Chiến Phan

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2026

[Sách] Truyện hư cấu - Jorge Luis Borges


Phú Quốc ngày trở lại đón nó bằng những vết thương chằng chịt trên da thịt của đất. Mặt đất dọc ngang những đại công trường, những chiếc xe chuyên dụng cày xới mọi lối đi, biến một mảnh đất từng hoang vu thành những khối bê tông chực chờ lộ diện. Nơi đây, gần hai năm mươi trước, những mảnh đời xê dịch như nó từng quăng mình lên chiếc giường lạ, ở một khách sạn xa nhà, để thưởng thức bầu không khí trong lành của biển trời, ở một tâm thế "Life for Rent" cùng tiếng hát của Dido. Tự do. Tù tùng. Xa lạ đầy háo hức với tâm tư.

Sau làn sóng đầu tư vội vã, tự phát và chẳng cần quy hoạch của loài Sapiens, giờ đây, để chuẩn bị cho một hội nghị quốc tế lớn, hòn đảo lại bị lật tung lên một lần nữa. Mảng xanh thưa dần, nhường chỗ cho những nét vẽ chằng chịt như một mê cung. Đó cũng chính là thời điểm nó kết thúc chuyến đi dạo cùng Ficciones (Truyện hư cấu) của Jorge Luis Borges. Bản quy hoạch của hòn đảo và thế giới của Borges trùng lập đến lạ kỳ: cả hai đều được xây dựng từ những mảnh ghép hữu hạn nhưng lại có khả năng tạo ra những tổ hợp vô tận của sự hỗn mang.

Nhưng nếu những khối Lego mang lại sự rực rỡ, những đứa trẻ sống lâu bắt đầu tự lắp ráp trên mãnh đất thật, đó là lúc nó chuyện trò lời cuối cùng Borges, sau khi đã ném nó vào một sự hoang mang tột độ. Ông không phải là một người kể chuyện thông thường; ông là một nhà kiến trúc sư của tâm linh, một gã quyền lực của vương quốc tư tưởng. Với tư cách là một nhà bình luận, nó thấy ở Borges một sự thấu cảm nghiệt ngã—ông không xoa dịu nỗi đau nhân sinh bằng những lời đường mật, ông ấp ôm nó bằng sự vô tận của thời gian và không gian.

Khi vũ trụ là một thư viện

Kiệt tác Ficciones (gồm hai phần: Khu vườn của những lối đi rẽ đôiArtificios) tập trung vào những biểu tượng mang tính triết học tối cao: mê cung, thư viện, chiếc gương, và những cuốn sách vô tận.

Trong truyện ngắn kinh điển "Thư viện Babylon", Borges đã dựng lên một vũ trụ dưới hình hài một thư viện lục lăng khổng lồ, chứa đựng tất cả các cuốn sách có thể được viết ra từ sự kết hợp của 25 ký tự. Đó là một "Tài khoản uy tín" của tri thức nhân loại, nhưng cũng là một cái lồng sắt nghẹt thở. Các thủ thư dành cả đời để đi tìm cuốn sách tối cao—cuốn sách giải thích toàn bộ vũ trụ—nhưng họ chỉ tìm thấy sự điên cuồng và quấy rối tinh thần từ những dãy hành lang bất tận.

"Thư viện là vô tận và có chu kỳ. Nếu có một khách lữ hành vĩnh cửu bước qua nó theo bất kỳ hướng nào, ông ta sẽ chứng thực qua các thế kỷ rằng những khối bách khoa toàn thư giống nhau sẽ lặp lại cùng một sự hỗn loạn (mà khi lặp lại, sẽ trở thành một trật tự: một Trật Tự Tối Cao)."

