Chiến Phan

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2026

[Musing of life] Chợ (14) - Mùi chợ - The scent of market

Mùi Của Đất

"Chợ họp rồi tan, kiếp người rồi cạn, Chỉ có nụ cười mộc mạc lưu lại giữa mưu sinh."

Mỗi vùng đất, mỗi mảnh đời đều được định danh bằng một đặc điểm, như thói quen của loài người, mùi cũng trở thành một đặc điểm. Có người chọn nhớ về một thành phố bằng hương hoa sữa dịu ngọt, có kẻ thương một miền quê bởi mùi rơm rạ ngày mùa ngái nồng. Nhưng với nó, thứ mùi hương khắc sâu vào tâm khảm, nuôi dưỡng tâm hồn và đeo bám nó qua muôn vạt dặm đường bôn ba lại chính là cái mùi mà người đời vừa thương, vừa ngại, vừa tìm cách tránh xa: "Mùi chợ".

Đó là thứ hỗn hợp ngột ngạt của phù sa sông nước, của vị cá ươn, tanh nồng mắm muối, của mồ hôi áo vải ngấm nắng mưa, và của cả những nhọc nhằn ở kiếp sống nối tiếp nhau từ đời này sang đời khác. "mùi chợ" vẫn cứ ở đó, trầm lặng và nhẫn nại

Mùi nắng, gió

Nó yêu cái "mùi chợ" từ khi còn là một đứa trẻ chân đất chạy lon xon sau vạt áo bà – "người tình tóc bạc", người đã sinh ra nó, để rồi đến khi màu mây trời nhuộm trắng mái đầu, bà lại tỉ tê kể cho nó nghe về những thăng trầm của cuộc đời mình.

Trong trí nhớ đậm đà sắc màu của nó, chợ quê miền Tây sông nước là một thế giới chuyển động không ngơi nghỉ trên mặt nước đục ngầu phù sa. 

Mùi sớm mai. Khi chạng vạng sáng, lúc bình minh còn chưa kịp vắt ngang qua những rặng dừa nước, chợ nổi đã rộn rã tiếng khua chèo, tiếng máy đuôi tôm nổ tạch tạch xé tan sương đêm. Mùi chợ miền Tây là thứ mùi vô cùng đặc trưng: mùi trái cây chín vú thơm lừng từ những ghe bầu Tây Nam Bộ, mùi cá tôm tươi xanh vừa cất lưới còn tanh nồng hơi nước sông Tiền, quyện chặt với mùi khói bếp củi tỏa ra ngọt ngào, vương vãi thứ thanh âm ngọt lừ của những lời rao. Đó còn là mùi thơm nức nở, ngậy béo của những xề bánh kẹp cuốn, bánh kẹp tàn ong đổ khuôn hình con sò vàng rộm—những chiếc bánh quê dập dềnh trên sóng nước, xếp tắp lự trên chiếc mẹt nhỏ, vừa ra lò đã tỏa thứ mùi bột cốt dừa béo ngậy khiến tụi nhỏ dán mắt không rời. Hòa lẫn trong sương sớm là mùi của những thớ thịt vừa đưa ra từ lò còn nóng hổi, bốc hơi nhè nhẹ trên tấm thớt gỗ Me già. Ơn trời ai tạo một mùi nhớ thương. 

Mùi trưa tàn. Khôn lớn, bước chân lữ thứ đưa nó lên ngụ cư giữa chốn Sài Gòn nhộn nháo. Ở đây, nó lại đi tìm những góc chợ cũ kỹ nằm lọt thỏm giữa những tòa nhà bê tông chọc trời.

Chợ Sài Gòn – từ một Chợ Lớn rộn rã đậm nét Hoa-Việt, một chợ đầu mối Bình Điền sầm uất thức cùng đêm muộn, chợ Bàn Cờ ngoằn ngoèo hẻm hóc, chợ Tân Định mang dáng dấp thời gian, cho đến những ngôi chợ sớm tự phát nhô ra rồi thu lại nơi các góc hẻm đặc trưng của phố thị. Nơi ấy, người ta chỉ cần trải một tấm bạt nilon nhỏ, bày vài ba bó rau muống vừa hái, một rổ ớt xơ xác hay đôi ba con cá quẫy đuôi trong thau nhôm là đã thành một "ngôi chợ chòm hỏm" nhóm họp chóng vánh.

Chợ phố mang một thứ "mùi chợ" hoàn toàn khác biệt. Đó là mùi nhựa đường hầm hập dưới cái nắng gắt gỏng của buổi giữa trưa, mùi rau củ dập nát quyện với mùi bùn đen ngai ngái bốc lên sau cơn mưa rào bất chợt cuối chiều, mùi gia vị xộc thẳng vào mũi từ những sạp hàng xông khói, và thứ mùi mồ hôi chua nồng ướt đẫm lưng áo của những bác xe ôm ngóng chờ từng chuyến hàng giao cấp tập, của những chị quẩy gánh hàng rong miệt mài qua muôn ngõ hẻm. Chợ họp chớp nhoáng rồi nhanh chóng trả lại mặt đường cho dòng xe cộ, trôi qua như một cái chớp mắt của buổi trưa tàn.

Ơn trời ai bảo nửa ngày là xong, khi vết dấu mưu sinh và cái mùi thương nhớ ấy vẫn cứ vấn vương, hằn sâu vào tâm khảm cả một kiếp người.

Mùi người.

Mùi mẹ tôi. Là thứ mùi ngai ngái, ngấm sâu của chiếc áo bà ba vẫn còn chưa kịp khô ráo hoàn toàn sau trận mưa rào đêm qua. Mẹ khoác vội chiếc áo ấy lên bờ vai gầy, liêu xiêu vội vã ra khỏi nhà cho kịp chuyến xe sớm để lấy hàng, để khi cái nắng đầu ngày vừa bừng lên gắt gỏng, sạp hàng đã sẵn sàng cho một ngày mưu sinh mới.

Mùi anh tôi. Thứ mùi nồng nặc mồ hôi rịn cay xè trên chiếc áo đã sờn vai, lổ chỗ vài ba đường rách, ám chặt lấy chiếc xe ba gác cũ kỹ—kỷ vật của những tháng rộng năm dài tích lũy, chắt chiu từng chiếc bánh xe đơn sơ cho đến khi dựng nên cả một chiếc thùng xe dài ngoẵng đằng sau. Mùi của những lần lên xuống hàng dồn dập, gánh vác cả khối hàng nặng trịch và cả gánh nặng gia đình trên đôi vai chai sần.

Mùi chị tôi. Thứ mùi đầm ướt sương đêm của những sớm trời vừa chực gà gáy, khi tiếng chó sủa vang xa rộn rã nơi nếp nhà ai đó trong xóm vắng. Chị lội bì bõm qua những đoạn đường đập nước, quẩy gánh hàng trôi qua bóng tối để kịp đến góc chợ khi trời vừa chong sang, nhóm nhóm lên những hy vọng nho nhỏ.

Mùi em tôi. Thứ mùi nắng cháy khét lẹt trên da đầu, mùi của cái thời "cứt trâu" đóng vẩy đầy đầu tụi nhỏ nghèo quê. Một thứ mùi rặt "nghèo", đậm đặc, đượm màu lam lũ, gắn liền với những ngày thơ dại lam bạt chân đất chạy lăn lóc giữa bãi đất trống, thương đến thắt lòng.

Mùi cháu tôi. Thứ mùi của một thế hệ tiếp nối, quay về tiếp quản gánh nghiệp của gia đình. Sau những năm tháng được chắt chiu, nuôi dưỡng ăn học hành, lăn lộn nơi chốn văn phòng máy lạnh ngột ngạt mà thấy lòng chẳng thuộc về những bon chen này, cháu tôi lại trở về với góc chợ sô xồ, lam lũ. Nơi ấy, từng chiếc sạp cũ, từng khoảng sân đầm ướt sương đêm vẫn dang rộng vòng tay chào đón như chào đón một đứa con đi xa quay trở về nhà, chẳng một chút trách móc hay nề hà. Thứ mùi thanh xuân ngỡ như đã xa rời chốn chợ nay lại hòa quyện với mùi cá, mùi rau, mùi mồ hôi mặn mòi của đời trước. Thương đến lạ, viết sao cho hết nghĩa một từ thương... 

Mọi thứ rồi sẽ trôi đi, thong thả và lặng lẽ. Những đứa trẻ rồi sẽ lớn lên, có đứa chọn chối bỏ để mải miết đuổi theo những giấc mơ phù hoa nơi thị thành, có đứa lại dịu dàng chọn quay về ôm lấy nếp nhà cũ.

Thời gian mải mượt đuổi bắt, hoa tàn rồi hoa lại nở; lá rụng vắt qua thu rồi lại đến một mùa lá mới thay xanh rờn. Mùa chim làm tổ lại chuẩn bị kéo nhau về dưới mái hiên xưa, như thể sau những trận mưa dông tan hoang lòng, con người ta lại ấm áp được sưởi sưởi ấm bởi vệt nắng xuân sang.

Với nó, hạnh phúc giản đơn là lúc tìm về nơi một góc chợ quen, để hít hà cho thỏa lòng thứ mùi vị đã nuôi lớn đời mình: mùi sớm mai tinh tươm, mùi nắng mới hầm hập, mùi mưa dông ngái nồng, mùi mồ hôi mặn mòi của người… tựu trung lại là cái “mùi chợ” trần trụi mà bao la tình người.

Thương. Viết sao cho đủ hết từ thương đây.

https://chienphan.blogspot.com/2026/02/musing-of-life-cho-13-nhung-ke-ban-giac.html

***


The Scent of the Earth

"Markets gather and scatter, human lives drain away,

Only simple smiles linger amidst the daily struggle for bread."

Every land, every life is defined by a distinct trait; much like human habits, scent becomes a defining mark. Some choose to remember a city by the sweet, delicate fragrance of milkwood pine blossoms; others hold a rural countryside dear for the pungent aroma of rice straw in harvest season. But for him, the scent etched deepest into his soul, nourishing his spirit and clinging to him across thousands of miles of wandering, is the very scent that people love, hesitate around, and try to stay away from: "The Market Scent."

It is a suffocating blend of river silt, the stale tang of fish, the sharp pungent saltiness of fermented sauces, the sweat of cloth shirts soaked in rain and sun, and the hardships of generations succeeding one another in an unbroken stream. "The market scent" remains right there—silent, patient, and enduring.

The Scent of Sun and Wind

He loved "the market scent" since he was a barefoot boy running behind the apron of his grandmother—his "silver-haired lover," the woman who bore his family line. And when the skies turned her hair white, she would softly whisper to him the stories of her life’s ups and downs.

In his richly colorful memories, the river market of the Mekong Delta was a world in constant motion upon murky, silt-laden waters.

The Scent of Early Dawn. At twilight, before the first light of dawn could stretch across the rows of water nipa palms, the floating market was already alive with the clatter of oars and the tach-tach hum of long-tail boat engines tearing through the night mist. The scent of a Mekong Delta market is unmistakable: the fragrant aroma of tree-ripened fruit from the wooden barges of the Southwest; the fresh, raw tang of newly netted fish and shrimp still heavy with the river mist of the Tiền River; all tightly woven with the sweet, comforting smoke of woodfires, scattering the honeyed sounds of street vendors' calls. It was also the rich, irresistible aroma of rolled waffle cakes and beehive waffle cookies baked in golden, clam-shell-shaped molds—country treats bobbing on the water, neatly stacked on small bamboo trays, wafting a thick coconut milk scent the moment they left the iron that kept the children’s eyes glued. Mingling with the morning mist was the warmth of fresh meat brought straight from the butcher, steaming gently on an aged tamarind wood chopping block. Thank Heaven for creating a scent so steeped in longing.

The Scent of Fading Midday. Growing up, his wandering feet brought him to reside amidst the chaotic bustle of Saigon. Here, he sought out old, forgotten market corners nestled beneath towering concrete skyscrapers.

Saigon markets—from the vibrant, Chinese-Vietnamese rhythm of Chợ Lớn, to the bustling Bình Điền wholesale market staying awake through the late night, the labyrinthine alleys of Bàn Cờ, the time-worn silhouette of Tân Định, down to the spontaneous pop-up morning markets that bloomed and dissolved in the city’s signature alleys. In those alleys, people needed only to lay down a small plastic tarp, display a few bunches of freshly picked morning glory, a battered basket of chilis, or a couple of fish flopping in an aluminum basin, and a "crouching market" was born in an instant.

