowning in a "swamp of tragedy." As the chapters progressed, that pristine passion gradually weakened. Han Kang appeared to yield the stage to characters, situations, and a roaring plot that rushed in to fill the void of silence.

Life goes on, as life is going on.

"All love is carved from loss... We learn to live within that love."

Perhaps Han Kang wanted to say: Even when words grow weary before tragedy, the presence of humans by each other’s side is the final "touch" that redeems all. A useful sadness to make us cherish more the patches of sunlight falling through the leaves right now.

Reading Han Kang is a journey into the heart of the cocoon of existence. To understand Greek Lessons, one must understand the woman who wrote it. Han Kang was born in Gwangju, a land bearing the historical scars of massacres. Her childhood was filled with stories of death, of human cruelty toward fellow humans.

"I always wonder: What is a human being? Why can humans be so cruel, and yet, at the same time, why can they be so beautiful?"

It is this obsession with the human condition that shaped a prose style so restrained it is minimalist, yet every word carries the weight of a bloodied "touch." Unlike the structural "straining" of Foer, Han Kang writes as if she is exhaling her final breath onto the page—weightless yet suffocating.

Greek Lessons was born during a period when Han Kang fell into absolute silence. She shared that there were times she could neither read nor write, as if language itself had betrayed her. This work is a "purgation" for the author, an effort to find a link back to the world through a "dead" language—Ancient Greek.

The story revolves around two people: a woman who lost her voice following family tragedies and a man teaching Greek who is gradually losing his sight. They meet at the intersection of darkness and silence.

"Because she cannot speak, within her mind, thoughts surge like underwater currents. Words are now sharp thorns piercing her throat."

The blind man and the mute woman cannot communicate through conventional means. They connect through "lessons" of an ancient language, where every word possesses its own soul.

"They touch each other through the vibrations of the soul. Ancient Greek becomes the only bridge for them to realize they are still alive."

Having finished the book, it found itself slowing down, more patient with its current loved ones. The loss in Han Kang’s writing does not push one into a deep abyss; instead, it lifts one up with a "useful sadness."

"All love is carved from loss... We learn to live within that love."

Their pain does not vanish, but they have found a way to "laugh again" in the darkness. It looks at little Julie, seeing dreams once thought dried up now rushing back with overwhelming affection. Perhaps, the most important promise is not the one spoken, but the mindful presence with one another.

Greek Lessons is a testament to the fact that even when the world falls into darkness and silence, we can still find each other, as long as we have enough compassion to reach out for a "touch" of trust.

[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...