Nhát chạm này khiến nó lạnh người. Đời công bộc hay đời xê dịch của chúng ta chẳng phải cũng là một cuộc tìm kiếm vô vọng trong một thư viện Babylon thu nhỏ đó sao? Chúng ta mải mê đi tìm những mật mã thành công, những hư danh chức sắc, để rồi nhận ra mình chỉ đang lặp lại những lối đi đã được đúc sẵn từ trước, trong một mê cung chằng chịt y hệt các đại công trường ngoài kia.

 "Ts'ui Pên" 

Đến với "Khu vườn của những lối đi rẽ đôi", Borges giới thiệu một cấu trúc thời gian không tuyến tính. Nhân vật Ts'ui Pên đã dành cả đời để làm hai việc: viết một cuốn tiểu thuyết khổng lồ và xây dựng một mê cung vô tận. Cuối cùng, người ta nhận ra cuốn tiểu thuyết và mê cung chính là một. Trong mê cung thời gian của Ts'ui Pên, mọi kết cục đều xảy ra đồng thời. Ở một dòng thời gian này, anh và tôi là kẻ thù; ở một dòng thời gian khác, chúng ta là tri kỷ.

"Không giống như trong các cuốn sách hư cấu thông thường, nơi mỗi khi một người đối mặt với các lựa chọn, anh ta sẽ chọn một và bỏ qua những cái khác; trong cuốn sách của Ts'ui Pên, anh ta chọn—đồng thời—tất cả chúng. Do đó, anh ta tạo ra những tương lai khác nhau, những thời gian khác nhau, chúng cũng phân nhánh và lặp lại."

Đây là một sự gắn kết mang tính vũ trụ. Tư duy phân nhánh này của Borges đã trở thành ngọn nguồn cảm hứng vĩ đại cho rất nhiều bậc thầy nghệ thuật hiện đại. Ta thấy bóng dáng mê cung thời gian của ông trong cấu trúc điện ảnh phức hợp của Christopher Nolan (với InceptionInterstellar), trong những trang viết siêu thực của Haruki Murakami, hay những thước phim đầy ám ảnh của David Lynch.

Borges làm phẳng lại nỗi sợ hãi về sự lựa chọn của con người. Giống như những nhân vật của Kawaguchi phải chấp nhận thực tại bất biến khi tách cà phê nguội đi, thì nhân vật của Borges lại phải học cách chấp nhận sự hiện diện của mình ở mọi phiên bản. Nó tự hỏi: Trên trang giấy nhàu của cuộc đời nó, có bao nhiêu lối đi đã rẽ đôi mà nó đã bỏ lỡ? Và ở một "vùng lạ" nào đó của vũ trụ, liệu nó có đang là một người thầy từ tốn hơn, một gã công bộc chính trực hơn?

Funes Kẻ Nhớ Dai: Bi Kịch Của Một con người có Ký Ức Quá Tải

Nếu trong tập hai của Kawaguchi, ông Fusagi đau đớn vì sự lãng quên của căn bệnh Alzheimer, thì trong truyện ngắn "Funes kẻ nhớ dai", Borges dắt ta đến một cực đoan đối lập: một gã Sapiens không thể lãng quên bất cứ điều gì. Sau một tai nạn, Ireneo Funes có khả năng ghi nhớ từng hình dáng của những đám mây từng trôi qua ba trăm năm trước, từng thớ thịt trên khuôn mặt của một người lạ lướt qua trong một giây.

Nhưng đó không phải là một món quà; đó là sự tiêu trừ nhân tính thầm lặng nhất. Funes bị chôn vùi dưới rác thải của chính ký ức mình. Anh ta không thể tư duy, bởi vì "tư duy là quên đi những khác biệt, là khái quát hóa, là trừu tượng hóa."

"Tôi nghi ngờ liệu anh ta có khả năng tư duy hay không. Trong thế giới quá tải của Funes, không có gì ngoài những chi tiết, những chi tiết gần như trực diện."