The city market carried a completely different "market scent." It was the heat of asphalt baking under the harsh afternoon sun, the smell of crushed vegetables mingling with the pungent black mud stirred up after a sudden late-afternoon downpour, the sharp prickle of spices wafting from smoked stall displays, and the sour, heavy sweat soaking through the shirts of motorbike taxi drivers waiting for urgent deliveries, or vendor women carrying heavy shoulder poles through endless alleys. The market gathered in a flash and quickly surrendered the pavement back to the stream of traffic, passing like the blink of an eye in a fading midday.

Thank Heaven—whoever said half a day was enough, when the footprints of livelihood and that haunting scent still linger, etched deep into the soul of an entire lifetime?

The Scent of People

The Scent of My Mother. It is the damp, deep-set smell of her traditional bà ba shirt, not yet dry after last night’s downpour. Mother hurriedly threw that shirt over her thin shoulders, rushing out the door in the dim light to catch the early bus for goods, so that when the first harsh rays of morning sun broke through, her stall stood ready for another day of making a living.

The Scent of My Brother. A heavy, stinging scent of sweat clinging to a shirt worn thin at the shoulders and torn in a few places, permanently embedded in his old three-wheeled cart—the keepsake of long years of saving, hoarding every simple tire until he built a long trailer bed behind it. The scent of endless loading and unloading, carrying heavy crates of cargo and the weight of the family on his calloused shoulders.

The Scent of My Sister. The damp, night-dew scent of early mornings just as the roosters began to crow, when dog barks echoed softly from a neighbor’s house in the quiet hamlet. She waded through flooded, muddy lanes, balancing her shoulder pole through the dark to reach the market corner just as dawn broke, fanning the flames of tiny hopes.

The Scent of My Younger Sibling. The smell of sun-scorched scalp, the crusted "cradle cap" scales on the heads of poor rural kids. A scent purely of "poverty"—dense, steeped in hardship, tied to barefoot childhood days tumbling across empty dirt lots, heartbreakingly dear.

The Scent of My Nephew. The scent of a continuation, returning to take up the family line. After years of hard-won education and suffocating in air-conditioned offices where his heart felt no belonging to the rat race, my nephew returned to the rough, unvarnished market corner. There, every weathered stall and dew-soaked yard opened its arms to welcome him back, like welcoming a child coming home from afar, without a single word of blame or hesitation. That scent of youth, once thought to have left the market behind, now blended once more with the smell of fish, vegetables, and the salty sweat of generations before him. Strangely dear—how could words ever encompass the full depth of love?

Everything will eventually drift by, unhurried and quiet. Children will grow up; some will choose to turn away, chasing glamorous city dreams, while others will gently choose to return and embrace the old home.

Time plays its endless game of chase; flowers wither and flowers bloom again; fallen leaves pass through autumn to make way for a fresh season of lush green foliage. The season for birds to nest draws near under the old eaves once more, as if after heart-rending rainstorms, people are warmed again by the golden rays of spring.

For him, simple happiness is the moment he finds his way back to a familiar market corner, inhaling to his heart's content the flavors that raised his life: the fresh morning air, the heavy midday sun, the pungent rainstorm, the salty sweat of human labor… gathered all together into the raw, vast humanity of "the market scent."

So deeply loved. How could words ever be enough to write it all?

[Truyện] Mở xì vs Hổ con [Story] Mở xì vs Little tiger

 








HỔ CON

BÓNG NẮNG

Cũng đã đến lúc nghẹn ngào nói lời chào đến mối tình đầu...

Một cuốn sách ngọt ngào mà đôi ta từng viết...

(Bản nhạc tình hoài niệm – Lofi Version)

Chiếc còi phà vang lên một tiếng rúc dài, trầm đục và ngân vang giữa khoảng không dầm dề sông nước. Nước dưới chân phà đục ngầu sắc phù sa, cuộn xoáy thành những vệt sóng sánh ánh bạc dưới cái nắng hè gay gắt của vùng sông nước miền Tây.

Cậu trai mười bốn tuổi đứng dựa lưng vào thành lan can phà. Thân hình cậu cao sượt, một mét bảy mươi lăm—một vóc dáng phổng phao đến bất ngờ của tuổi mới lớn, đối nghịch hoàn toàn với bờ vai còn chưa đủ dày và khuôn mặt có phần thanh tú, đôi chỗ còn phảng phất vệt mụn dậy thì vụng dại.

Tên cậu là Mở xì—cái tên nghe tựa một lời cảm ơn ngọt ngào bằng tiếng Pháp mà ba cậu, một gã mê sự lãng mạn cũ kỹ, đã ưu ái đặt cho thằng con trai đầu, được người bạn cùng lớp đọc trại ra tiếng Việt.

Mở xì mân mê chiếc điện thoại cũ kỹ của ba. Trên màn hình rạn một đường nứt mảnh như sợi tóc, dòng tin nhắn cuối cùng gửi đi cách đó vài giờ vẫn nằm trơ trọi giữa khoảng không mờ đục của tín hiệu sóng chập chờn:

[Mở xì]: "Tui phải về quê rồi. Chắc lâu lắm mới liên lạc lại á.!"

Không có chấm xanh sáng lên. Không có ba dấu chấm tròn nhấp nháy quen thuộc báo hiệu đối phương đang gõ phím. Đáp lại cậu chỉ là tiếng còi phà xé lòng và xấp dừa nước bồng bềnh trôi dạt ven bờ.

Lần đầu tiên trong đời, cậu trai mười bốn tuổi hiểu thế nào là cảm giác "thinh thích" một ai đó. Đó không phải là thứ cảm giác muốn chiếm hữu hay những áp lực toan tính phức tạp của người lớn. Nó mỏng manh, trong trẻo như một vệt mây trắng đi ngang qua bầu trời mùa hạ—ngăn ngắt xanh, chao đảo và làm rung rinh những nhịp đập nơi lồng ngực trái.

Cả kỳ nghỉ hè năm đó ở quê nội vùng cù lao Chợ Mới, Mở xì sống trong một nhịp điệu chậm rãi, ngập tràn ánh nắng và tiếng ve ngân ran trên những vòm cây xòe tán.

Nhưng tâm trí gã thì lại trôi bồng bềnh về một tài khoản zalo có cái tên ngắn gọn đến buồn cười: hcb—viết tắt của ba chữ "Hổ con báo".

Đó là cô bạn cùng lớp lớp 8 ở Sài Gòn, một cô gái nhỏ nhắn có đôi mắt tròn xoe, cái răng khểnh ngổ ngáo và tính tình tinh nghịch như một con thú nhỏ sẵn sàng "báo đời" bất cứ lúc nào.

Vì chưa được ba mẹ sắm cho điện thoại riêng, Mở xì phải xài chung chiếc điện thoại thông minh của ba. Đêm nào cũng vậy, sau khi ba đã chìm vào giấc ngủ với tiếng ngáp dài mệt mỏi của gã đàn ông trung niên, Mở xì lại rón rén giấu chiếc điện thoại dưới lớp chăn mỏng, thao thức lướt màn hình để chờ đợi một dòng tin nhắn từ "hcb".

Những đêm hè ở quê ngợp mùi cỏ dại và tiếng muỗi vo ve ngoài cửa sổ. Ánh sáng xanh từ màn hình điện thoại chiếu lên khuôn mặt góc cạnh của Mở xì, làm bừng lên một nụ cười ngô nghê mỗi khi "hcb" kể chuyện gã làm rớt chiếc bút chì hay chuyện gã gác chân lên ghế bị cô giáo phạt.

Những đoạn hội thoại vụng dại, chẳng đâu vào đâu, thiếu hẳn những mỹ từ hoa mỹ nhưng lại chứa đựng tất cả sự chân thành của tuổi mười bốn—độ tuổi mà niềm vui chỉ đơn giản là thấy đối phương vừa thả một biểu tượng cảm xúc "Haha" hay những GIF tạo nên tích cách riêng vào bức ảnh chụp vệt mây hình con chó nhỏ.

Để giết thời gian và trút bớt cơn nhớ thương quay quắt đang nén chặt trong lòng, Mở xì lôi xấp giấy vẽ kiêm bộ màu nước mang theo từ Sài Gòn ra hiên nhà.

Cậu yêu vẽ. Đôi bàn tay thô ráp của một gã trai vừa chạm ngưỡng dậy thì khi cầm chiếc cọ lông mềm lại trở nên uyển chuyển lạ kỳ.

Mở xì ngồi dưới bóng mát của cây vú sữa cổ thụ, gió sông thổi lồng lộng làm phập phồng gấu áo thun rộng thùng thình. Cậu pha màu. Sự pha trộn giữa sắc xanh thẫm của vạt dừa nước, màu vàng rực của bóng nắng chiều qua sông và sắc hồng nhạt mỏng manh của những vệt mây hoàng hôn.

Nhưng cậu không vẽ cảnh sông nước đơn thuần.

Dưới vệt cọ lướt nhẹ trên bề mặt giấy nhám, nét vẽ của Mở xì dần hiện lên hình bóng một cô gái nhỏ đang đội chiếc mũ rơm rộng vành, tay cầm một cành hoa điên điển vàng rực, nét mặt tinh nghịch gợn nụ cười có chiếc răng khểnh quen thuộc. Mở xì cẩn thận lồng ghép cảm xúc của mình vào từng vệt màu gạt nhẹ—mỗi vệt màu ngấm vào thớ giấy như từng giọt nhớ thương thấm đượm vào tâm trí gã.

Cậu vẽ như thể nếu không vẽ ra, cái cảm giác ngọt ngào và êm dịu ấy sẽ tràn ra ngoài lồng ngực, biến mất như làn sương ban sáng gác trên ngọn cỏ.

Thế rồi, hai tháng hè ngắn ngủi trôi qua nhanh như một chớp mắt.

Ngày trở lại Sài Gòn, Mở xì ngồi ở ghế sau chiếc xe khách liên tỉnh, đầu tựa vào cửa kính nhìn những hàng cây thốt nốt chầm chậm lùi lại phía sau. Sài Gòn đón gã bằng những cơn mưa rào bất chợt, bằng khói bụi, tiếng còi xe inh ỏi và cái không khí hối hả, vội vã của đô thị.

Quang cảnh phố thị đông đúc, rực rỡ đèn màu đối nghịch hoàn toàn với khoảng không thanh bình, yên ả của miền Tây. Nhưng lòng Mở xì lại xôn xao một niềm vui khó tả: cậu sắp được gặp lại "hcb".

CHIẾC BÁNH 

Nhiều khi muốn hỏi lòng mình...

Thích một người là cảm giác thế nào?

Trở lại Sài Gòn, gặp lại ba là dịp để Mở xì có thê dùng chiếc điện thoại của ba.

Dòng tin nhắn từ hcb gửi cách đó một tháng hiện lên đầu tiên, nằm trơ trọi giữa mớ thông báo:

[hcb]: "Tui tìm khắp miền Tây không thấy... Mở xì!!!” 

Cái ngôn từ ngổ ngáo, cộc lốc của cô bạn mười bốn tuổi khiến Mở xì bật cười thành tiếng. Cái nụ cười làm rạng rỡ cả khuôn mặt ngơ ngác của cậu trai vừa trở về từ miền sông nước.

Nhưng sau cái bật cười ấy là một cơn sóng ngầm êm đềm dâng lên trong lòng. Cô ấy đã tìm cậu. Cô ấy đã nhớ cậu.

Sài Gòn bước vào mùa khai trường. Đám học sinh lớp 9 chìm trong những áp lực đầu đời của kỳ thi chuyển cấp sắp tới—những buổi học thêm dày đặc, những lời nhắc nhở liên tục của thầy cô về điểm số và tương lai. Những áp lực thay đổi của thời đại, của việc phải lớn lên, phải trưởng thành bắt đầu đè nhẹ lên vai những đứa trẻ mười bốn tuổi.

Mở xì có hai niềm đam mê lớn ngoài vẽ: nấu nướng và chơi piano.

Vào một chiều thứ Bảy ngợp nắng vàng như mật đổ qua khung cửa sổ căn phòng nhạc nhỏ, Mở xì quyết định trổ tài làm bánh cookie để tặng "hcb".

