Chiến Phan

Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

[Musing of life] Chợ (13) - Những Kẻ bán giấc mơ - The Dream Sellers



Hai mươi Tết.

Thành phố bắt đầu lác đác những bóng người chở giấc mơ đi bán. Những giấc mơ được bứng từ phù sa sông nước miền Tây, nương theo những chuyến xe tải đêm, đổ về rải rác khắp các vỉa hè Sài Gòn. Họ gom góp cả mùa hoa, rồi chở theo hy vọng về một cái Tết ấm hơn để rao bán giữa lòng phố thị.

“Bị đuổi dữ quá em ơi,” người đàn ông nói khẽ phía sau hàng rào trường Mỹ Thuật. Nó đứng đó, phía trong sân, chờ thằng nhóc đá bóng xong. Dưới ánh đèn nhập nhem của buổi tối, cái màu vàng nhạt nhòa của đèn đường đổ xuống, hằn rõ gương mặt đã nhuốm màu sương gió. Chiếc áo sơ mi sọc sờn vai, cũ kỹ như chính cuộc đời lữ thứ của ông. Khắc khổ. Hờn mát.

Nó đã không mua hoa của ông. Một cặp vợ chồng khác đã chen ngang, tự nhận mình là chủ qua thái độ, cắt đứt lời giới thiệu đầy vẻ cầu khẩn đó bằng một cái lắc đầu khước từ nhanh chóng cho “vận chuyển”. Đốp chát. Mấy lời “sao mà vận chuyển”. Họ còn chưa kịp nghe ông báo giá bao nhiêu cặp cúc. Họ chỉ biết mình cần đẩy hoa đi cho nhanh trước khi đô thị đến dẹp bãi. Phố không cho phép lấn chiếm vỉa hè, dù là để bày ra những giấc mơ rực rỡ nhất. Giá hoa: một trăm ngàn một cặp cúc. Rẻ đến nhói lòng.



Hai mươi ba Tết.

“Cao bao nhiêu rồi con trai?” Nó mỉm cười nhìn chú nhóc nhà mình. Thằng bé đứng dậy, lừng lững giữa những nhành mai đang độ chớm nụ. Những chậu mai không che khuất nổi cái chiều cao đang lớn nhanh như thổi của thằng nhóc.

Công viên Lê Văn Tám hôm nay ngợp đầy những giấc mơ. Người ta tìm đến đây để chọn lấy một chút sắc màu, rồi chở sự rạng rỡ về nhà với mắn may đặt vào trong diễn giải.

“Con cao hai mét rồi,” thằng nhóc thủng thỉnh trả lời sau lớp kính cận dày cộm..

Biết. Thằng nhóc đang học ở Bách Khoa. Gần như là duyên nợ, có một sự tình cợ tạo thành duyên nợ với ngô trường này. Trò chuyện. Biết được người anh giờ đã là trưởng khoa, chúng tôi lướt qua nhau trên cuộc sống này. Nó bắt đầu trở về những giấc mơ về nhà. Một cặp cúc còn 300 ngàn; đêm trước là 350 ngàn. 

Nhớ. Người mang giấc mơ về phố, họ bắt đầu tính toán những chi phí đè nặng lên đôi vai: tiền xe tải, tiền thuê khoảnh đất trống lấp đầy cỏ dại để biến thành bãi hoa, tiền công cán, điện nước trong vỏn vẹn chục ngày tá túc đất khách.

Đợi chờ. Những người sẻ chia về cuộc sống, họ có tiền và có cả sự thấu cảm. Họ mua sớm để bù đắp cho những người đến sau có lòng nhưng túi tiền eo hẹp hơn. Trách ai? Bây giờ biết trách ai khi ai cũng đang cầm trên tay một giấc mơ cần rao bán. Ở ngay hiện tại này.

Sài Gòn đón những kẻ bán và người mua bằng những trận mưa lớn bất chợt. Mưa xối xả, như muốn thử thách đức tin của những người làm nghề hoa.

Hai mươi bốn Tết.

Cao Lãnh đón về bằng cái rộn rã riêng của quê nhà. Không khí dịu lại, bớt đi cái gắt gỏng của đô thành. Nhưng người quê giờ cũng chẳng còn như năm nao. Nó dạo qua phố, qua chợ, nghe những lời thăm hỏi quen thuộc. Xót xa.

Con đường vào chợ giờ cũng được kẻ ô, dựng sạp. Bánh mứt, bao lì xì, giấy dán xanh đỏ… Tất cả đều phơi mình ra đó để chờ đợi một giấc mơ. Họ bán cho người khác niềm vui ngày Tết, để đổi lấy cho mình một chút vốn liếng cho năm mới sắp sang. Rồi chính họ, cũng sẽ đi mua lại một giấc mơ ở những giờ khắc cuối cùng của phiên chợ cuối năm.

Nó chở đám trẻ đi, ê a nói về những con sông giờ đang rút cạn, trơ ra cả lòng sông sâu hoắm. Thủy triều. Nó giải thích với con rằng nơi này, ngày xưa ba từng bơi lội, từng ngụp lặn trong dòng nước mát lành. Giờ thì đất lấn sông, bê tông lấn cỏ. Con sông không còn chảy thẳng một dòng. Tắc nghẽn.

Quê nhà đã hóa bê tông . Một ngôi chợ mới lại chuẩn bị mọc lên. Một ngôi chợ lớn đến ba tầng. Thở ngắn, than dài. Người nói về ngôi chợ sắp hoàn thành kia. Một giấc mơ mới lại chuẩn bị gắn liền với nợ nần. Ai không tiền thì được “hỗ trợ vay”. Nhưng nếu không vay thì biết bán ở nơi nào? Một câu hỏi rơi tõm vào im lặng không lời đáp.

Lần hồi. Họ đi tìm chỗ trước. Những con người gắn liền với chợ, lại tiếp tục hòa vào dòng người, họ đứng, họ ngồi, họ rao. Tết là gì đối với họ? Tết là lúc tranh thủ những ngày cuối cùng để chở đi và rao bán giấc mơ cho người khác được may mắn, đủ đầy. Để rồi họ mua lại cho chính mình một hiện tại, hoặc một tương lai ngắn ngủi chỉ vừa bằng ba ngày Tết.