Borges soi tỏ một thực tế cay đắng trong "Hình tròn tàn phế" (The Circular Ruins), nơi một pháp sư dành cả đời ở một ngôi đền hoang phế để "mơ" ra một con người. Ông mơ từng thớ thịt, từng nhịp tim, từng lỗ chân lông của đứa con tinh thần, rồi đưa nó vào thế giới thực. Nhưng cuối cùng, khi ngôi đền bị thiêu rụi bởi lửa, ông bước vào ngọn lửa mà không hề bốc cháy. Khoảnh khắc đó, ông vỡ òa nhận ra: chính ông cũng chỉ là một giấc mơ của một kẻ khác.

"Với sự nhẹ nhõm, với sự sỉ nhục, với sự khiếp sợ, ông hiểu rằng ông cũng là một ảo ảnh, rằng một kẻ khác đang mơ về ông."

Phú Quốc của những ngày tháng Năm này, khi cơn gió Tây Nam (gió gió mùa tràn về mang theo những cơn mưa đầu mùa đổ xuống đảo ngọc) bắt đầu thổi, sóng vỗ mạnh vào bờ như muốn đánh tan hồn người bay đi vào cõi hư ảo. 

Thứ gì ở lại thì ở lại. Thường. Như trong mê cung vô tận của Borges hay giữa những công trường ngổn ngang của Phú Quốc, thứ duy nhất có thể định vị một gã Sapiens vốn dĩ phải bàn mãi một căn nguyên.

***



Phú Quốc, upon it's (the character's) return, greets it with crisscrossing wounds on the flesh of the earth. The ground is cut horizontally and vertically by massive construction sites, specialized vehicles plowing through every pathway, transforming a once desolate land into concrete blocks waiting to manifest. Here, nearly two decades ago, wandering souls like it used to throw themselves onto an unfamiliar bed in a hotel far from home, just to savor the fresh atmosphere of the sea and sky, in a "Life for Rent" state of mind accompanied by the vocals of Dido. Freedom. Seclusion. An unfamiliarity filled with eager introspection.

Following the rushed, spontaneous, and unmapped wave of investment by the Sapiens species, the island is now being turned upside down once more to prepare for a major international summit. The green patches thin out, giving way to the intricate lines of a labyrinth. This is also the exact moment it concludes its stroll alongside Ficciones (Fictions) by Jorge Luis Borges. The master plan of the island and the world of Borges overlap with an uncanny resemblance: both are constructed from finite pieces yet possess the capacity to generate infinite combinations of chaos.

But while Lego blocks bring brilliance, and grown-up children begin assembling them on real soil, that is the moment it has its final conversation with Borges, after he has thrown it into a state of utter bewilderment. He is no ordinary storyteller; he is an architect of the soul, a figure of authority in the kingdom of thought. As a commentator, it discerns in Borges a ruthless empathy—he does not soothe human suffering with sweet words; he embraces it with the infinity of time and space.

When the Universe Is a Library The masterpiece Ficciones (comprising two parts: The Garden of Forking Paths and Artificios) focuses on supreme philosophical symbols: the labyrinth, the library, the mirror, and infinite books.

In the classic short story "The Library of Babel," Borges conjures a universe in the shape of a colossal hexagonal library, containing every possible book that can be written from the combination of twenty-five characters. It is a "trusted account" of human knowledge, yet also a suffocating iron cage. The librarians spend their entire lives searching for the total book—the one that explains the whole universe—only to find madness and moral harassment from the endless corridors.

"The Library is unlimited and cyclical. If an eternal traveler were to cross it in any direction, he would look back after centuries to confirm that the same volumes were repeated in the same disorder (which, when repeated, would become an order: the Absolute Order)."

This touch sends a chill down its spine. Is our life as a public servant or a traveler not just a futile search within a miniature Library of Babel? We are preoccupied with seeking the passcodes of success and empty official titles, only to realize we are merely repeating paths that have already been molded before, inside a labyrinth as tangled as the massive construction sites out there.