Cậu đứng trong gian bếp nhỏ của gia đình, thân hình cao vọt 1m75 đeo chiếc tạp dề màu xám trông vừa buồn cười vừa ngộ nghĩnh. Mở xì cẩn thận rây từng muỗng bột mì mịn màng, đập từng quả trứng gà, rồi tỉ mẩn nhào trộn cùng bơ lạt và vani.

Cậu bỏ vào đó sự kiên nhẫn và nâng niu của tuổi mười bốn. Khi lò nướng phát ra tiếng ting nhẹ nhàng, mùi bơ thơm lừng, béo ngậy tỏa ra khắp không gian, quyện trong hơi ấm của căn bếp—đó là lúc Mở xì nở cụ cười khi nghĩ về người nhận chiếc bánh này.

Cô bạn mười bốn tuổi khoác trên mình chiếc áo sơ mi đồng phục trắng thả ngoài quần jeans, tóc cột đuôi ngựa cao ngạo nghễ, đôi mắt tròn xoe sáng quắc và nụ cười rạng rỡ khoe chiếc răng khểnh đặc trưng.

Rồi cô bé sẽ mở đôi môi chúm chím, trong đôi mắt cười: 

– "Bánh đâu? Tui tới đòi nợ chuyến đi miền Tây mất tích hai tháng của ông nè!" – "hcb" hất cằm, giọng nói trong trẻo và lém bỉnh.

Mở xì sẽ không đáp, cậu chỉ mỉm cười dịu dàng, chìa ra đĩa bánh cookie nướng vàng ươm còn nghi ngút khói.

Cô gái nhỏ sẽ tròn mắt ngạc nhiên, rồi bật cười rạng rỡ. Cô cắn thử một miếng, vị ngọt thanh của bơ, vị giòn rụm của vỏ bánh và độ xốp mềm bên trong tan chảy nơi đầu lưỡi, tuôn ra những ngôn từ trong giọng nhẹ tựa mây trôi.

– "Ngon xỉu luôn á Merci! Ông làm thiệt hả? Không ngờ luôn, thiệt chứ!"

Nghĩ đến đó, Mở xì đỏ mặt, gãi đầu gãi tai vụng về. Cậu cho phép mình thư giản nơi chiếc đàn piano cơ màu đen xì nằm im lìm dưới ánh nắng chiều chiếu xiên qua rèm cửa.

Cậu ngồi xuống trước cây đàn. Bờ vai rộng của gã trai mười bốn tuổi hơi nhô lên, đôi bàn tay thuôn dài, mảnh khảnh đặt nhẹ lên những phím đàn đen trắng.

Ngay khoảnh khắc ấy, không gian xung quanh dường như dừng lại. Mở xì bắt đầu lướt những ngón tay trên phím đàn, cất lên những giai điệu đầu tiên của bản nhạc kinh điển "Merry-Go-Round of Life"—bản nhạc chủ đề trong bộ phim hoạt hình nổi tiếng Howl's Moving Castle.

Tiếng đàn vang lên, khi thì dồn dập, nhộn nhịp như những bước chân nhảy múa của tòa lâu đài di động trên đồi cỏ xanh, khi thì tha thiết, êm đềm như dòng sông trôi qua miền ký ức.

Mở xì chơi nhạc bằng toàn bộ tâm trí. Chẳng quá khó để người nghe nhận ra những nốt nhạc đã khác hẳn những lúc ban đầu tìm đến.

Những tiếng nốt cao ngân vang như tiếng cười của "hcb", những nốt trầm sâu lắng như cái siết tay ngập ngừng mà cậu chưa bao giờ dám thực hiện.

Bản nhạc lướt đi như một vệt sáng trong trẻo, cuốn trôi mọi khói bụi, mọi áp lực thi cử ngoài kia, chỉ còn lại âm nhạc, hương vị bánh ngọt và hai đứa trẻ mười bốn tuổi giữa căn phòng ngợp nắng.

Những tưởng, "hcb" ngồi tựa gối trên chiếc ghế sofa, đôi mắt tròn xoe ngước nhìn Mở xì.

Lần đầu tiên, cô gái nhỏ tinh nghịch, hay chọc phá ấy giữ im lặng hoàn toàn. Cô nhìn bờ lưng cao gầy của Mở xì, nhìn đôi bàn tay lướt trên phím đàn đầy mê hoặc, và cảm nhận một nhịp đập lạ kỳ vang lên trong lồng ngực mình.

Khi nốt nhạc cuối cùng ngân lên rồi nhẹ nhàng tan vào không gian im lìm của buổi chiều tà, Mở xì quay đầu lại, đôi mắt sáng lấp lánh nhìn "hcb":

– "Ông thấy sao? Tui tập bài này cả mùa hè á..."

"hcb" không trả lời ngay. Cô bước lại gần cây đàn, đưa bàn tay nhỏ nhắn của mình ra, khẽ chạm nhẹ vào mu bàn tay thô ráp của Mở xì. Một cái chạm nhẹ như cánh hoa rơi, nhưng đủ để làm cả hai đứa trẻ cùng đỏ bừng mặt.

– "Cảm ơn ông nha, Mở xì... Bài nhạc đẹp lắm."

Cả hai cùng bật cười—những tiếng cười trong trẻo, ngô nghê vang lên giữa không gian tràn ngập mùi bánh nướng thơm lừng và ánh hoàng hôn đỏ rực gác trên những ô cửa kính Sài Gòn.

https://chienphan.blogspot.com/2012/08/hay-yeu-nhau-i.html

***


SUN SHADOWS

The time has come to softly bid farewell to my first love...

A sweet book that the two of us once wrote together...

(A nostalgic love song – Lofi Version)

The ferry horn sounded with a long, deep, resonant blare across the vast expanse of murky water. Underneath the hull, the river swirled thick with silt, churning into silver-capped ripples under the scorching summer sun of the Mekong Delta.

The fourteen-year-old boy stood leaning his back against the ferry railing. He was strikingly tall, standing five feet nine inches—a surprisingly rapid growth spurt of early adolescence that contrasted sharply with his narrow shoulders and fine-featured face, which still bore subtle traces of clumsy teenage acne.

His name was Mở xì—a Vietnamese phonetic play on Merci, the French word for "thank you," affectionately given to him as a nickname by his classmates after his father, a man hopelessly enamored with old-school romance, named his eldest son.

Mở xì fiddled with his father's worn-out smartphone. Across the screen ran a hairline crack thin as a strand of hair, where the last message sent hours ago remained isolated in the blurry void of spotty signal:

[Mở xì]: "I've gotta go back to my hometown now. Might be out of touch for a long while!"

No green light lit up. No three blinking dots appeared to signal that the other party was typing. All that answered him was the heartbreaking blast of the ferry horn and cluster after cluster of water coconuts drifting lazily along the shore.

For the first time in his life, the fourteen-year-old boy understood what it meant to "kind of like" someone. It wasn't a sense of possessiveness or the calculating pressure of adult romance. It was fragile, clear, and innocent as a streak of white cloud drifting across a summer sky—intensely blue, swaying, and setting off quiet flutters inside his chest.

Throughout that summer break at his paternal grandparents' home on Chợ Mới river island, Mở xì lived at a slow pace, surrounded by golden sunlight and the hum of cicadas echoing beneath spreading tree canopies.

Yet his mind drifted continuously toward a Zalo account with a hilariously brief username: hcb—short for "Hổ con báo" (Little Naughty Tiger).

She was his 8th-grade classmate in Saigon—a petite girl with big round eyes, an unruly snaggletooth, and a mischievous streak, always ready to cause playful chaos at any moment.

Since he hadn't been given his own phone yet, Mở xì had to share his father's smartphone. Every night, once his father had fallen asleep to the long, weary sighs of a middle-aged man, Mở xì would quietly slip the phone beneath his thin blanket, staying up to scroll through the screen, eagerly waiting for a message from "hcb".

Summer nights in the countryside were rich with the scent of wild grass and the buzz of mosquitoes outside the window. The soft blue glow from the screen illuminated Mở xì's angular face, bringing out a gentle, goofy smile whenever "hcb" talked about dropping her pencil or getting reprimanded by the teacher for resting her feet on her chair.

Their clumsy, random conversations lacked grand rhetoric, yet held all the sincerity of fourteen-year-olds—an age when joy came simply from seeing the other person react with a "Haha" emoji or playful GIFs that reflected their unique personality on a photo of a dog-shaped cloud.

To pass the time and pour out the aching fond thoughts bottled up inside, Mở xì brought out the pad of watercolor paper and paints he had carried from Saigon to the front porch.

He loved drawing. The rough hands of a teenage boy reaching puberty suddenly became surprisingly graceful whenever he held a soft brush.

Mở xì sat in the shade of an ancient star apple tree, the river breeze blowing gently and puffing up his oversized T-shirt. He mixed his paints: blending the deep green of water coconuts, the brilliant gold of afternoon sunlight shimmering over the river, and the delicate pink hue of twilight clouds.

Yet he wasn't merely painting a river landscape.

Beneath the soft strokes sweeping across the textured paper, Mở xì's painting gradually revealed the silhouette of a petite girl wearing a wide-brimmed straw hat, holding a branch of bright yellow Sesbania blossoms, her mischievous face bearing that familiar snaggletooth smile. Mở xì carefully poured his feelings into every light brushstroke—each dab of paint soaking into the paper like quiet thoughts saturating his mind.

He painted as though if he didn't capture it on paper, that sweet, gentle feeling would overflow from his chest and vanish like morning dew resting on the grass.

And just like that, the brief two months of summer flew by in the blink of an eye.

On the day he returned to Saigon, Mở xì sat in the back seat of an intercity bus, leaning his head against the window, watching rows of palmyra palms slowly retreat behind him. Saigon welcomed him back with sudden rainstorms, urban dust, blaring horns, and the rushed, restless tempo of the city.

The bustling cityscape, glowing with vibrant lights, stood in stark contrast to the peaceful, quiet expanse of the Mekong Delta. Yet Mở xì's heart fluttered with an indescribable joy: he was about to see "hcb" again.

THE COOKIES

Sometimes I want to ask my heart...

What does it feel like to like someone?

Back in Saigon, being reunited with his father meant Mở xì could once again use his father's phone.

The message sent from hcb a month ago appeared right at the top, sitting isolated amid a clutter of notifications:

[hcb]: "I looked all over the West and couldn't find you... Mở xì!!!"

The blunt, sassy phrasing of his classmate made Mở xì burst out laughing—a smile that brightened the bewildered face of the boy who had just returned from the riverlands.

Yet beneath that laugh was a quiet, soothing wave rising in his chest. She had looked for him. She had missed him.

Saigon entered the back-to-school season. The 9th-graders sank under the early pressures of upcoming high school entrance exams—dense schedules of extra classes, constant reminders from teachers about grades and the future. The weight of changing times, of growing up and maturing, began to settle quietly onto the shoulders of fourteen-year-old kids.

Mở xì had two great passions besides drawing: cooking and playing the piano.

On a Saturday afternoon drenched in honey-golden sunlight streaming through the window of the cozy music room, Mở xì decided to try his hand at baking cookies to give to "hcb".

He stood in his family's small kitchen, his tall 5'9" frame wrapped in a grey apron that looked both endearing and funny. Mở xì carefully sieved smooth spoonfuls of flour, cracked eggs one by one, and meticulously kneaded them together with unsalted butter and vanilla.

He mixed in all the patience and tender care of his fourteen years. When the oven let out a gentle ding, the rich, fragrant aroma of baked butter filled the air, blending with the warmth of the kitchen—that was the moment Mở xì smiled, imagining the person who would receive these cookies.

The fourteen-year-old girl would be wearing her untucked white school shirt over jeans, her high ponytail swinging proudly, her big round eyes sparkling brightly alongside her signature snaggletooth smile.

And then she would part her lips, her eyes crinkling with amusement:

– "Where are the cookies? I'm here to collect my debt for your two-month vanishing act in the West!" "hcb" would tilt her chin up, her voice clear and playful.

Mở xì wouldn't argue back; he would simply smile warmly and offer a plate of golden-baked, piping-hot cookies.

The girl's eyes would widen in surprise before breaking into a bright laugh. She would take a bite, tasting the delicate sweetness of butter, the crispy crust, and the soft, melt-in-your-mouth center, letting out words as soft as drifting clouds:

– "Omg, it's insanely delicious, Merci! Did you really make this yourself? For real, I'm genuinely shocked!"