Và rồi họ sẽ lại chuẩn bị cho trận chiến cuối cùng. Hai mươi bảy, hai mươi tám, rồi hai mươi chín… lúc đó mới định đoạt thắng thua. Họ cứ nói về thắng thua, mấy đời rồi vẫn vậy. Thắng hay thua thì họ vẫn cứ miệt mài với chợ, như một kẻ tình si trung thành. Dẫu bị cuộc đời phụ bạc bao lần, họ vẫn cứ giữ vẹn một niềm tin yêu vào mùa xuân tới, vào chợ, như thể lỡ yêu rồi. Biết sao. Thương, những kẻ bán giấc mơ.

***



The 20th of Tết.

The city begins to see scattered shadows of people carrying dreams for sale. These dreams were uprooted from the silt of the Mekong Delta, hitching rides on midnight trucks to pour onto the sidewalks of Saigon. They gathered an entire season of blossoms, hauling hopes for a warmer Tết to hawk amidst the heart of the city.

“They’ve been chasing us away so much, kid,” a man whispered from behind the fence of the University of Fine Arts. I stood there, inside the yard, waiting for my boy to finish his football game. Under the flickering evening lights, the pale yellow of the streetlamps fell, etching clearly a face weathered by sun and wind. A striped shirt, frayed at the shoulders, as worn out as his own nomadic life. Hardship. Resentment.

I did not buy his flowers. Another couple cut in, asserting their ownership through their demeanor, severing his pleading introduction with a swift, dismissive shake of the head regarding "delivery." Snappy. Remarks like “how could you even deliver these?” They didn't even wait to hear his price for a pair of chrysanthemums. They only knew they needed to push their own flowers fast before the urban authorities cleared the lot. The streets do not allow sidewalk encroachment, even to display the most brilliant dreams. The price: one hundred thousand dong for a pair of chrysanthemums. Heartbreakingly cheap.


The 23rd of Tết.

“How tall are you now, son?” I smiled at my little lad. He stood up, towering amidst the apricot branches just beginning to bud. The pots of apricot blossoms couldn't hide a height that was growing like a weed.

Lê Văn Tám Park today is overwhelmed with dreams. People come here to pick a bit of color, carrying radiance back home with "luck" tucked into their interpretations.

“I’m two meters tall now,” the boy replied nonchalantly behind his thick glasses.

I know. The boy is studying at the University of Technology (Bach Khoa). It’s almost like destiny—a series of coincidences that formed a bond with this school. We chatted. Learning that his older brother is now a Dean, we brushed past each other in this life. I began to return to my own dreams of home. A pair of chrysanthemums is now 300 thousand; the night before, it was 350.

Remembering. Those who bring dreams to the city begin to calculate the costs weighing on their shoulders: truck rentals, the fee for a vacant plot cleared of weeds to become a flower stall, labor, electricity, and water—all for a mere ten days of taking refuge in a stranger’s land.

Waiting. Those who share in life; they have money and they have empathy. They buy early to compensate for those who come later with a willing heart but a tighter purse. Who is to blame? Who can be blamed when everyone is holding a dream in their hands that needs to be sold. Right here, in this present.

Saigon greets the sellers and buyers with sudden, heavy rains. A downpour, as if to test the faith of those who live by the flower.


The 24th of Tết.

Cao Lãnh welcomes me back with the unique bustle of home. The air softens, losing the harshness of the metropolis. But the country folk are no longer as they were in years past. I strolled through the streets, through the market, hearing familiar greetings. Aching.

The roads leading to the market are now gridded into stalls. Jams, red envelopes, crimson paper... everything is laid bare, waiting for a dream. They sell the joy of Tết to others to exchange for a bit of capital for the coming year. Then they, too, will go buy back a dream in the final hours of the year-end market.

I drove the children along, listening to them babble about the rivers now receding, exposing a deep, hollow riverbed. The tide. I explained to my children that here, once upon a time, Dad used to swim and dive in the cool, fresh water. Now, the land encroaches on the river, and concrete encroaches on the grass. The river no longer flows in a straight line. Congestion.

Home has turned to concrete. A new market is about to rise. A grand market, three stories high. Short breaths, long sighs. People talk about that nearly finished market. A new dream is about to be tied to debt. Those without money are offered "loan support." But if they don't take the loan, where will they sell? A question that drops into a silence with no answer.

Bit by bit. They go to find a spot first. Those whose lives are tied to the market continue to merge into the crowd—standing, sitting, hawking. What is Tết to them? Tết is the time to seize the final days to haul away and sell dreams of luck and abundance to others. Only then can they buy for themselves a present, or a future as short as the three days of Tết.

And then they will prepare for the final battle. The 27th, the 28th, then the 29th... only then is victory or defeat decided. They talk of winning and losing; it’s been this way for generations. Win or lose, they remain diligently devoted to the market, like a loyal, lovestruck fool. Though betrayed by life a thousand times, they still keep a whole heart of faith and love for the coming spring, for the market, as if they've already fallen too deep in love. What can be done? Pity, the dream sellers.

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2026

Nhật ký của cha - Julie chậm nói [Dad's diary - Slow to speak]


Mọi thứ hiện rõ hơn lúc nào hết. Ông già ôm cô nhóc Julie vào lòng; thì thầm lời “xin lỗi”, ông già chẳng biết điều đó có phải muộn màng không. Ông già chỉ thấy mình không bình thường, chứ chẳng phải là cô nhóc.

Julie im lặng. Cô nhóc nhìn ông già bằng đôi mắt to tròn, trong veo như thể vừa được vớt lên từ một dòng suối. Ông già nhìn lên bầu trời Sài Gòn những ngày cuối năm. Những áng mây không trôi, chúng xếp lớp, san sát và đều đặn như lớp vảy của một con cá kình khổng lồ đang lặng lẽ băng qua đại dương không trung. Một bầu trời vảy cá. Đẹp đến mức nghẹt thở, một sự thay đổi thầm lặng của thời tiết, hay là của chính tâm hồn một gã đàn ông đang tập làm cha.


Takashimaya, tầng 5. Chị đến. Vẫn dáng vẻ ấy, nhưng ánh mắt đã khác. Người đàn bà thép của Toyota ngày nào. Giờ đây, chất thép dường như đã được tôi luyện để trở nên mềm mại hơn, như những nét cọ trên toan. Chớp mắt.