"Ts'ui Pên" Coming to "The Garden of Forking Paths," Borges introduces a non-linear temporal structure. The character Ts'ui Pên dedicated his entire life to two tasks: writing a vast novel and constructing an infinite labyrinth. Ultimately, it is revealed that the novel and the labyrinth are one and the same. Within Ts'ui Pên’s labyrinth of time, all outcomes occur simultaneously. In one timeline, you and I are enemies; in another, we are soulmates.

"In contrast to those of easily imaginable fiction, whenever a man is faced with alternatives, he chooses one and eliminates the others; in the fiction of Ts'ui Pên, he chooses—simultaneously—all of them. He creates, in this way, diverse futures, diverse times which themselves also proliferate and fork."

This is a cosmic bond. This branching mindset of Borges became the great wellspring of inspiration for many modern masters of art. We see the shadow of his temporal labyrinth in the complex cinematic structures of Christopher Nolan (with Inception and Interstellar), in the surreal writings of Haruki Murakami, or the haunting films of David Lynch.

Borges flattens the human fear of choice. Much like Kawaguchi’s characters must accept the immutable present once the coffee grows cold, Borges’ characters must learn to accept their presence in every version. It asks itself: On the crumpled pages of its own life, how many forking paths has it missed? And in some "strange zone" of the universe, is it perhaps a more deliberate teacher, a more righteous public servant?

Funes the Memorious: The Tragedy of a Man with an Overloaded Memory If in Kawaguchi’s second volume, Mr. Fusagi suffers from the forgetfulness of Alzheimer’s disease, then in the short story "Funes the Memorious," Borges leads us to the opposite extreme: a Sapiens who cannot forget anything. Following an accident, Ireneo Funes is capable of remembering the exact shape of the clouds that drifted by three hundred years ago, every line on the face of a stranger who brushed past for a single second.

Yet, this is no gift; it is the most silent diminishment of humanity. Funes is buried beneath the garbage of his own memory. He cannot think, because "to think is to forget differences, to generalize, to abstract."

"I suspect that he was not very capable of thought. In the overly replete world of Funes, there were nothing but details, almost immediate details."

Borges illuminates a bitter reality in "The Circular Ruins," where a wizard spends his entire life in a ruined temple to "dream" a man into existence. He dreams every fiber of flesh, every heartbeat, every pore of his spiritual child, and then brings him into the real world. But in the end, when the temple is consumed by fire, he walks into the flames without burning. In that instant, it dawns on him with absolute shock: he too is merely someone else’s dream.

"With relief, with humiliation, with terror, he understood that he too was a mere appearance, that another man was dreaming him."

In these days of May in Phú Quốc, as the Southwest wind (the monsoon sweeping in, bringing the first rains of the season down upon the pearl island) begins to blow, the waves crash violently against the shore as if trying to scatter the human soul into the illusory realm.

Whatever stays, stays. As usual. Whether within the infinite labyrinth of Borges or amidst the messy construction sites of Phú Quốc, the only thing that can locate a Sapiens is something whose root cause must be discussed forever.


Thứ Hai, 11 tháng 5, 2026

[Story] Gió về miền Trung (3) - Từ Đường - THE CENTRAL WINDS (3) – THE ANCESTRAL HALL


Huế năm 1963.

Bầu trời sau lễ tang của Mệ không xanh ngắt như màu hy vọng, mà đục ngầu một màu chì nặng nề, tựa như lòng người đang bị bóp nghẹt bởi những toan tính vô hình. Gió từ sông Hương thốc lên, mang theo hơi lạnh của nước và mùi nhang tàn ngai ngái, thổi tạt qua dãy hành lang dài của từ đường họ Phan.