At the thought, Mở xì blushed, awkwardly scratching his head. He allowed himself to relax beside the glossy black upright piano resting quietly under the slanting afternoon sun through the curtains.

He sat down at the instrument. The broad shoulders of the fourteen-year-old boy rose slightly as his long, slender fingers rested gently on the black and white keys.

In that very moment, the world around him seemed to stand still. Mở xì began gliding his fingers across the keys, drawing out the opening notes of the classic piece "Merry-Go-Round of Life"—the main theme from the famous animated film Howl's Moving Castle.

The music resonated, at times lively and bustling like the dancing steps of the moving castle across green hills, at other times gentle and soulful like a river flowing through memory.

Mở xì played with all his heart. It wasn't hard for anyone listening to tell that his melody was completely different from when he first started learning the piece.

The high notes rang out bright like "hcb"'s laughter, while the deep, resonant low notes felt like the hesitant hand-holding he had never dared to initiate.

The music flowed like a beam of pure light, sweeping away all the city dust and exam stress outside, leaving only music, the scent of fresh baked cookies, and a fourteen-year-old boy playing in a sunlit room.

He could almost imagine "hcb" resting her chin on her knees on the sofa, her big round eyes looking up at him.

For the first time, that playful, mischievous girl remained completely quiet. She watched Mở xì's tall, lean back, watched his hands glide enchantingly over the keys, feeling a strange, new flutter inside her chest.

As the final note echoed and softly faded into the quiet afternoon air, Mở xì turned his head, his eyes shining brightly as he looked at "hcb":

– "What do you think? I practiced this all summer..."

"hcb" wouldn't answer right away. She would step closer to the piano, reaching out her small hand to lightly touch the back of Mở xì's rough hand—a touch as delicate as a falling petal, yet enough to turn both of their faces bright red.

– "Thank you, Mở xì... The music was truly beautiful."

And both of them would laugh—innocent, clear laughter ringing out amidst the sweet aroma of fresh cookies and the vibrant red sunset lingering over the glass windows of Saigon.

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

[Sách] Jazz ở Hà Nội - Tan - Tangbau


 "Jazz không nằm ở những nốt nhạc nung nấu trong khuông nhạc xơ cứng. Nó là nhát cắt ứng tác trần trụi của bản thể—nơi tiếng kèn saxophone rền rĩ nghẹn ngào xé rách sự phẳng lặng của đêm đen, nối liền vệt ức ức viễn xứ với tiếng thở dại thô mộc của cội nguồn."

Công bằng mà viết, nó biết đến Jazz, đầu tiên phải kể đến saxophone—thứ nhạc cụ có thanh âm ma mị, da thiết làm nó mê đắm đến hoại tử cả xúc cảm. Và để rõ ràng hơn nữa, người đã khơi gợi, rạch tung cánh cửa đưa nó bước vào địa hạt âm nhạc đầy mê dụ ấy chính là Trần Mạnh Tuấn.

Đó là cả một vệt ký ức lảng bảng ở ngưỡng trời chao đảo giữa những năm tháng cuối cấp phổ thông và bước chân đầu tiên vào ngưỡng cửa đại học. Ngày ấy, cô bạn học chuyên Lê Hồng Phong tròn tuổi mộng đã dắt nó tìm về "thánh địa" của những khoảng lặng: nơi quầy đĩa bày bán ngăn nắp trong nhà sách Xuân Thu nằm khép mình trên con đường Đồng Khởi sầm uất. Ngót nghét đã mấy chục năm trôi qua. Mùi giấy cũ, ánh đèn vàng ám bụi và những bìa đĩa CD xếp hàng đờ đẫn ngày ấy vẫn đọng lại trong tâm khảm nó như một vệt sơn chưa kịp khô.

"Về quê" của Phó Đức Phương qua tiếng kèn saxophone Trần Mạnh Tuấn trở thành giai điệu hòa khí trinh nguyên mà nó chọn lựa. Dù bản chất gốc mang đậm âm hưởng dân gian Bắc Bộ, nhưng qua ngón bấm và hơi thở ứng tác biến tấu tự do của Trần Mạnh Tuấn, câu kèn đã mang trọn vẹn tinh thần Smooth Jazz—vừa mềm mại, vừa phá phá mọi rào cản khuông nhạc xơ cứng. Có một gã sinh viên cứ nghe miết đến đĩa mòn. 

Nó thường thả cho tâm hồn mình dìu dắt vào giai điệu ấy trong những phút giây khắc khoải tìm kiếm xúc cảm để viết bài, hay đơn giản chỉ là để tự mình "hồn lây lất" qua những ngày dài cô độc. Bên cạnh những bản tấu bốn mùa (Four Seasons) kiêu hãnh của Vivaldi hay những bản hòa tấu thanh khiết của Mozart miệt mài đi tìm lại bóng hình ấu thơ và sự biến chuyển diệu kỳ của thiên nhiên, tiếng kèn saxophone

Để rồi ngày hôm nay, cô em "giám tuyển" của riêng nó—một danh xưng đằm thắm nó trân trọng dành riêng cho em—đã gửi vào Nam một thước phim hành trình đầy đặn. Thước phim ấy như một chiếc chìa khóa đồng mở ra cánh cửa lịch sử Việt đan cài cùng từng vệt trầm tích của Jazz.

Nó bước chân theo cuốn sách của Tan - Tangbau, mở cửa. Tác phẩm "Jazz ở Hà Nội" xuất hiện như một khoảng trắng thẩm mỹ tĩnh lặng, đưa nó trôi dạt ngược dòng thời gian, lần tìm về những vệt ký ức lỏng lẻo của một thời sinh viên lang bạt.

Những năm tháng sinh viên ở Sài Gòn, có những đêm mưa rơi chao đảo, nó lang thang qua đường Nguyễn Du, tạt vào góc quán Saxn'Art của Trần Mạnh Tuấn. Giữa không gian đặc quánh khói thuốc và ánh đèn vàng mờ ỉu, tiếng kèn saxophone ngập tràn tính ứng tác cất lên. Nhạc Jazz ở đây không phô trương; nó là tiếng lòng tự do, là sự ngẫu hứng đâm thủng mọi quy chuẩn. 

Và khi lẽo đẽo theo Tan - Tangbau, ký ức Sài Gòn ấy dội ngược, kết nối với một Hà Nội, nó chứng kiến hành trình lẫy lừng của Jazz chốn Bắc Hà: từ những ngón đàn guitar, piano du nhập thời tiền chiến, những đêm nhạc lén lút trong chiến tranh gian khổ, cho đến sự hình thành của Bình Minh's Jazz Club bên hông Nhà hát Lớn dưới sự gầy dựng kiên trung của nghệ sĩ Quyền Văn Minh. Jazz ở Hà Nội hay Sài Gòn, suy cho cùng, đều là tiếng kêu xé ruột của những bản thể khao khát tự do, dùng âm nhạc để phẫu thuật sự cô đơn chốn đô thị.

Như thể nghe em nói, nhỏ nhẹ và thấu suốt giữa tiếng mưa dầm chốn đô thị: 'Anh à, Jazz nước mình đâu chỉ có mỗi Tuấn?

Đó là Quyền Văn Minh—người anh cả đã gầy dựng nên Bình Minh's Jazz Club bên hông Nhà hát Lớn Hà Nội, kẻ dũng cảm đặt những viên gạch nền móng đầu tiên cho Jazz Việt giữa những năm tháng gian khổ.

Đó là Quyền Thiện Đức—người nối nghiệp tiếp quản ngọn lửa, mang tư duy hiện đại thổi vào từng phím kèn da thiết.

Đó là Nguyễn Bảo Long cùng ban nhạc JumpforJoy—thế hệ trút toàn bộ năng lượng trẻ trung, biến Jazz thành một cuộc đối thoại sinh động, cởi mở giữa phố phường; Và là những ngón đàn tài hoa của An Trần, Hoàng Mẫn, hay Nguyễn Tiến Mạnh... những người trẻ mang Jazz Việt vươn ra đại dương bao la, không phải để vay mượn hay, mà để thốt lên tiếng nói nguyên bản của thế hệ mình. Nó gặp lại cả một Trần Tiến thời thanh xuân ngông nghênh với những nốt nhạc đã phải nằm trong danh sách "lưu ý" của thời đại bấy giờ.

Jazz ở Hà Nội hay Jazz ở Sài Gòn, suy cho cùng, đều là tiếng kêu xé ruột của những bản thể khao khát tự do. Họ dùng âm nhạc để phẫu thuật sự cô đơn, biến những đau thương rứt rách thành thứ nghệ thuật trinh nguyên, bất chấp sự bóp nghẹt của hoàn cảnh.

Tan - Tangbau đã không dừng lại ở những góc phố cổ Hà Nội. Qua từng trang biên khảo mẫn cảm, tác giả dắt tay nó bước vào một hành trình viễn xứ bao la, nơi Jazz cất tiếng hát ở khắp nơi trên thế giới.

Nó lắng nghe tác giả rủ rỉ giải mã cội nguồn nguyên bản của thứ âm nhạc ma mị này. Jazz không sinh ra trong các nhung lụa đài các. Nó đâm chồi từ những cánh đồng bông nắng cháy miền Nam nước Mỹ, từ tiếng hò lao động (Work songs) nén chặt nỗi đắng cay của những thân phận nô lệ da đen bị tước đoạt cội nguồn. Trong đêm đen của sự áp bức, họ cất lời ca—không phải để van xin, mà để nương tựa vào nhau, để cống hiến cho hư không những lời thủ thỉ trần trụi về thời mình, về những đớn đau, tủi nhục và nỗi khát khao tự do tột cùng. Từ Mỹ đến Nhật, cả một Shanhai rồi trở lại Hà Nội, Sài Gòn, jazz như viết lại lịch sử bằng những nốt nhạc trên nền nhạc cụ. 

Từ Mỹ đến Nhật, lướt qua một Thượng Hải phồn hoa chìm đọng trong sương mù lịch sử, rồi trôi dạt trở lại với Hà Nội cổ kính và Sài Gòn hối hả. Tan - Tangbau đã dẫn dắt nó dấn thân vào một hải trình âm thanh bao la. Jazz không chịu nằm yên trong bất kỳ biên giới địa lý nào. Bằng thứ ngôn ngữ thô mộc của nốt nhạc và hơi thở nén chặt nơi khuông nhạc ứng tác, Jazz âm thầm viết lại lịch sử—một lịch sử không xây bằng gạch đá hay những chiến công kiêu hãnh, mà được tạc nên bởi những vết đớn đau, sự bất tuân và lòng khát khao tự do tột cùng của con người.

Rồi cũng phải nói lời tạm biết Tan Tangbau, nó trở lại những phím gõ và tiếng jazz cũng day dứt, khơi nguồn cảm xúc dâng.

***


To write fairly, its entry into Jazz began first and foremost with the saxophone—that instrument possessing a spellbinding, agonizing voice that enchanted It to the point of emotional necrosis. And to be even more precise, the person who unlocked and slashed wide open the door to that intoxicating realm of music was Tran Manh Tuan.

It was a hazy trail of memory lingering at the unsteady threshold between the final years of high school and the first steps into university. In those days, a high-school classmate from Le Hong Phong, then in the sweet prime of youth, guided It back to the "sanctuary" of quiet intervals: the orderly rows of disc counters inside Xuan Thu Bookstore, nestled along the bustling Dong Khoi Street. Decades have drifted by since. The scent of aged paper, dust-kissed yellow light, and lifeless CD covers lined up back then still linger within its soul like a coat of paint not yet dry.

Phung Duc Phuong’s "Ve Que" (Returning Home), channeled through Tran Manh Tuan’s saxophone, became the pristine melody of harmony It chose. Though rooted deeply in the folk motifs of the Northern delta, through Tran Manh Tuan’s fingering and freely improvised breath, the phrasing embodied the full spirit of Smooth Jazz—soft yet shattering every rigid barrier of the musical stave. There was a university student who played the CD endlessly until the disc wore thin.

It would often let its soul be guided by that melody during agonizing moments of searching for emotion to write, or simply to drift "languid and lost" through long, solitary days. Alongside Vivaldi’s proud Four Seasons or Mozart’s pure concertos tirelessly seeking lost shadows of childhood and the miraculous shifts of nature, the saxophone’s voice stood apart.

And then today, its personal "curator"—a tender title It lovingly reserves for her—sent South a rich, full journey on film. That footage acted like a brass key opening the doors of Vietnamese history, interwoven with every sedimented layer of Jazz.