Mười năm. Một thập kỷ trôi qua kể từ ngày chị quyết định bước chân ra đi, rời bỏ những hào quang rực rỡ của quyền lực để đi tìm một bản ngã khác. Mười năm, đủ để một đứa trẻ trưởng thành, và đủ để những gã đàn ông như ông già nhận ra tóc mình đã pha sương nhiều hơn những gì mình tưởng.

Hỏi han. Sẻ chia. Về hội họa, về những bức vẽ bằng cọ kim. Ông già lắng nghe, thấy trong lời chị có cả những tiếng vang của quá khứ và cả sự thanh thản của hiện tại. 

Trải lòng với chị. Về một góc nhìn khác của ông già tập tành làm cha.

Dấu che. Sự lười biếng của chính mình. Ông già nhận ra mình đã phó thác thiên chức của mình cho người khác. Từ giáo viên, những chuyên gia cho đến bác sĩ. Tất cả được gọi tên như những cứu cánh, nhưng thực chất là những tấm bình phong để ông già che đậy sự thiếu hụt thời gian dành cho sự yêu thương. Yêu chưa đủ rộng. 

Ông già thấy mình lười biếng. Chỉ cần dễ dàng gán một lý do là xong, chuyện còn lại để người khác lo. Nhẹ. Ông già có một lý do chính đáng để sống: kiếm tiền. Kiếm tiền tự dưng được hợp thức hóa một cách tối thượng. Lạ. Những sự phân công lao động từ thời ăn lông ở lỗ chẳng quay trở lại để phân rõ đàn ông săn bắn, đàn bà hái lượm. Giờ tất cả đều hái lượm như nhau trên cánh đồng tiền. Công việc kiếm tiền trở thành một biểu tượng của sự bình đẳng. Vô tình. Việc chăm sóc một đứa trẻ  được xem là gánh nặng mà người ta muốn “giải phóng” bằng cách thuê mướn sự quan tâm. Thương chưa đủ sâu. 

Nhớ. Chuyện trò.



Ông già ngồi với chàng trai người Anh. Một gã với thân hình phốp pháp, tâm đắc chia sẻ về những quan sát của bản thân trong hành trình dấn thân cùng với những đứa trẻ đặc biệt. Kết luận có thể chấp nhận là gene. Những phân tích chằng chịt sau một dặm đường đi qua các nước, để rồi gã dừng chân lại tại Việt Nam, thành gia lập thất trong một khuôn viên đủ rộng cho vài đứa trẻ chơi đùa. 

Sài Gòn lúc đó nắng ở ban trưa. Ông già im lặng và chẳng muốn gửi cô nhóc mình vào đó. Nơi ấy quá chuyên nghiệp, quá đúng quy trình, nhưng nó quá giống những nơi đã từng khiến Julie cảm thấy mình là đặc biệt thay vì là một đứa trẻ cần được yêu thương. Rộng sâu.

Sài Gòn cuối năm. Một ngôi trường dành cho trẻ con của dân expat. Nhà trường cố gắng liên hệ và sắp xếp cho một buổi gặp riêng. Nó diễn ra tại một Pola Cafe.

Cô nhóc tự xưng là giáo viên, diện chiếc đầm xinh, đủ rộng để che đi những khuyết điểm của thân hình, nhưng không giấu nổi nụ cười tỏa nắng. Một cô gái trẻ với những món “đạo cụ” chơi với trẻ, những món đồ ông già chất đầy trong ba lô. 

Những bài kiểm tra, những thử thách tâm lý được đưa ra. Julie vượt qua tất cả. Hững hờ. Ông già và cô nhóc Julie như thể đã ngán ngấm với những điều lập đi lập lại, có những cái tên đặt cạnh, ghép từ, gom chữ là “chuyên môn”, “chuyên gia”...đủ cả… Mệt. Cô nhóc chẳng quan tâm đến những tiêu chuẩn của giới chuyên gia. Cô nhóc chỉ thích chuyện trò và chơi với ông già. Nghệch ngoạc những gam màu trên giấy, lắng nghe ông già nói. Ngộ. Ông già chẳng nói về cô nhóc, ông già nói về chính mình nhiều hơn. Nói như một sự tự thú với cô giáo trẻ, với người lạ và như là với tất cả.

Tủm tỉm. Cô nhóc cười.

Cô gái trẻ nhìn ông già và Julie, thấy họ thân đến lạ. Như hai người bạn bước ra cách nhau một khoảng không, một khoảng đời, giờ tình cờ gặp lại. Nhớ. Ai đó từng nói: con gái là người tình kiếp trước của cha? Chẳng biết. Ông già chỉ thấy mình sáng ra một điều gì đó rất cũ nhưng lại rất mới. Ngã giá. Ông già im lặng, cố gắng giấu đi một nụ cười chua chát. Nghĩ. Ông già đúng là chẳng phải người bình thường. Kẻ bình thường sẽ lo lắng cho tương lai của đứa trẻ chậm nói, còn kẻ chẳng bình thường này lại đang ghen tị với sự tự do trong tâm hồn của nó.

Sài Gòn đêm.



Trong khi thưởng thức những ly bia vừa cạn, các cô gái trẻ ở nhà bên cạnh cũng bắt đầu qua giao lưu. Bước ra ngoài, ông già nhìn biển hiệu. Đó là một viện Bi C chuyên dành cho trẻ con đặc biệt. Cô giám đốc trẻ giải thích ý nghĩa của chữ Bi là “tương lai hạnh phúc”. Tại một trời đêm Quận 7, khi chén tạc chén thù, ông già thấy những con người này quá trẻ. Họ dấn thân vào ngành giáo dục đặc biệt này, có phải vì đam mê, hay đơn giản vì nơi đấy dễ dàng cho họ một cái nghề để mưu sinh trong một xã hội đang ngày càng nhiều những đứa trẻ “chậm bước”?

Cuộc sống như thể luôn công bằng theo cách nghiệt ngã nhất, cố gắng tạo ra những công việc mới từ chính nỗi đau và sự lười biếng của những kẻ tập làm cha như ông già.i.

Ông già thấy mình lười. Lười chơi với trẻ. Lười kiên nhẫn. Ông già chưa từng chơi về cô nhóc thiên thần một cách toàn tâm. Bao lần, ông già vứt hết mọi thứ lên bàn: bút màu, đồ chơi, giấy vẽ … Bao bận, như thể bản thân có tiền rồi cứ thế vứt ra để mua lấy sự rảnh rang. Ông già đã quên bản thân từng nghèo khó ra sao. 