Trên chiếc phản gỗ trắc bóng loáng giữa trung đường, một cuộc họp gia tộc bắt đầu khi nấm đất trên mộ Mệ còn chưa kịp khô. Không khí đặc quánh sự thù địch. Mụ Nuôi ngồi ở góc dưới, bàn tay vẫn ghì chặt túi áo nơi chùm chìa khóa đang im lìm nằm đó—thứ kim loại lạnh lẽo chứa đựng cả một gia sản khổng lồ và những bí mật rợn người của hai dòng họ Phan - Nguyễn.

Đối diện bà là mụ Cả. Mụ Cả không ngồi, mụ đứng, tay chống nạnh, tà áo dài màu tím hoa cà rung rinh theo nhịp thở gấp gáp của một kẻ đang thèm khát quyền lực. Mụ Cả có một thứ vũ khí mà mụ tin là bách chiến bách thắng: thằng Cả – đích tôn đời thứ tư của dòng họ.

"Thưa các chú, các bác, thưa cậu Biền," mụ Cả cất giọng, âm thanh sắc mỏng như lá lúa cắt vào không gian. "Mệ nằm xuống rồi, gia phong phải có người giữ, đất đai phải có người trông. Chồng tui và chồng thím Nuôi đang ngoài chiến trường, sống chết chưa rõ, nhưng thằng đích tôn nhà tui thì đã đủ tuổi trưởng thành. Cổ nhân dạy 'Trưởng nam hữu phần', không lẽ giờ để một người đàn bà không rõ gốc gác, lại là dâu thứ, nắm giữ chìa khóa rương hòm?"

Cậu Biền – người giữ sổ bộ dòng họ, gương mặt khắc khổ như được tạc từ một khối đá già – bắt đầu giở cuốn sổ da dê cũ kỹ. Cậu Biền không nhìn ai, chỉ lầm lũi chấm ngọn bút lông vào nghiên mực, đối diện với những nét chữ Hán Nôm ghi lại gia phả của dòng họ. Tiếng sột soạt của giấy tờ hòa cùng tiếng đàn tranh từ bên kia sông vọng lại, nghe xa xăm mà đau đớn như tiếng khóc của một linh hồn chưa được siêu thoát.

"Theo sổ bộ," cậu Biền trầm giọng, "Chi trưởng Phan Văn là người thừa kế chính thức. Nhưng..."

"Không nhưng nhị gì hết!" mụ Cả cắt ngang, mắt lườm mụ Nuôi cháy lửa. "Thím Nuôi à, thím nên biết thân biết phận. Ba thím bỏ mẹ thím đi lấy vợ bé, mẹ thím cũng đi bước nữa, thím sống nhờ cơm thừa canh cặn của ông ngoại thì hiểu gì về nề nếp gia phong họ Phan này mà đòi giữ sổ đỏ, giữ chìa khóa?"

Mụ Nuôi vẫn lặng im. Gương mặt bà tĩnh lặng như mặt nước giếng sâu, nhưng bên trong là một cơn bão đang gào thét. Bà nhớ về những ngày thơ bé, khi đứng nép sau cánh cửa nhìn ba mình xách tráp bỏ đi, nhớ cái mùi bùn đất dưới chân ông ngoại khi ông dắt bà đi qua những cánh đồng hạn mặn. Bà không có sự kiêu hãnh của một dòng máu thuần khiết, nhưng bà có sự kiên cường của một nhành cỏ dại đã nếm đủ đắng cay để biết cách bám rễ thật sâu vào lòng đất. 


Ký ức về tuổi thơ trong bà chỉ còn sót lại duy nhất một mảnh vỡ rướm máu: đó là lần cuối cùng bà đi cúng chạp Ôn.

Ngày ấy, bà xách theo con gà – thứ tài sản quý giá và duy nhất của hai mẹ con – lầm lũi vượt qua những triền núi âm u, nơi người ta vẫn rỉ tai nhau về những gã “ông Hùm” chuyên rình rập ăn thịt người. Bà đi bằng nỗi sợ át cả hơi thở, đôi chân bé xíu bấm chặt vào đá sỏi, chỉ mong kịp thắp nén nhang cho nguồn cội. Nhưng khi bà trở về đến nơi, phố xá đã tối mịt, căn nhà của cha bà cũng im lìm một cách tàn nhẫn.