It steps in behind Tan - Tangbau’s book, opening the door. Jazz in Hanoi emerges like a tranquil aesthetic void, drifting It back against the current of time, tracing loose, fraying memories of a wandering student life.

During student years in Saigon, on nights when rain fell unsteadily, It would wander down Nguyen Du Street, ducking into a corner of Tran Manh Tuan’s Saxn'Art. Amidst a space thick with cigarette smoke and dim yellow light, the saxophone’s voice rose, brimming with improvisation. Jazz here was unpretentious; it was the voice of a free heart, an outburst of spontaneity piercing through all rigid norms.

And as It followed Tan - Tangbau, those Saigon memories surged back, connecting with Hanoi as It witnessed the glorious journey of Jazz in the Northern land: from pre-war guitar and piano chords brought from afar, secretive musical nights during grueling war years, to the founding of Binh Minh's Jazz Club beside the Hanoi Opera House under the steadfast stewardship of artist Quyen Van Minh. Jazz in Hanoi or Jazz in Saigon, at its core, was the soul-shattering cry of beings craving freedom, using music to dissect urban loneliness.

As if hearing her murmur, soft and penetrating amid the urban drizzle: "Anh, our country's Jazz isn't just Tuan, you know?"

It was Quyen Van Minh—the eldest brother who built Binh Minh's Jazz Club beside the Hanoi Opera House, the courageous soul who laid the very first foundation stones for Vietnamese Jazz during grueling years.

It was Quyen Thien Duc—the heir taking up the flame, breathing modern thought into every poignant key.

It was Nguyen Bao Long alongside the band JumpforJoy—a generation pouring out youthful energy, transforming Jazz into a vivid, open dialogue across city streets; and the gifted hands of An Tran, Hoang Man, or Nguyen Tien Manh... young souls carrying Vietnamese Jazz out into the boundless ocean, not to borrow or imitate, but to utter the original voice of their own generation. It even encountered a youthful, reckless Tran Tien, whose notes once sat on the era's "watch list."

Jazz in Hanoi or Jazz in Saigon, at its core, was the soul-shattering cry of beings craving freedom. They used music to dissect loneliness, transforming jagged, torn anguish into pristine art, defying the strangulation of circumstances.

Tan - Tangbau did not halt at the ancient corners of Hanoi. Through every sensitive page of research, the author led It by the hand into a vast journey abroad, where Jazz sings across every corner of the world.

It listened to the author softly decoding the raw origins of this spellbinding music. Jazz was not born in aristocratic silks. It sprouted from sun-scorched cotton fields in the American South, from labor work songs compressing the bitter plight of black slaves stripped of their roots. In the dark night of oppression, they raised their voices—not to beg, but to lean on one another, offering the void raw whispers about their lives, their era, their pain, humiliation, and ultimate thirst for freedom. From America to Japan, across an entire Shanghai, and returning to Hanoi and Saigon, Jazz re-wrote history with notes struck across instruments.

From America to Japan, sweeping past a opulent Shanghai submerged in historical mist, then drifting back to ancient Hanoi and hurried Saigon, Tan - Tangbau led It to embark upon a vast acoustic voyage. Jazz refuses to rest within any geographic border. Through the rustic language of notes and breath compressed upon improvisational staves, Jazz silently re-wrote history—a history not built of stone, mortar, or proud conquests, but carved out of human pain, defiance, and an ultimate longing for freedom.

And then, bidding farewell to Tan - Tangbau, It returned to the clicking keys as the sound of Jazz lingered, poignant, stirring a surging tide of emotion

[Truyện] Người phố (2) - Ngầu [Story] Urbanites (2) Ngầu

 

VẾT BẦM

Buông buông, chấp chấp gượng cười,

Thả rơi phiền não, còn rơi đồng tiền...

Chiều Sài Gòn đổ mưa như trút nước. Cơn mưa tháng Mười cuốn theo cái lạnh sót lại của những đợt áp thấp nhiệt đới, dội xối xả xuống mái bạt dù của một quán nhậu bình dân góc bờ kè kênh Nhiêu Lộc. Quán không quá sang xịn để phải rụt rè khép nép khi bước vào, cũng chẳng đến mức xập xệ nhếch nhác để lòng thêm thảm hại; nó nằm vừa vặn ở cái khoảng tầm trung dân dã—nơi những gã đàn ông văn phòng trút bỏ cà vạt, những tay buôn bôn ba tạm gác lo toan, cùng ngồi xô lại bên nhau kiếm một chỗ trú mưa vừa đủ ấm, vừa đủ riêng tư để nhâm nhi vài ly rượu cho khuây khỏa. Nước sông dưới kênh dâng cao đục ngầu, mảng sương mưa giăng kín mặt đường, tiếng còi xe nghẽn lối xa xa hòa lẫn mùi thịt nướng thơm nồng và vị cồn cay xè.

Giữa không gian nhập nhoạng hơi nước ấy, hai gã đàn ông ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn nhựa tròn đã sờn màu.

Gã ngồi đối diện—đeo chiếc kính cận dày cộp, vừa tỉ mẩn gắp từng miếng chân gà nướng cháy xèo xèo vừa thong thả bàn về thuyết Trung dung, về cái sự "buông bỏ" để lòng thảnh thơi giữa chốn thị thành.

Ngầu nhếch mép. Cú nhếch mép nửa đùa nửa thật, chứa đựng cả một kho tàng cay đắng của kẻ vừa bước ra từ đống đổ nát của một phi vụ phá sản tiếp theo trong đời.

Ngầu thấp bé. Gã chỉ cao chừng một mét năm mươi lăm, dáng người đậm, lưng hơi gù vì thói quen gồng gánh và đôi vai thu lại như thể lúc nào cũng sẵn sàng đỡ lấy một cú va đập bất ngờ từ số phận. Nhưng đôi mắt gã thì sáng quắc, quật cường và đầy sự ngông nghênh cố hữu.

– Mày thôi giảng triết lý hộ tao cái! – Ngầu nhấp ngụm rượu đế cay xè, giọng khàn khàn đè lên tiếng mưa rầm rập trên mái bạt – Buông cái gì mà buông? Khi mà cái xưởng cơ khí mini tao dốc hết vốn nghèo ra gầy dựng vừa bị dẹp bốt vì không gánh nổi tiền mặt bằng, tiền máy móc trả góp? Mày bảo "hoan hỷ nhẫn nại"? Lúc tao nợ tiền vật tư, tụi mối lái nó có "hoan hỷ" cho tao thiếu nợ không?

– Tao nói mày nghe, tôn giáo hay triết lý cao siêu là thứ mê hoặc, nó kéo mày vào, không đủ tỉnh táo sẽ không thể nào thoát ra được.

Gã bạn ngập ngừng định buông thêm một câu kinh kệ để xoa dịu, nhưng Ngầu đã giơ bàn tay thô ráp, chai sạn vì dính đầy vết phỏng hàn gạt phắt đi:

– Tao bỏ tôn giáo rồi. Hay nói đúng hơn, tao đéo rảnh để mơ mộng về một cõi Niết Bàn hư ảo nữa. Làm lành lánh dữ với tao bây giờ đéo còn đúng nữa. Bây giờ tao chỉ tin vào tiền tươi thóc thật, tin vào việc gồng mình lên mà cày. Đời này, đéo có ai thương mình bằng chính cái gân tay mình tự gồng lên đâu mày!

Nói xong, Ngầu bật chiếc bật lửa  kêu tách, châm điếu thuốc lá rẻ tiền. Khói thuốc trắng đục quyện vào làn mưa bong bóng trôi bồng bềnh dưới chân, phủ một lớp mờ nhân ảnh lên gương mặt hằn học của gã. Giữa không gian xô xát của cơn mưa chiều Sài Gòn, gã lặng người nhìn vào khoảng vô định ngoài bờ kè, nơi dòng nước đục ngầu đang cuốn phăng những mảng lục bình trôi dạt, và rồi ký ức về cả một kiếp bần thần mưu sinh bắt đầu cuồn cuộn dạt trôi về trong tâm trí gã...

Trong đầu Ngầu, ký ức bắt đầu dạt trôi ngược về quá khứ—những ngày gã còn là một thằng nhóc loi choi.

Ngầu là con một. Cái tên "Ngầu" không phải do cha mẹ đặt trên giấy khai sinh, mà là cái danh xưng gã tự quật lên để sinh tồn. Sinh ra trong một gia đình trung lưu ở xóm cù lao, lại mang thân hình thấp bé nhất lớp, Ngầu nghiễm nhiên trở thành mục tiêu bắt nạt lý tưởng của đám bạn đồng lứa. Đám con nít trong hẻm thường gọi gã là "Ngầu lùn", "Ngầu mẩu", rồi đẩy gã té xúi giục vào những vũng nước đục ngầu mỗi độ mưa rào.

Nhưng Ngầu đếch chịu thua. Từ năm mười hai tuổi, gã đã biết gạt nước mắt, nắm chặt nắm đấm bé tẹo để đáp trả.

– Mày chửi tao lùn đúng không? – Ngầu nhớ lại lần gã leo hẳn lên chiếc ghế gỗ để đứng ngang tầm mắt với thằng thủ lĩnh đám bắt nạt, mắt trợn ngược đỏ ngầu, hai tay gằn chặt hai viên gạch thẻ nặng trịch – Đập tao đi! Mày đập tao một, tao chẻ đầu mày làm hai! Phải đập cho tao chết, còn không thì tao sẽ tìm mày tiếp. Tao đây đếch sợ thằng nào hết!

Ông già gã ngồi người trước hiên nhà, cẩn thận làm trọn một ly rượu đế, thả hơi khà một tiếng ra chiều đã lắm, rồi hích nhẹ tay thằng bạn già bên cạnh: "Dzô!". Mắt ông già lúc ấy như đang cười thì phải, nơi đuôi mắt xếp dày những đường chân chim rã rời nhưng ngầm kiêu hãnh.

Cái sự liều mạng xù xì ấy khiến đám bạn trong hẻm phải dạt ra. Gã bắt đầu lao vào tập hít đất, gánh những thùng nước máy đầy cho mẹ. Gã muốn chứng tỏ cho cả cái xóm nghèo này thấy rằng, thấp bé không đồng nghĩa với yếu ớt. Gã phải "ngầu" đúng như cái tên gã tự chọn cho mình—một sự ngầu thô ráp, gai góc của loài cỏ dại mọc ngược giữa khe đá.

Không chỉ dùng nắm đấm, Ngầu còn vắt kiệt sức học thật giỏi. Ngày tốt nghiệp phổ thông, Ngầu chính là một trong vài đứa trẻ hiếm hoi của cái xóm cù lao ấy danh chính ngôn thuận bước chân vào cửa đại học, đại học kinh tế hẳn hoi. Đứng trước đám bạn đồng lứa ngày xưa từng chế nhạo mình, Ngầu bỗng thấy bản thân như cao hơn chúng nó cả một cái đầu. Gã tràn ngập hoài vọng về tương lai, tự hứa ra trường phải kiếm bằng được một công việc ra ngô ra khoai ở một tập đoàn nước ngoài hoành tráng—nơi gã sẽ ngẩng cao đầu và khiến tất cả mọi người đều phải cúi đầu nể phục.

Trước những tuyên bố ngút ngàn của gã, ông già gã chỉ im lặng nhấp ngụm rượu đế, đuôi mắt của ông già không có những đường chân chim, chân chim đậu hẳn trên trán của ông già khi đó, còn bà già gã—người phụ nữ tảo tần cả đời vì con—mắt rưng rưng cười hiền lành:

– Ừ, cố lên con. Mày làm được mà, mẹ biết con trai mẹ giỏi lắm!

Đến khi trưởng thành, Ngầu lao vào đời làm việc. Qua vài năm trầy trật ở một công ty trong nước, Ngầu nhảy việc thành công, chính thức bước chân vào một tập đoàn nước ngoài đúng như tâm nguyện thời trai trẻ.

Thế nhưng, đời không như là mơ. Ở tuổi hai mươi lăm, sau những chao đảo và vấp ngã từ công việc trước đó, việc phải bắt đầu lại từ đầu giữa một môi trường quốc tế khốc liệt khiến Ngầu ngợp hẳn. Những thử thách rào cản về ngoại ngữ, những thuật ngữ chuyên ngành phức tạp như trêu đùa, nắn gân cái sự kiêu hãnh của Ngầu. Chính trong những ngày tháng hoang mang, đuối sức ấy, Ngầu tìm đến Phật giáo như một chỗ bám bấu tinh thần. Gã mua sách thiền, học cách quán niệm hơi thở, ngấu nghiến nghiên cứu các bộ kinh Đại thừa.