Một lẽ. Ông già cho đám trẻ chơi hết bao nhiêu loại bút cùng một lúc thay vì tuần tự từng màu một, chỉ để bản thân có thể thoải mái lướt trên màn hình điện thoại, để thỏa mãn với những ngôn từ bóng bẩy trong lúc đọc, lúc viết những thứ mà đôi khi chính mình cũng chẳng hiểu hết.

Hỏi. Đọc với viết thứ gì khi mà lời nói với đứa con trước mặt còn chưa vẹn tròn? Lượm từ, gom chữ, gộp thành câu. 

Tưởng. Một nếp nhà. Cô nhóc nhỏ, ông già và một bà vú.

Tượng. Căn hẻm nhỏ, một hoạt cảnh diễn ra. Cô công chúa nhỏ đi tìm đồ ăn, gặp phải “bà phù thủy” ngăn chặn. Cô công chúa ngồi khóc ấm ức. Và rồi xuất hiện một “Vua cha”, một chàng hoàng tử từ kiếp trước để mang công chúa khám phá những vùng đất mới. Họ tìm thấy một ốc đảo của những món ngọt.

Đó là món mì tươi, kéo dài như vô tận, trong khói nghi ngút bốc lên được nấu vừa chín tới. Là món bánh ngọt đẹp mắt, cô nhóc Julie chẳng mặn mà với phần cốt bánh, cô nhóc chỉ thích nếm lớp kem tươi mịn màng, thơm tho và ngọt dịu được tạo ra từ trứng. Cô công chúa thích nhất những viên kẹo ngọt bọc đường và sô-cô-la. Ông già ngồi gom lại những món con ăn, viết những dòng ghi chú. 

Đó là hành trình của ông già dẫn cô nhóc đi chơi ở một buổi ban trưa. Khi cô nhóc của ông già bắt đầu ê a rồi lại tắt lịm. Ơ hờ. Ông già từng xem đó như một điều lặp lại tương tự một ông anh, một sự hiển nhiên cho đến khi sự im lặng của con trở thành một tiếng thét vang dội trong tâm thức ông.

“Chúng ta dơ dái hơn chúng ta nghĩ.”

Đó là suy nghĩ của ông già khi đứng trước sự trong sáng của Julie. Cô nhóc như một thiên thần hạ phạm để soi rọi những góc khuất tăm tối nhất. Ông già lặp lại lời nhận định đó với cô gái trẻ ngồi trong bàn cafe.

Nhớ. Ông già phát hiện ra điều đó trong những khoảnh khắc phải dọn vệ sinh cho con. Ông già thấy mình đã từng cảm thấy xấu hổ. Xấu hổ và lúng túng trước những ánh mắt dò xét của người xung quanh. Ông già gán cho mọi người cái suy nghĩ rằng họ sẽ thấy gớm ghiếc trước việc một đứa trẻ vệ sinh không đúng chỗ. Tthoát ra. Ông già thấy, có hét, có la và có cả bạo lực chuẩn bị trào dâng. Đấy chẳng phải là vì mình? 

Lạ. Trẻ nào chẳng phải học từ đầu? Julie hoàn toàn chẳng suy nghĩ gì đến việc đó. Mắc thì đi. Dơ thì rửa. Sạch lại ngay. Chỉ có đứa trẻ “sống lâu” như ông già mới mang nặng cảm giác dơ dái và sĩ diện. Thật ra, ngay khi có suy nghĩ đó, ngay khi đặt sự xấu hổ của mình lên trên nhu cầu sinh học tự nhiên của con, thì ông già đã dơ lắm rồi. Sự dơ dái của một tâm hồn đã bị vẩn đục bởi xung quanh.

Không sao đâu! Bình tĩnh mà sống!

Ông già bắt đầu đi tìm lại lời ru. Ông mở những đoạn video trên mạng để nghe cùng cô nhóc. Lời ru của Nam Bộ. “Ầu ơ ví dầu…”. Những câu ca dao, tục ngữ bắt đầu được ngân lên dưới ánh sáng của đôi mắt xoe tròn.

Ông già ôm cô nhóc vào lòng, bắt đầu ngân nga những lời hát mà chính mình cũng chưa thuộc hết lời. Những câu ru chỉ còn vỏn vẹn một vài từ vụn vặt, như thể chúng đã rơi rớt hết trên dặm đường lớn khôn đầy tham vọng. Ngôn từ viết ra cho thiên hạ đọc thì nhiều, nhưng lời hát cho con thì lại quên đi tất cả.

Lạ thay, Julie bắt đầu phản ứng. Cô nhóc bắt đầu trò chuyện với ông già bằng những âm điệu riêng biệt, bắt đầu hát theo những bài ca chưa thuộc hết lời ấy. Thì thầm. Ông già xin lỗi cô con gái. Xin lỗi vì đã đẩy con vào những trung tâm, những phòng mạch, những nơi vốn dĩ chẳng bình thường để chữa trị cho một đứa trẻ mà sự "bất thường" duy nhất là nó quá tinh khôi.

Tất cả xuất phát từ suy nghĩ của một gã cha chẳng bình thường. Một gã lười biếng và dơ dái, từng tưởng rằng tiền bạc và chuyên gia là biểu hiện của tình yêu.

Bầu trời vảy cá trên cao vẫn im lìm. Sài Gòn vẫn hối hả ngoài kia với những áp lực của sự thay đổi, của việc phải nhanh hơn, giỏi hơn. Nhưng ở đây, trong vòng tay của ông già, Julie vẫn đang chậm rãi tận hưởng viên kẹo sô-cô-la của mình.

Ông già nhận ra: Julie không cần được chữa trị hay thanh tẩy, như tiếng kinh, tiếng Pháp, tiếng chú mở rào rạo ở đêm về. Chính ông già mới là người cần được Julie thanh tẩy.

“Ầu ơ… cầu ván đóng đinh… cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi…” hay mấy khúc hát thiếu nhi “bà ơi bà cháu yêu bà lắm..”

Tiếng hát của hai cha con hòa vào nhau. Lavie chậm nói rồi đến Julie. Chậm để chờ yêu thương. Chậm để lắng nghe một ông già, một gã sống lâu, tự hỏi: lòng rộng bao nhiêu, yêu sâu thế nào? 

Ông già và thiên thần Julie dắt nhau đi trong ánh nắng chiều cuối năm. Bàng bạc. Phố chuẩn bị lên đèn.

***

Everything is clearer than ever. The Old Man holds little Julie in his arms; whispers a "sorry," not knowing if it’s too late. The Old Man realizes he is the one who isn't normal, not her.

Julie is silent. She looks at him with large, round eyes, as clear as if they had just been dipped in a mountain stream. The Old Man looks up at the Saigon sky at year's end. Clouds don't drift; they layer, close and orderly like the scales of a giant whale quietly traversing the ocean of space. A mackerel sky. Breathlessly beautiful—a subtle shift in the weather, or perhaps in the soul of a man learning to be a father.

Takashimaya, 5th floor.

She arrives. The same silhouette, yet the eyes are different. The "Iron Lady" of Toyota of yesteryear. Now, that steel seems to have been tempered to become softer, like brushstrokes on canvas.

Blink.

Ten years. A decade has passed since the day she decided to walk away, leaving behind the brilliant halo of power to seek a different self. Ten years—long enough for a child to grow up, and enough for men like the Old Man to realize their hair is more frost-streaked than they imagined.

Ask. Share.

About art, about paintings crafted with needle brushes. The Old Man listens, finding in her words both the echoes of the past and the tranquility of the present.

Confide.

Opening up to her. About another perspective of an old man practicing fatherhood. About the struggles of learning to speak the language of children, and the realization that being a father is a different kind of "power"—one that requires not steel, but a soul wide enough to wait and deep enough to love.

Reflect.

Ten years ago, they met for business. Ten years later, they meet for the soul. It turns out, the peak of any journey isn't standing on the highest mountain, but finding a friend to sit with, amidst the bustling 5th floor, and looking back at a clear horizon of thought.

Masking. His own laziness. The Old Man realizes he has entrusted his divine mission to others. From teachers and specialists to doctors. All summoned as saviors, but in reality, they were screens to hide his lack of time for love. Love, not yet wide enough.

The Old Man finds himself lazy. Just easy enough to pin it on an excuse, and leave the rest to others. Lightly. He has a valid reason to live: making money. Making money suddenly becomes supremely justified. Strange. The division of labor from the hunter-gatherer era doesn't return to clearly separate men hunting and women gathering. Now everyone gathers the same on the fields of currency. Earning money becomes a symbol of equality. Unintentionally. Caring for a child is seen as a burden one wants to be "liberated" from by hiring concern. Love, not yet deep enough.

Remembrance. Conversations.

The Old Man sits with an English lad. A portly man, passionately sharing his observations from a journey immersed with special children. An acceptable conclusion: genes. Tangled analyses after a mile of travel through various countries, only to stop in Vietnam, starting a family in a compound large enough for a few kids to play.

Saigon was midday sun then. The Old Man was silent, unwilling to send his little girl there. It was too professional, too much by the book, but it felt too much like the places that once made Julie feel "special" instead of just a child needing love. Deep and wide.

Saigon, year-end. A school for expats. The school tries to coordinate and arrange a private meeting. It takes place at a Pola Cafe.

The young woman claiming to be a teacher wears a pretty dress, wide enough to hide the flaws of her body, but unable to hide her sunlit smile. A young girl with her "props" for playing with children, items the Old Man had stuffed into his backpack.

Tests and psychological challenges are presented. Julie passes them all. Indifferently. The Old Man and Julie seem fed up with the repetitions—the labels placed side by side, gathering words like "expertise," "expert"... all of it. Tired. She doesn't care about the standards of the specialist world. She only wants to talk and play with the Old Man. Scribbling colors on paper, listening to him speak. Oddly. The Old Man doesn't talk about her; he talks about himself more. Speaking like a confession to the young teacher, to the stranger, and as if to everyone.

Smirk. The little girl laughs.

The young teacher looks at the Old Man and Julie, seeing an intimacy that is strangely close. Like two friends stepping out from a gap in time, a gap in life, meeting again. Remembrance. Someone once said: a daughter is a father's lover from a previous life? Who knows. The Old Man only sees himself enlightened by something very old yet very new. Negotiation. He is silent, trying to hide a bitter smile. Thinking. The Old Man truly isn't normal. A normal person would worry about the future of a non-verbal child, while this abnormal one is jealous of the freedom in her soul.

Saigon night.

While enjoying recently emptied beers, the young girls from next door begin to socialize. Walking out, the Old Man looks at the sign. It’s a "Bi C Institute" specifically for special children. The young director explains that "Bi" stands for "Happy Future." In a District 7 night, as glasses clink, the Old Man sees these people as too young. Do they enter this special education field out of passion, or simply because it offers an easy career in a society with more and more "slow-walking" children?

Life seems always fair in the cruelest way, trying to create new jobs from the pain and laziness of those learning to be fathers like him.

The Old Man feels lazy. Lazy to play with the child. Lazy to be patient. He has never fully played with his heavenly girl with all his heart. How many times has he thrown everything on the table: crayons, toys, drawing paper… How many times, as if having money meant he could just throw it out to buy his own leisure. He has forgotten how poor he once was.

One point. He lets the kids play with many pens at once instead of one by one, just so he can comfortably scroll through his phone, satisfying himself with polished words while reading and writing things he sometimes doesn't even fully understand.

Asking. What is there to read or write when the words to the child in front of him are not yet complete? Gathering words, collecting letters, merging them into sentences.

Imaging. A household. A little girl, the Old Man, and a nanny.

Statue. A small alley, a scene unfolds. The little princess goes to find food, blocked by a "witch." She sits crying in frustration. And then appears a "King Father," a prince from a past life to take the princess to explore new lands. They find an oasis of sweets.

Fresh noodles, stretching as if into infinity, amidst rising steam, cooked just right. A beautiful cake; Julie isn't interested in the cake itself, she only likes to taste the smooth, fragrant, and sweet fresh cream made from eggs. The princess loves the sugar-coated candies and chocolates best. The Old Man sits collecting the items his child eats, writing down notes.

It’s the journey of the Old Man taking the girl out in the middle of a noon day. When his little girl begins to babble and then falls silent again. Indifferently. He once saw it as a repetition of an older brother, a given, until the child's silence became a echoing scream in his consciousness.

"We are filthier than we think."

That was the Old Man's thought standing before Julie's purity. She is like a heavenly angel descended to illuminate the darkest corners. He repeats this observation to the young girl sitting at the cafe table.