Thậm chí có dạo, Ngầu bước vào văn phòng làm việc với phong thái tĩnh tại của một bậc đạo sư tầm vóc. Gã ăn nói từ tốn, thi thoảng thả vài từ ngữ triết học sâu cay, nhìn đồng nghiệp bằng ánh mắt bao dung, nhẫn nại như thể gã đã thấu thị mọi quy luật biến thiên của nhân gian.

Gã cắm cúi làm việc ở đó vài năm, mớ triết lý thiền định giúp gã giữ được cái đầu lạnh và một con tim nóng. Nhưng rồi, rãnh rỗi ngoảnh lại xóm cù lao cũ, Ngầu nhận ra đám con nít lùn tịt, ngơ ngác ngày xưa nay cũng đã lớn, bắt đầu có công việc riêng. Nhiều đứa trong số đó quăng mình ra làm ăn riêng, chớp thời cơ rần rần rồi phất lên giàu sụ, đi xe hơi, mua nhà mặt phố.

Cái máu khẳng định bản thân trong Ngầu lại bùng cháy dữ dội. Ngầu thấy mình không thể mãi an vị trong cái lồng kính văn phòng với mức lương tròn trịa nhưng an toàn này nữa. Ngầu phải viết tiếp chương mới cho đời mình: gã phải làm giàu, và phải giàu hơn, vượt mặt tất cả đám bạn xóm cù lao năm ấy!

Ngầu nộp đơn xin nghỉ việc, chấp nhận nhảy sang một công ty khác ở một lĩnh vực hoàn toàn mới. Với vốn kiến thức tự học cùng sự trải đời tích lũy bao năm, Ngầu tự tin giao tiếp, đứng trước các đối tác lớn phán xét và mổ xẻ các dự án như một chuyên gia hàng đầu. Ngầu tin chắc rằng, với sự liều lĩnh và cái đầu nhạy bén này, gã sẽ mau chóng giàu có và chạm tay vào đỉnh cao thành công.

Thế nhưng, cái vỏ bọc "chuyên gia thiền định" hay hình tượng "chuyên gia ngành" ấy vỡ tan tành ngay khi thực tế phũ phàng ập đến: gã vẫn đéo có nhiều tiền. Gã chẳng thể có những thứ mà đám trẻ cù lao ngày nào giờ đang nghễu nghện sở hữu. Chúng nó có nhà mặt phố, có xe hơi bóng lộn, mỗi lần ngồi trên bàn nhậu là ngà ngà say văng ra toàn những con số tài sản hàng chục tỷ, hàng trăm tỷ. Ngầu nhẩm tính lại số dư trong tài khoản của mình mà đắng ngắt bờ môi.

Ngầu ghét cay ghét đắng những ai thương hại gã. Hễ ai vỗ vai bảo: "Thôi mày ơi, ai cũng có cái số cả, nhìn lên mình chẳng bằng ai, nhưng nhìn xuống..." — chưa kịp dứt câu là Ngầu đã nổi điên. Gã coi sự thương hại, an ủi bằng thứ triết lý huề vốn ấy là loại độc dược hạ thấp nhân phẩm và ý chí của gã.

Trong khi đó ở quê nhà, ông già Ngầu lặng lẽ cầm điếu thuốc lá quấn, rít một hơi dài nhát gừng. Tiếng ho húng hắng hòa cùng hơi thở đứt quãng của tuổi già, rồi ông nhẹ nhàng nâng ly rượu đế lên nốc cạn. Đám bạn nhậu thời vang bóng của ông già giờ chẳng còn ai, tất cả đều đã lần lượt ra người thiên cổ, bỏ lại ông trầm mặc bên hiên nhà nhìn thằng con trai thấp bé đang vật lộn với tham vọng mưu sinh. 

Để chứng minh bản thân, Ngầu lao vào khởi nghiệp.

Để chứng minh bản thân không phải kẻ thất bại, Ngầu lao vào khởi nghiệp.

Lần thứ nhất, gã dốc toàn bộ tiền tiết kiệm mồ hôi nước mắt mở xưởng sản xuất giày da thủ công. Gã nghĩ cái tâm tỉ mỉ, sự kiên nhẫn và cái đầu sắc sảo của gã sẽ làm nên chuyện lớn. Thế nhưng, đời thực quá tàn nhẫn: chỉ sau vỏn vẹn sáu tháng, giá nguyên liệu đầu vào tăng vọt, thị trường ngưng trệ khiến hàng tồn kho chất đống như núi, xưởng vỡ nợ hoàn toàn.

Trước đống nợ nần chồng chất của thằng con trai, ông già Ngầu lẳng lặng bán đi căn nhà thứ nhất—thành quả gắt gao của cả một thời tuổi trẻ cày cuốc, vắt kiệt mồ hôi của hai vợ chồng. Căn cơ gia đình giờ chỉ còn lại một căn nhà liền kề chật chội. Rít một hơi thuốc lá quấn đến cháy bần bật ngón tay, ông già chậm rãi phả làn khói xám xịt về phía Ngầu, giọng trầm đục:

– Căn nhà này và căn liền kề cho thuê kia, mày muốn cho thuê hay làm gì thì tùy... Miễn sao phải lo được cho mẹ mày.

Ông già Ngầu mất không lâu sau đó. Sự ra đi đột ngột của ông như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào gã đàn ông thấp bé, để lại một khoảng trống hoác trầm mặc nơi hiên nhà.

Nghĩ đến lời dặn cuối cùng của cha, Ngầu ngậm ngùi quẩy ba lô đi làm thuê trở lại. Gã nhẫn nại tích lũy, đi làm đúng giờ, tối về tròn trách nhiệm với gia đình. Nhưng rồi, cái máu khao khát vươn lên chưa bao giờ nguội lạnh. Qua những buổi nhậu ngà ngà say với bạn bè, nghe những câu chuyện làm ăn rần rần, nghe tiếng còi xe và nhịp sống phố thị thôi thúc bên tai, cái tôi ngông nghênh lại trỗi dậy. Ngầu lại nhen nhóm quyết tâm, tiếp tục bước chân vào vòng xoáy khởi nghiệp lần nữa...

Lần thứ hai, gã xoay xở vay mượn khắp nơi để vừa sản xuất, vừa làm phân phối độc quyền một thương hiệu mỹ phẩm thiên nhiên. Ngầu gồng mình chạy chiếc xe máy cà tàng đầm đìa mưa nắng khắp các tỉnh miền Tây để bỏ hàng. Gã kết nối với những anh em trình dược, chủ động tìm kiếm và gặp gỡ đủ các “quý nhơn”—theo cách gọi của Ngầu—những người hứa hẹn nâng đỡ, giúp gã phất lên. Nhưng rồi, sự cạnh tranh tàn nhẫn của thị trường và những cú lừa trắng trợn từ chính đối tác chiến lược khiến xưởng sập tiệm, gánh thêm một khoản nợ hàng trăm triệu đồng đè nặng lên vai.

Một tối mưa tầm tã, Ngầu vét nốt những đồng tiền còn sót lại mở tiệc đãi tất cả anh em, nhân viên đang làm cho gã. Đó là buổi tiệc ly đầy ngậm ngùi. Trong làn khói đồ nướng tàn đêm, Ngầu nâng ly cạn chén, chính thức tuyên bố giải tán công ty, bỏ hết tất cả để thanh toán cho xong các khoản lương nợ anh em.

Căn nhà nhỏ ở quê từ ngày ông già mất trở nên vắng lặng đến ngột ngạt. Bà già Ngầu xuống tóc cạo đầu kể từ ngày chồng qua đời, ngày ngày tụng kinh niệm Phật. Căn nhà trả góp chật chội rộn lên những tiếng thở dài khi khoảng cách giữa cô con dâu và Ngầu ngày một xa cách, những cuộc cãi vã xỉa xói nhau diễn ra với tần suất dày hơn. Bà già Ngầu nhìn thằng con trai thấp bé đang quẫn bách, khẽ thở dài bảo:

– Mày làm gì làm, gánh vác sao thì gánh, nhưng nhớ để lại cái nền cho con cái. Mày khỏi lo cho tao, sống sao cho mạnh khỏe, vợ chồng vui vẻ là được rồi con...

Nói rồi, bà lại lụi hụi quay về quanh quẩn với hai đứa cháu nhỏ—hai đứa trẻ mầm non là kết tinh tình yêu một thời mặn nồng giữa Ngầu và vợ.

Lần thứ ba, gã bắt kịp xu hướng, dồn hết hi vọng cuối cùng lên các sàn e-commerce. Gã thức trắng những đêm thâu mò mẫm chạy quảng cáo, tối ưu từng gian hàng, học bằng hết những mẹo thuật toán, những khóa huấn luyện bán hàng khốc liệt nhất của ngành. Nhưng rồi, cuộc đua giảm giá đẫm máu trên sàn điện tử đã hút cạn từng đồng vốn chắt chiu cuối cùng của Ngầu. Thuật toán thay đổi xoành xoạch, cộng thêm những đợt khóa tài khoản vô lý từ nền tảng khiến toàn bộ tiền bạc, công sức gã dồn vào đây một lần nữa bốc hơi sạch bách như bong bóng xà phòng.

Đêm đó, Ngầu đứng trân trối nhìn quanh căn phòng trọ chật chội ngập ngụa những đống hộp carton, băng keo và hàng tồn kho chất cao ngất ngưởng.

Trong cái kho hàng kiêm phòng khách ấy, bà già gã tay run run xé từng vệt băng dính, cô vợ lụi hụi dán mã đơn, hai đứa con nhỏ cũng lẫm chẫm bưng từng chiếc hộp xốp phụ ba, và vài người hàng xóm xóm trọ cũng quây quần ngồi xếp hàng bao sái giùm. Cả một "hệ sinh thái" người thân, gia đình đang dốc lòng vây quanh đống bưu kiện này—bởi đây chính là nguồn sống duy nhất nuôi sống tất cả bọn họ qua những ngày giông bão. Sự tận tụy lặng lẽ của họ trước đống gạch đá đổ nát của cuộc đời gã làm cổ họng Ngầu nghẹn đắng. 

Thất bại ba lần liên tiếp, Ngầu đành ngậm ngùi buông bỏ giấc mơ làm chủ. Gã chấp nhận đi làm môi giới—từ môi giới bất động sản, nhà đất lẻ, cho đến môi giới máy móc cũ. Gã "bắt chụp" đủ thứ trên đời. Chỉ cần có hoa hồng, chỉ cần có tiền tươi để trang trải sinh hoạt, Ngầu sẵn sàng lăn lộn ngoài đường từ tám giờ sáng đến tận đêm muộn, mặc cho nắng cháy da hay mưa ngập đến ngực.

HIỆN TẠI

Vai gầy gánh cả giang sơn,

Nợ nần đè nặng, oán hờn giấu trong.

Năm nay Ngầu ba mươi lăm tuổi. Căn phòng chật chội mà gã thuê ở vùng ven chứa đựng cả một "hệ sinh thái" trách nhiệm: một người vợ hay thở dài, hai đứa con đang tuổi ăn tuổi lớn, và một người mẹ già yếu bị bệnh khớp hành hạ mỗi khi thời tiết chuyển mùa.

Từ ngày cha Ngầu đột ngột qua đời vì một cơn gián độc stroke cách đây ba năm, Ngầu nghiễm nhiên trở thành cây trụ dắt duy nhất gánh vác toàn bộ ngôi nhà. Cha gã ra đi, để lại một khoảng trống hoác và đống sổ nợ trả góp chưa đáo hạn. Ngầu thấy mình phải có trách nhiệm. Gã không còn quyền được gục ngã, không còn quyền được khóc, và càng không còn quyền được thất bại thêm một lần nào nữa.

Mỗi tối trở về nhà sau những giờ lao lộn ngoài đường, nhìn căn phòng chật chội ám mùi dầu gió và tiếng trẻ con khóc quấy, Ngầu thèm được nói chuyện đến phát điên.