Remembrance. He discovered this during moments of cleaning up after his child. He realized he had once felt ashamed. Ashamed and awkward under the searching eyes of those around him. He projected onto everyone the thought that they would find the misplaced sanitation of his children disgusting. Breaking out. He sees, there is screaming, shouting, and even violence ready to surge. Isn't that because of himself?

Strange. Which child doesn't have to learn from the beginning? Julie thinks nothing of it. If she needs to go, she goes. If it's dirty, she washes it. Clean again instantly. Only the "long-lived" child like the Old Man carries the heavy feeling of filth and pride. In truth, the moment he had that thought, the moment he placed his own shame above his child's natural biological needs, he was already very filthy. A soul tainted by its surroundings.

It's okay! Live calmly!

The Old Man begins to seek out lullabies again. He opens internet videos to listen with her. Lullabies of the Southern region. "Au o vi dau..." Lullabies and proverbs begin to resonate under the light of her wide-open eyes.

He holds her in his arms, beginning to hum songs he hasn't even fully learned the lyrics to. The lullabies are down to just a few scattered words, as if they had all fallen off along the ambitious road of growing up. Plenty of words written for the world to read, but the songs for his child are all forgotten.

Strangely, Julie begins to react. She starts talking to him with distinct tones, begins to sing along to the songs she hasn't fully learned. Whispering. The Old Man apologizes to his daughter. Apologizes for pushing her into centers, clinics, places that were fundamentally not normal, to treat a child whose only "abnormality" was being too pure.

It all stems from the thoughts of an abnormal father. A lazy and filthy man, who once thought money and experts were expressions of love.

The mackerel sky above remains still. Saigon is still hurried out there with the pressures of change, of having to be faster, better. But here, in the Old Man's arms, Julie is still slowly enjoying her chocolate candy.

The Old Man realizes: Julie doesn't need to be treated or purified like the scriptures, the French, or the mantras played loudly into the night. It is the Old Man who needs Julie’s purification.

"Au o... the wooden bridge is nailed... the bamboo bridge is precarious and difficult to cross..." or children's songs like "Grandma, I love you so much..."

The songs of father and daughter merge. Lavie was slow to speak, and then Julie. Slow to wait for love. Slow to listen to an old man, a long-lived lad, asking himself: how wide is the heart, how deep is the love?

The Old Man and the angel Julie lead each other through the late afternoon sun. Silvery. The city is preparing to light up.

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

[Story] Ai gọi hồn tôi (2) - WHO IS CALLING MY SOUL? (PART 2)




Bà bàng hoàng ngẩng mặt lên. Vực thẳm phía sau lưng bà như vừa nới rộng ra, sẵn sàng nuốt chửng chút hy vọng cuối cùng còn sót lại.

Trước mắt bà, một người đàn bà khác cũng mang trên mình những vệt màu của thời gian, chiếc áo chàm bạc phếch hòa lẫn vào màu xám của sương rừng. Trên tay người đó là một bó hoa dại, những cánh hoa tím nhạt còn vương hơi ẩm của núi cao. Hai người đàn bà. Hai mái đầu pha sương. Một nấm mồ đá lạnh lẽo.

Đối diện.

Bà lảo đảo đứng dậy, phủi vội những cọng cỏ khô bám trên vạt áo dài sẫm màu. Cảm giác nghẹn đắng nơi cổ họng khiến bà không thốt nên lời. Chồng tôi? Hai tiếng ấy phát ra từ miệng người phụ nữ miền sơn cước như một nhát dao rạch ngang bầu trời hoàng hôn đang dần lịm tắt.

“Chồng... ông ấy là chồng chị sao?” Bà hỏi, giọng lạc đi giữa tiếng gió gào thét qua khe núi.

Người đàn bà kia không trả lời ngay. Chị bước tới, đặt bó hoa lên mộ, bàn tay chai sần vuốt ve phiến đá một cách thành kính và dịu dàng. Rồi chị quay lại nhìn bà, đôi mắt thâm trầm như lòng vực: “Ông ấy về đây từ mùa khô năm ấy. Một người lính lạc ngũ, vết thương trên ngực đã mưng mủ, nhưng trong tay vẫn nắm chặt một chiếc kẹp tóc bằng nhựa màu hồng. Ông ấy bảo, ông ấy phải sống để trở về Sài Gòn, để gặp lại một sớm mai.”

Bà khuỵu xuống. Chiếc kẹp tóc nhựa hồng. Kỷ vật của một thời nữ sinh Minh Khai, cái ngày ông lém lỉnh lấy trộm trong cặp táp của bà rồi bảo là “giữ làm tin”.

Đau.

“Vậy sao... sao ông ấy không về? Sao ông lại ở đây... với chị?” Bà nghẹn ngào, trái tim như bị ai bóp nghẹt. Mối mâu thuẫn bốn mươi năm, sự chờ đợi đằng đẵng của bà giờ đây bỗng hóa thành một trò đùa của số phận.

Người đàn bà miền núi khẽ thở dài, tiếng thở dài tan vào hư không. “Ông ấy không thể về. Vết thương tàn phá một phần phổi, rừng thiêng nước độc lại giữ chân người. Khi ông ấy bắt đầu đi lại được, thì con đường về xuôi đã mịt mờ khói lửa. Tôi đã cứu ông ấy từ cõi chết, rồi rừng già đã buộc chúng tôi vào nhau. Ông ấy sống với tôi mười mấy năm, chăm lo cho nương rẫy, dạy chữ cho đám trẻ bản, nhưng đêm nào cũng ra ngồi hướng về phương Nam, hút thuốc và nhìn mây bay.”



Lẻ loi.

Bà thấy lòng mình trào dâng một nỗi căm phẫn xót xa. Bà đã giữ trọn tiết hạnh, một mình nuôi con trong cảnh thiếu thốn bần hàn, chịu đựng những ánh mắt soi mói của người đời để đợi một ngày sớm mai. Còn ông, ông đã có một sớm mai khác ở chốn rừng sâu này sao? Sự đồng cảm vừa nãy bỗng hóa thành một ngọn lửa ghen tuông muộn màng, bùng lên rồi tàn lụi trong sự bất lực.

“Ông ấy có nhắc... về tôi không?” Bà hỏi, mắt nhìn đăm đăm vào nấm mộ.

“Ông ấy không nhắc tên. Ông ấy chỉ gọi là ‘Hồn tôi’. Ông ấy bảo, có một linh hồn đang gọi ông ấy mỗi đêm, khiến ông ấy không thể ngủ yên. Mười năm trước, trước khi nhắm mắt, ông ấy dặn tôi: ‘Nếu có ai đó tìm đến đây và khóc, hãy đưa cho họ cái này’.”

Người đàn bà chàm đưa tay vào túi áo, rút ra một mảnh giấy đã mục nát, được bọc cẩn thận trong một lớp nylon cũ. Bà run rẩy đón lấy.

“Gửi Hồn tôi... Anh đã lỗi hẹn mười bốn ngàn sáu trăm lẻ năm ngày sớm mai. Rừng già che mắt anh, nhưng tim anh chưa một ngày rời khỏi ghế đá công viên năm ấy. Đừng trách người đàn bà đã cứu anh, bà ấy là ân nhân, là đôi chân giúp anh đứng vững khi anh chỉ còn là một phế nhân. Anh gửi lại đây chút hơi tàn, đợi em ở phía bên kia vực thẳm.”

Vụn vỡ.

Bà gục đầu vào bia mộ đá. Hóa ra, ông chưa bao giờ phản bội. Rừng già không chỉ che mắt người lính, mà còn giam cầm một linh hồn si tình trong cái lồng của sự ơn nghĩa và bệnh tật. Người đàn bà miền núi kia, chị ta cũng là một nạn nhân của cuộc chiến, là người đã nhặt nhạnh những mảnh vỡ của một đời lính để ghép thành một mái ấm tạm bợ.

Sự mâu thuẫn giữa hai người đàn bà bỗng chốc tan biến. Thay vào đó là một niềm thấu cảm lạ lùng. Họ đều yêu một người đàn ông, đều dành cả cuộc đời để chăm sóc một phần của ông ấy. Một người giữ linh hồn, một người giữ thể xác.

“Chị... chị có con với ông ấy không?” Bà hỏi, lòng run sợ trước câu trả lời.

Người đàn bà kia lắc đầu, đôi mắt nhìn ra phía xa xăm: “Rừng sâu không cho chúng tôi những mầm xanh. Tôi chỉ có ông ấy. Giờ thì chị đến, tôi trả lại ông ấy cho chị.”

Tiếng chim rừng lại vang lên, lần này không còn não nề mà thanh thoát như một lời tiễn đưa. Bà nhìn người đàn bà miền núi, chợt thấy thương cho cái phận lẻ loi của người ở lại chốn hoang vu này. Bà có con, có cháu, có hình bóng của người trai Petrus Ký tái hiện trong đứa con trai. Còn chị, chị chỉ có nấm mồ đá này và bó hoa tím dại.

Bà lấy trong túi ra một tấm ảnh màu đã cũ. Tấm ảnh chụp đứa con trai trong ngày cưới. “Đây là con trai của ông ấy. Nó giống ông như tạc.”

Người đàn bà miền núi cầm lấy tấm ảnh, đôi bàn tay run rẩy, nước mắt lần đầu tiên rơi xuống, thấm vào màu phim nhạt. Chị khóc. Khóc cho người đàn ông mà chị gọi là chồng, nhưng chưa một ngày chị sở hữu được trái tim ông. Chị khóc cho chính mình, mười mấy năm chăm sóc một cái bóng luôn nhìn về phương Nam.

Tuyệt vọng.

Hoàng hôn đã sập xuống hẳn. Núi rừng chìm trong một màu tím thẫm liêu trai. Đàn chim đã về tổ, chỉ còn tiếng gió rít qua những khe đá như tiếng gọi hồn ai đó vẫn còn đang lẩn khuất giữa đại ngàn.

“Chị này,” bà nắm lấy đôi bàn tay chai sần của người đàn bà kia. “Ngày mai, tôi muốn đưa ông ấy về Sài Gòn. Về với bến sông, về với hàng cây xưa. Chị có đi cùng tôi không?”

Người đàn bà miền núi nhìn nấm mộ, rồi nhìn bà, khẽ lắc đầu: “Ông ấy thuộc về Sài Gòn, nhưng tôi thuộc về rừng. Chị đưa ông ấy đi đi. Để ông ấy được thực hiện cái sớm mai mà ông ấy hằng mong đợi. Tôi ở lại đây, trông coi những đóa hoa này cho đến khi rừng gọi tên tôi.”

Đêm đó, giữa núi rừng hoang vu, hai người đàn bà ngồi bên bếp lửa hồng, kể cho nhau nghe về người đàn ông của họ. Một người kể về chàng thư sinh lãng mạn dưới bóng phượng hồng, một người kể về người thợ săn lặng lẽ dưới ánh trăng ngàn.

Mạch nước ngầm trong mắt bà cuối cùng cũng cạn khô. Chỉ còn lại sự thanh thản.

Sáng hôm sau, khi những tia nắng sớm mai đầu tiên xuyên qua làn sương mù, bà đứng bên nấm mộ đã được cải táng. Trong chiếc hộp nhỏ, tro cốt của ông đã nằm gọn gàng bên cạnh chiếc kẹp tóc nhựa hồng và mảnh giấy mục nát.

Bà bước đi, nhịp chân khẽ rung trên lá khô. Vực thẳm phía sau lưng giờ không còn đáng sợ nữa. Nó chỉ là một phần của hành trình, là cái ngưỡng mà ai cũng phải bước qua để gặp lại người mình thương.

“Anh thấy không? Sớm mai đã đến rồi.”

Bà đi xuống núi, bóng bà đổ dài trên con đường mòn. Phía sau, người đàn bà miền chàm vẫn đứng lặng lẽ bên bó hoa tím dại. Sài Gòn đang đợi ông. Và bà, bà đã gọi được hồn ông về, không phải bằng những lời trách móc, mà bằng một tình yêu đã được gạn đục khơi trong qua bốn mươi năm dâu bể.

Trùng khơi.

Con trai bà đang đợi ở dưới chân núi. Nó đứng đó, cao lớn, mặc chiếc áo sơ mi trắng, đôi mắt lém lỉnh nhìn lên. Bà mỉm cười. Ông đã về thật rồi. Không phải trong hình hài tro cốt, mà trong chính sự tiếp nối của sự sống.