Gã thèm có một ai đó để trút bỏ hết những ấm ức, để than thở rằng gã đã mệt mỏi đến mức nào. Nhưng nhìn sang vợ—người phụ nữ với gương mặt hốc hác vì vừa chăm con vừa nhận hàng gia công về may đêm—Ngầu lại nuốt ngược những lời muốn nói vào trong. Gã không thể yếu đuối trước mặt vợ. Gã là "Ngầu", gã phải ngầu đến cùng.

Trong cái lồng kính của sự bế tắc, đêm nào Ngầu cũng nằm trằn trọc, tự đặt cho mình hàng tá câu hỏi "tại sao":

Tại sao gã chăm chỉ như một con kiến, chưa bao giờ cờ bạc, rượu chè hay phá phách, mà gã vẫn không thể giàu?

Tại sao những kẻ xảo ngôn, chớp thời cơ ngoài kia lại dễ dàng có nhà cao cửa rộng, còn gã cày ải bán sống bán chết vẫn phải lăn lộn với từng đợt hóa đơn sinh hoạt chất đống?

Sao cuộc đời lại bất công với những kẻ thấp bé nhưng luôn cố gắng gồng mình như gã đến vậy?

Một chiều cuối tuần, trời Sài Gòn lại đổ mưa dầm. Ngầu vừa đi dẫn khách xem một lô đất quy hoạch treo ở ngoại thành về, người ướt sũng như chuột lột. Chiếc xe Wave cùi cùi lại dở chứng tắt máy ngay đầu hẻm. Ngầu dắt xe trong sự uất hận tột cùng, tay đấm mạnh vào tay lái đến rớm máu. Gã muốn gào lên, muốn chửi rủa cái cuộc đời tàn nhẫn này.

Gã lết thân thể kiệt quệ về đến cửa nhà. Căn nhà nhỏ tối om, chỉ có ánh sáng vàng nhạt phát ra từ bếp ăn.

Ngầu định dắt xe vào nhà rồi trùm chăn nằm gục, nhưng vừa bước qua mép cửa, gã đã khựng lại.

Trên chiếc bàn gỗ nhỏ giữa nhà, một mâm cơm tươm tất đã được dọn sẵn dưới chiếc lồng bàn nhựa. Mẹ gã—đang ngồi trên chiếc ghế gỗ, đôi chân sưng khớp được bó bằng lá thuốc—thấy gã về liền lật đật vịn thành ghế đứng dậy, giọng run run:

– Ngầu hả con? Mưa gió lớn quá, sao không ghé đâu trú chút rồi về? Mẹ nấu canh ngót cá lóc con thích đây này, mau vô tắm rửa rồi ăn cơm kẻo lạnh.

Đúng lúc đó, từ trong góc phòng, đứa con gái nhỏ năm tuổi chạy ùa ra, ôm chẩm lấy cái chân ướt sũng của Ngầu, ngước đôi mắt tròn xoe lên hỏi:

– Ba Ngầu về rồi! Ba có mệt không? Con vẽ hình ba đứng trên đỉnh núi này, ba xem đẹp không?

Thằng con trai lớn mười tuổi lẳng lặng đi ra, cầm lấy chiếc khăn lau khô từ tay mẹ, chìa về phía Ngầu, gãi đầu ngại ngùng:

– Ba lau đầu đi kẻo bệnh... Con rửa xe cho ba rồi đó, bu-gi chỉ bị đóng bụi thôi, con chùi sạch rồi.

Ngầu đứng trần trối giữa căn phòng chật chội. Cảm giác lạnh buốt của sương mưa ngoài kia chợt biến mất, thay vào đó là một luồng hơi ấm nóng hổi xộc thẳng vào lồng ngực gã, làm cay xè sống mũi.

Vợ gã bước ra từ bếp, tay xách chiếc thau nước ấm. Chị nhìn vết thương rớm máu trên tay Ngầu, không một lời trách móc, chỉ nhẹ nhàng bảo:

– Anh ngồi xuống đây em rửa vết thương cho. Mấy khoản nợ tháng này em vừa lãnh tiền may gia công, co kéo trả bớt được một nửa rồi. Anh đừng có gồng một mình nữa... Có gì thì vợ chồng mình cùng gánh.

Giây phút ấy, một tia sáng bừng lên trong tâm trí Ngầu.

Như một gã mù đột nhiên nhìn thấy ánh mặt trời, Ngầu giật mình nhìn lại toàn bộ cuộc đời mình. Bấy lâu nay, gã luôn tự dằn dằn, tự dằn vò và dằn dỗi với thế giới vì gã không giàu có về tiền bạc, không có nhà cao cửa rộng, không trở thành một thành công hào nhoáng trên mạng xã hội. Gã luôn nghĩ gã là một kẻ thất bại, một gã "Ngầu" tội nghiệp phải độc hành gánh vác cả thế giới trên đôi vai thấp bé.

Nhưng gã đã nhầm.

Gã giàu. Gã giàu đến mức vô tận mà bấy lâu nay gã không hề hay biết.

Bấy lâu nay, Ngầu chưa bao giờ cho phép bản thân được nghỉ ngơi, chưa bao giờ tha thứ cho những thất bại của chính mình. Gã bắt bản thân phải gồng lên, phải "ngầu", phải trở thành một cỗ máy kiếm tiền kiệt quệ chỉ để chứng minh với thế giới rằng gã không yếu ớt. Gã đã tự ngược đãi bản thân bằng những câu hỏi "tại sao" độc hại, mà quên mất rằng điều quý giá nhất của kiếp nhân sinh này không nằm ở con số trong tài khoản ngân hàng, mà nằm ở sự bình an, tự tại trong tâm hồn khi biết trân trọng những gì mình đang có.

Ngầu hít một hơi thật sâu. Gã ngồi xuống chiếc ghế gỗ, để mặc cho vợ nhẹ nhàng lau vết thương trên tay, để đứa con gái nhỏ trèo lên đùi nũng nịu.

Gã khẽ mỉm cười—một nụ cười không còn cay đắng hay ngông nghênh, mà là nụ cười tròn trịa, dịu dàng của một người vừa tìm thấy bến bờ bình an giữa lòng phố thị.

Đời người như sóng cuốn dòng trôi,

Hơn thua, danh lợi... hóa mây trời.

Thả lòng ôm lấy niềm thương xót,

Mới biết bình an ở ngay đây...

Gã giàu. Gã giàu đến mức vô tận mà bấy lâu nay gã không hề hay biết.

Chiều Sài Gòn vẫn đổ mưa như trút nước, dội xối xả xuống mái bạt dù của quán nhậu bờ kè.

Ngầu buông nhẹ điếu thuốc lá đã cháy tàn đến vệt ngón tay, giơ tay vẫy phục vụ:

– Em ơi, tính tiền!

Mưa vẫn rả rích rơi, để lại chỏng trơ trên chiếc bàn nhựa tròn vệt nước đọng quanh một cái chén, một đôi đũa, một dĩa mồi dở dang và ba chai bia cạn đáy.

Ngầu đứng dậy, chỉnh lại cổ áo mưa, bước ra khỏi quán nhậu hòa vào dòng người đang gồng lưng ngụp lặn dưới cơn mưa chiều Sài Gòn.

***



BRUISES

Letting go, clinging on, forcing a faint grin,

Dropping all worries, while the coins still spill within...

Saigon this afternoon poured rain in buckets. The October downpour, carrying the residual chill of lingering tropical depressions, slammed violently against the canvas awning of a modest tavern tucked along the embankment of the Nhiêu Lộc canal. The tavern was neither too upscale to demand timid hesitation upon entry, nor so dilapidated as to deepen one's sense of misery. It rested comfortably in that middle ground of everyday folks—a place where office workers shed their ties, where weary traders set aside their burdens, and where men huddled together seeking a spot warm enough, private enough, to sip a few glasses of liquor and ease their minds. The canal waters below rose dark and murky; a blanket of rain-mist shrouded the asphalt, while distant sounds of jammed traffic horns blended with the rich aroma of grilled meat and the sharp bite of alcohol.

In that steam-hazy space, two men sat opposite each other across a faded round plastic table.

The man across—wearing thick glasses, meticulously picking at sizzling charred grilled chicken feet—leisurely discussed the doctrine of the Middle Way, dwelling on the art of "letting go" to keep one's soul unburdened amidst the urban chaos.

Ngầu smirked. It was a half-joking, half-serious smirk, carrying a whole reservoir of bitterness from someone who had just walked out from the ruins of yet another business failure.

Ngầu was short. Standing barely five feet one inch tall, he had a thickset frame, a slightly hunched back from years of heavy lifting, and shoulders pulled tight as if perpetually braced for an unexpected blow from fate. Yet his eyes burned bright, defiant, and filled with an innate, stubborn arrogance.

– "Stop preaching philosophy to me, will you?" Ngầu took a sip of stinging rice liquor, his raspy voice cutting over the heavy thud of rain against the canvas. "Let go of what? When the mini mechanical workshop I poured all my meager savings into creating just got shut down because I couldn't handle the rent and equipment installments? You tell me to be 'patient and joyful'? When I owed money for raw materials, did the suppliers 'joyfully' forgive my debts?"

– "Listen to me, religion or lofty philosophy is a intoxicating trap; it pulls you in, and if you aren't sharp enough, you'll never break free."

His friend hesitated, about to utter another scripture to soothe him, but Ngầu raised a rough, calloused hand covered in burn scars from welding, waving him off dismissively:

– "I'm done with religion. Or rather, I don't have the luxury to daydream about an illusionary Nirvana anymore. Doing good and avoiding evil doesn't work for me anymore. Now I only believe in hard cash and bending my back to hustle. In this life, no one loves you more than the very tendons in your own arms when you flex them to survive!"

With that, Ngầu flicked his lighter open with a sharp clack, lighting a cheap cigarette. Thick white smoke merged into the floating bubble puddles beneath his feet, casting a hazy veil over his hardened face. Amidst the chaotic violence of the Saigon afternoon rain, he stared blankly out into the embankment, where murky currents swept away drifting patches of water hyacinths, and memories of a lifetime spent frantically grinding for survival began to flood his mind...

In Ngầu’s head, memories drifted backward into the past—to the days when he was still an unruly kid.

Ngầu was an only child. The name "Ngầu" (tough guy) wasn't given to him on his birth certificate; it was a moniker he carved out himself to survive. Born into a middle-class family in an island neighborhood, yet inheriting the shortest stature in his class, Ngầu naturally became the prime target for local bullies. The neighborhood kids often taunted him as "Short Ngầu" or "Stump Ngầu," pushing him headfirst into murky mud puddles whenever downpours struck.

But Ngầu refused to yield. From the age of twelve, he knew how to wipe away his tears, clenching his tiny fists to strike back.

– "You called me short, didn't you?" Ngầu recalled the time he climbed right onto a wooden stool to stand eye-to-eye with the gang leader, his eyes bulging red with rage, both hands gripping heavy clay bricks tightly. "Hit me! You hit me once, I'll split your head in two! You better beat me to death, or else I'll come hunting for you next. I ain't afraid of a single one of you!"

His father sat on a stool out in the front porch, carefully finishing a full glass of rice liquor, letting out a satisfied "ahh," before nudging his old drinking buddy alongside: "Cheers!" His father's eyes seemed to be smiling then—crow's feet deep and weary, yet carrying a quiet, hidden pride.

That raw, reckless defiance forced the alley kids to back off. He threw himself into push-ups and carrying heavy buckets of tap water for his mother. He wanted to prove to the entire poor neighborhood that being short didn't mean being weak. He had to be "Ngầu"—a rough, jagged toughness like wild weeds growing backward out from rocky crevices.

Not relying solely on fists, Ngầu also exhausted himself studying. On high school graduation day, Ngầu was one of the very few kids from that river island neighborhood who legitimately earned a place at university—and a reputable economics university at that. Standing before the peers who had once mocked him, Ngầu suddenly felt as though he towered a head above them all. Filled with soaring ambitions for the future, he swore that upon graduating, he would secure a real, formidable job at a prestigious foreign corporation—where he could hold his head high and command respect from everyone.

Faced with his grand declarations, his father merely sipped his liquor in silence. There were no crow's feet around his father's eyes back then—they had settled permanently onto his forehead instead. Meanwhile, his mother—a woman who slaved her entire life for her son—smiled gently, her eyes brimming with tears:

– "Aye, keep pushing, son. You can do it; I know my boy is capable!"

Upon reaching adulthood, Ngầu threw himself into the workforce. After a few rocky years at a local company, Ngầu successfully job-hopped into a foreign corporation, just as he had dreamed in his youth.