Hết một vòng đời. Ai gọi hồn tôi? Tiếng gọi ấy giờ đã tan vào mây khói, nhường chỗ cho tiếng cười hân hoan của một mùa xuân mới đang bừng tỉnh giữa đại ngàn.

https://chienphan.blogspot.com/2012/09/ai-goi-hon-toi.html

***

She looked up in shock. The abyss behind her seemed to widen, ready to swallow the last remaining shard of hope.

Before her stood another woman, also marked by the streaks of time, wearing a faded indigo shirt that blended into the grey mountain mist. In her hands was a bouquet of wild flowers, the pale purple petals still glistening with the dampness of the high peaks. Two women. Two silver-haired heads. One cold stone grave.

Facing each other.

She rose unsteadily, brushing away the dry grass clinging to her dark silk tunic. The bitter lump in her throat left her speechless. "My husband?" Those two words from the mountain woman’s mouth were like a blade slashing across the fading twilight sky.

"Husband... he was your husband?" she asked, her voice lost amidst the wind howling through the mountain pass.

The other woman did not answer immediately. She stepped forward, placed the flowers on the grave, and caressed the stone with a calloused hand, both reverent and tender. Then she turned to look at her, her eyes as deep as the canyon floor: "He came here during the dry season of that year. A stray soldier, a festering wound on his chest, but in his hand, he still clutched a pink plastic hair clip. He said he had to live to return to Saigon, to see a new 'early morning' once more."

She collapsed. The pink plastic hair clip. A memento from her days as a Minh Khai schoolgirl, the day he mischievously snatched it from her satchel and said he’d "keep it as a token."

Pain.

"Then why... why didn't he return? Why did he stay here... with you?" she sobbed, her heart feeling as if it were being crushed. Forty years of conflict, of her endless waiting, now suddenly turned into a cruel joke of fate.

The mountain woman sighed softly, a sound that vanished into the void. "He couldn't return. The wound ravaged a part of his lungs; the sacred forest and poisonous water kept him captive. By the time he could walk again, the road back south was blurred by the smoke of war. I saved him from death, and the ancient forest bound us together. He lived with me for over a decade, tending the fields, teaching the village children to read, but every night he sat facing South, smoking and watching the clouds drift."

Solitary.

She felt a surge of painful resentment. She had remained faithful, raising their child alone in poverty, enduring the judging eyes of the world just to wait for that "early morning." And he—he had found another morning here in the deep forest? The empathy from moments ago turned into a late flame of jealousy, flaring up only to wither in helplessness.

"Did he ever mention... me?" she asked, staring fixedly at the grave.

"He never mentioned a name. He only called out to 'My Soul.' He said there was a soul calling to him every night, keeping him from ever resting in peace. Ten years ago, before he closed his eyes, he told me: 'If someone comes here and cries, give them this'."

The woman in indigo reached into her pocket and pulled out a decayed scrap of paper, carefully wrapped in an old layer of nylon. She took it with trembling hands.

"To My Soul... I have missed our tryst by fourteen thousand six hundred and five mornings. The ancient forest blinded my eyes, but my heart never once left that park bench of years ago. Do not blame the woman who saved me; she is my benefactor, the legs that helped me stand when I was but a broken man. I leave here my last breath, waiting for you on the other side of the abyss."

Shattered.

She slumped against the stone headstone. It turned out he had never betrayed her. The forest had not only blinded the soldier but also imprisoned a lovelorn soul in a cage of gratitude and illness. That mountain woman was also a victim of the war, someone who had gathered the fragments of a soldier’s life to piece together a makeshift home.

The conflict between thehai two women vanished in an instant. In its place was an uncanny empathy. They both loved the same man; they had both spent their lives caring for a part of him. One kept his soul; one kept his body.

"Did you... have children with him?" she asked, her heart fearing the answer.

The other woman shook her head, her eyes looking into the distance: "The deep forest gave us no green sprouts. I only had him. Now that you are here, I return him to you."

The sound of forest birds echoed again, no longer mournful but graceful, like a final send-off. She looked at the mountain woman, suddenly feeling pity for the solitary fate of the one left behind in this wilderness. She had children, grandchildren, and the silhouette of the Petrus Ky lad reflected in her son. But this woman had only this stone grave and a bunch of wild purple flowers.

She took an old color photograph from her bag. A photo of her son on his wedding day. "This is his son. He is his father’s spitting image."

The mountain woman took the photo, her hands trembling. For the first time, tears fell, soaking into the faded film. She wept. She wept for the man she called husband, yet whose heart she never possessed for a single day. She wept for herself, for over ten years of caring for a shadow that always looked South.

Despair.

Twilight had fully fallen. The mountains and forests were steeped in a haunting deep purple. The birds had returned to their nests; only the wind whistling through the rock crevices remained, like a soul’s call still lingering amidst the great wilderness.

"Listen," she said, taking the calloused hands of the other woman. "Tomorrow, I want to bring him back to Saigon. Back to the wharf, back to the old trees. Will you come with me?"

The mountain woman looked at the grave, then at her, and shook her head slowly: "He belongs to Saigon, but I belong to the forest. Take him away. Let him fulfill the morning he so longed for. I will stay here, tending to these flowers until the forest calls my name."

That night, in the desolate wilderness, the two women sat by a glowing fire, telling each other about their man. One spoke of the romantic scholar under the shade of red phoenix flowers; one spoke of the silent hunter under the thousand-year moon.

The underground spring in her eyes finally ran dry. Only serenity remained.

The next morning, as the first rays of dawn pierced through the mist, she stood by the reburied grave. In the small box, his ashes lay neatly beside the pink plastic hair clip and the decayed scrap of paper.

She walked away, her footsteps rustling on the dry leaves. The abyss behind her was no longer terrifying. It was just a part of the journey, the threshold everyone must cross to meet the one they love again.

"Do you see? The morning has finally come."

She descended the mountain, her shadow stretching long on the trail. Behind her, the woman in indigo still stood quietly beside the wild purple flowers. Saigon was waiting for him. And she—she had called his soul back, not with reproaches, but with a love purified through forty years of upheaval.

The Endless Ocean.

Her son was waiting at the foot of the mountain. He stood there, tall, wearing a white shirt, his eyes looking up mischievously. She smiled. He had truly returned. Not in the form of ashes, but in the very continuation of life.

A life cycle completed. Who is calling my soul? That call has now vanished into the mist, making way for the joyful laughter of a new spring awakening amidst the great wilderness.


[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...