Yet, life was no fairy tale. At twenty-five, following stumbles and setbacks in his previous job, starting over from scratch in a fierce international environment overwhelmed him completely. Language barriers and complex industry terminology seemed to mock him, testing his pride. In those days of confusion and exhaustion, Ngầu turned to Buddhism as a spiritual anchor. He bought books on meditation, learned to observe his breath, and voraciously studied Mahayana scriptures.

There was even a phase when Ngầu walked into the office with the serene demeanor of a grand spiritual master. He spoke measuredly, occasionally dropping deep philosophical terms, regarding his colleagues with a tolerant, patient gaze as if he had mastered all the shifting laws of the mortal realm.

He quietly labored there for a few years, his collection of zen philosophies helping him maintain a cool head and a warm heart. But then, looking back at his old island neighborhood during a lull, Ngầu noticed that the short, clueless kids of the past had all grown up and started their own careers. Many of them had thrown themselves into business, seized opportune moments, and struck it rich—driving cars and purchasing street-front properties.

The fire to prove himself burned fiercely within Ngầu once more. He felt he couldn't stay forever inside this glass office cage with a neat but safe salary. Ngầu had to write the next chapter of his life: he had to get rich, and richer than all those old neighborhood peers!

Ngầu submitted his resignation, taking the plunge into another company in a completely new industry. Equipped with self-taught knowledge and years of real-world experience, Ngầu spoke with confidence, standing before major partners to critique and dissect projects like a top-tier expert. Ngầu was certain that with his boldness and sharp mind, he would quickly accumulate wealth and touch the pinnacle of success.

However, that shell of a "meditation master" or "industry expert" shattered instantly when harsh reality struck: he still didn't have much money. He possessed none of the luxuries that the island kids were now proudly flaunting. They owned townhouses, glossy cars, and whenever they sat around a drinking table half-tipsy, they threw around asset figures in the tens or hundreds of billions. Ngầu mentally calculated his own bank account balance, feeling a bitter sting on his lips.

Ngầu despised anyone pitying him. Whenever someone patted his shoulder saying, "Come on man, everyone has their fate. Looking up we might not match anyone, but looking down..."—before they could finish the sentence, Ngầu would blow his top. He treated pity and platitudes as a form of poison that degraded his dignity and drive.

Meanwhile back home, his father quietly held a hand-rolled cigarette, taking long, hesitant drags. Raspy coughs mingled with the broken breaths of old age, before he gently lifted a glass of rice liquor and drained it. His father's drinking buddies from his golden days were all gone now, having passed into eternity one after another, leaving him sitting in silent reflection on the porch, watching his short son struggle against his own ambitions for survival.

To prove himself, Ngầu plunged into entrepreneurship.

To prove he was no failure, Ngầu threw himself into starting a business.

The first time, he poured every drop of sweat-and-tears savings into opening a handcrafted leather shoe workshop. He believed his meticulous nature, patience, and sharp mind would yield great results. Reality, however, was merciless: after a mere six months, raw material prices skyrocketed, market demand stalled, and inventory piled up like mountains, leaving the workshop completely bankrupt.

Facing his son's mounting mountain of debt, Ngầu’s father quietly sold off their first house—the hard-won fruit of his and his wife's youth spent working relentlessly to the bone. The family's foundation was now reduced to a single cramped adjacent house. Inhaling a drag of his rolled cigarette until it nearly scorched his fingers, the old man slowly blew out a gray cloud of smoke toward Ngầu, his voice deep and heavy:

– "This house and the adjacent rental one... do whatever you want with them, rent them out or sell them... As long as you take care of your mother."

Ngầu’s father passed away not long after. His sudden departure was like a bucket of ice water splashed over the short man, leaving a hollow, silent void on the porch.

Mindful of his father's final words, Ngầu swallowed his pride, shouldered his backpack, and returned to working for others. He patiently accumulated savings, arrived on time, and fulfilled his duties to his family at night. Yet the burning desire to rise never cooled. Over drinking sessions half-buzzed with friends, listening to bustling business stories, and hearing the blaring traffic and pulse of the city calling out, his arrogant ego flared up again. Ngầu stoked his resolve once more, stepping back into the whirlwind of starting another business...

The second time, he scrambled to borrow money everywhere to manufacture and distribute an exclusive line of natural cosmetics. Ngầu toughened up, riding his battered motorbike through scorching sun and pouring rain across Delta provinces to drop off inventory. He connected with pharmaceutical reps, actively seeking out and meeting various "benefactors"—as Ngầu called them—people who promised to lift him up and help him make it big. Yet brutal market competition and blatant betrayals from his strategic partners shuttered the business, burdening his shoulders with hundreds of millions of VND in debt.

One torrential rainy evening, Ngầu scraped together his remaining cash to host a feast for all the brothers and staff working for him. It was a mournful farewell dinner. Amidst the late-night barbecue smoke, Ngầu raised his glass, drank it dry, and officially announced the company's dissolution, giving up everything to pay off his staff's wages and debts.

The small house back home felt suffocatingly quiet after his father's passing. Ngầu’s mother shaved her head after her husband died, spending her days chanting Buddhist prayers. The cramped installment house echoed with heavy sighs as the distance between his wife and Ngầu widened, with bitter arguments erupting more frequently. Looking at her distressed, short son, his mother sighed softly:

– "Do whatever you must, shoulder whatever burden you can, but remember to leave a foundation for your children. Don't worry about me—just live healthy, and keep your marriage happy, son..."

With that, she shuffled back to potter around her two young grandchildren—the kindergarten-aged fruits of the once-passionate love between Ngầu and his wife.

The third time, catching onto trends, he pinned his ultimate hopes onto e-commerce platforms. He stayed up through endless nights figuring out advertising, optimizing every product listing, learning every algorithm trick and the most cutthroat sales tactics in the industry. But the blood-bathed price wars on e-commerce drained every last penny of Ngầu’s carefully gathered capital. Ever-changing algorithms coupled with unreasonable account bans from the platform erased all his money and labor once again like popping soap bubbles.

That night, Ngầu stood frozen, staring around the cramped rental room overflowing with mountains of cardboard boxes, packing tape, and piled-high unsold inventory.

In that warehouse-turned-living room, his mother's trembling hands tore strips of packing tape, his wife busily attached shipping labels, his two toddlers toddled around carrying small styrofoam boxes to help their dad, and a few neighbors from the rooming house gathered around to help package goods. An entire "ecosystem" of family and loved ones was pouring their hearts into this pile of parcels—for this was the sole lifeline sustaining them all through the storm. Their quiet devotion before the ruined rubble of his life choked Ngầu’s throat with tears.

Failing three consecutive times, Ngầu bitterly surrendered his dream of being a boss. He accepted working as a broker—brokering everything from real estate and land plots to used machinery. He "chased after" everything under the sun. As long as there was a commission, as long as there was hard cash to cover daily living expenses, Ngầu was willing to tumble through the streets from eight in the morning until late into the night, regardless of blistering heat or chest-deep rain.

PRESENT

Slender shoulders bear a world of pain,

Crushed by debt, hiding resentment in vain...

Ngầu was thirty-five this year. The cramped room he rented on the outskirts harbored an entire "ecosystem" of responsibilities: a wife who sighed constantly, two growing children, and a frail old mother tormented by joint pain whenever the seasons shifted.

Ever since his father passed away suddenly from a stroke three years ago, Ngầu had naturally become the sole pillar carrying the entire household. His father left behind a gaping void and a stack of un-matured installment debts. Ngầu felt he had a duty. He no longer had the right to collapse, no longer had the right to cry, and certainly had no right to fail ever again.

Every night upon returning home after grueling hours on the road, looking at the cramped room smelling of medicinal oil and hearing the crying of his children, Ngầu craved someone to talk to, almost to the point of madness.

He yearned for someone to vent all his frustrations to, to complain about how exhausted he was. But looking at his wife—her face gaunt from taking care of the kids while taking in piecework sewing late into the night—Ngầu swallowed his words back down. He couldn't show weakness before his wife. He was "Ngầu," and he had to be tough to the very end.

Inside that pressure cooker of despair, Ngầu lay awake every night, asking himself a hundred "whys":

Why was he as hardworking as an ant, never gambling, drinking recklessly, or squandering money, yet still unable to get rich?

Why did slick-talking opportunists out there effortlessly own grand houses and cars, while he worked himself to death only to wrestle with endless stacks of utility bills?

Why was life so unfair to short men who constantly flexed every muscle to survive like him?

One weekend afternoon, Saigon poured rain once more. Ngầu had just returned from guiding a client to view a stalled land project on the outskirts, soaked through like a drowned rat. His battered Wave motorbike stalled right at the entrance of the alley. Ngầu dragged the bike in sheer rage, punching the handlebars so hard his knuckles bled. He wanted to scream, to curse this cruel life.

He dragged his exhausted body to the doorstep. The small house was dark, with only a warm yellow light emitting from the kitchen.

Ngầu intended to wheel the bike inside and collapse under a blanket, but the moment he crossed the threshold, he froze.

On the small wooden table in the center of the room, a neat dinner was set out beneath a plastic food cover. His mother—sitting on a wooden chair with her swollen joints wrapped in herbal poultices—saw him return and hurriedly pushed off the chair to stand up, her voice trembling:

– "Ngầu, is that you, son? It's pouring out there—why didn't you pull over somewhere to wait it out? I cooked the snakehead fish soup you love; go wash up and eat before it gets cold."

Just then, from the corner of the room, his five-year-old daughter dashed out, wrapping her arms around Ngầu’s soaked leg, looking up with big round eyes:

– "Daddy Ngầu is home! Are you tired, Daddy? Look, I drew a picture of you standing on top of a mountain—is it pretty?"

His ten-year-old son walked out quietly, taking a dry towel from his grandmother's hands and handing it to Ngầu, scratching his head shyly:

– "Wipe your head, Dad, or you'll catch a cold... I washed your bike for you; the spark plug was just dusty, so I wiped it clean."

Ngầu stood paralyzed in the middle of the cramped room. The freezing chill of the rain outside vanished instantly, replaced by a surge of warm heat flooding straight into his chest, stinging his nose.

His wife emerged from the kitchen carrying a basin of warm water. Looking at the bleeding scrape on Ngầu’s hand, she offered no scolding, only saying softly:

– "Sit down here, let me clean that wound for you. As for this month's debts, I just got paid for my sewing work and managed to stretch it to cover half. Stop carrying everything on your own... Whatever comes, we'll shoulder it together."

At that precise moment, a spark lit up inside Ngầu’s mind.

Like a blind man suddenly beholding the sun, Ngầu snapped awake, looking back at his entire life. All this time, he had been tormenting, torturing, and raging against the world because he lacked financial wealth, owned no mansion, and hadn't achieved flashy success on social media. He had always viewed himself as a pathetic failure, a pitiful "Ngầu" forced to trek alone carrying the weight of the world on his short shoulders.

But he was dead wrong.

He was rich. He was infinitely rich in ways he had never realized.

All this time, Ngầu had never allowed himself to rest, never forgiven himself for his own failures. He forced himself to flex, to be "tough," to become an exhausted money-making machine simply to prove to the world that he wasn't weak. He had abused himself with toxic "whys," forgetting that the most precious thing in human existence lies not in bank account digits, but in inner peace and freedom when one learns to cherish what is already right in front of them.

Ngầu took a deep breath. He sat down on the wooden chair, letting his wife gently tend to the wound on his hand while his young daughter snuggled onto his lap.

He smiled softly—a smile no longer tainted by bitterness or arrogance, but a full, gentle smile of a man who had finally found his quiet sanctuary amidst the heart of the city.

Human life drifts like waves on the tide,

Fame and fortune... like clouds side by side.

Release the heart, embrace love and grace,

Peace is found right here in this place...

He was rich. Infinitely rich in ways he had never realized.

Saigon's afternoon rain continued to pour in buckets, slamming down on the canvas awning of the embankment tavern.

Ngầu dropped his cigarette butt, burned down to his fingers, and raised a hand to wave at the server:

– "Hey, check please!"

The rain pattered on, leaving behind a round plastic table bare and desolate—with water pooling around a single bowl, one pair of chopsticks, a half-eaten plate of snacks, and three drained beer bottles.

Ngầu stood up, straightened his raincoat collar, and stepped out of the tavern, merging into the crowd trudging through the Saigon afternoon deluge.


[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...