Đứng trước cánh cửa gỗ đóng then cài chặt chẽ, bà thấy mình như một kẻ lạ mặt bị xua đuổi khỏi chính dòng máu của mình. Không có tiếng gọi, không có ánh đèn nào thắp lên cho đứa con xa xứ. Bà đứng đó, lặng lẽ để những giọt nước mắt lăn dài trên đôi má nhem nhuốc bụi đường, nóng hổi và đắng ngắt. Đó không chỉ là lần cuối cùng bà gặp cha, mà còn là khoảnh khắc bà hiểu rằng, từ nay về sau, cánh cửa mang tên "Gia đình" đã vĩnh viễn khép lại, để mặc bà tự sinh tự diệt giữa cuộc đời lộng gió.

Cái giá của sự trưởng thành năm ấy, chính là sự ruồng bỏ của người thân. 

Ngoài trời, nắng gắt bỗng tắt lịm. Một đám mây đen kịt từ phía núi Ngự Bình kéo về, nhanh đến mức không ai kịp trở tay. Bầu trời như bị rạch toạc bởi một tia chớp tím tái, và rồi, mưa đổ xuống. Trận mưa rả rích, rát buốt, đập liên hồi vào những cánh cửa gỗ mộc mạc của từ đường.

Tiếng nhạc phát ra từ chiếc đĩa hát cũ kỹ trong góc phòng, một bản hò mái nhì nghe như tiếng thở dài của Huế: "Nước chảy xuôi, con cá lội ngược dòng... Người đi để lại nỗi lòng cho ai..."

Nhã nhạc và những quân bài ngửa

Mụ Cả tưởng rằng sự hiện diện của đích tôn và cuốn sổ bộ của cậu Biền đã dồn mụ Nuôi vào chân tường. Nhưng mụ đã lầm. Mụ Nuôi không chỉ có chùm chìa khóa; mụ có cả sự thấu thị mà những kẻ tham lam không bao giờ có được.

Một tuần trước khi hơi tàn lực kiệt, Mệ gọi bà vào phòng. Trong không gian đặc quánh mùi thuốc Bắc và hơi hướm của sự lìa bỏ, Mệ nắm lấy tay mụ Nuôi – người đàn bà đã vì dòng họ Phan mà khai hoa nở nhụy đến ba đứa con trai thừa tự. Với Mệ, đó là cái ơn đức lớn nhất mà mụ Nuôi mang lại. Mụ vẫn chẳng thể quên cái ngày thằng Tư chào đời, Mệ đã mừng đến run rẩy, đốt cháy gần cả bó nhang to rồi chạy bổ ra giữa sân, quỳ sụp xuống vái lạy tổ tiên, cảm tạ trời đất đã không tuyệt đường hương hỏa nhà họ Phan.

Nhưng giữa những hơi thở thoi thóp, đứt quãng, Mệ bắt đầu trút bỏ gánh nặng cuối cùng của tâm hồn mình sang vai bà. Mệ thú nhận về nỗi ân hận muộn màng khi chính tay Mệ đã thúc ép con trai mình bước vào một cuộc hôn nhân sắp đặt, vây hãm đời ông trong nếp nhà gia phong cứng nhắc. Mệ đâu có ngờ, trái tim gã đàn ông ấy đã sớm thuộc về mảnh đất Quảng Trị gió Lào cát trắng, nơi có một cô gái bán hàng cơm đon đả, người từng là tâm điểm săn đón của biết bao đám lính Tây, lính Cộng Hòa.

Trớ trêu thay, người đàn bà phong trần ấy lại chính là hôn thê bí mật, là vợ của một thằng "Việt cộng" – đứa con trai mà Mệ đã bặt tin từ lâu. Mệ không hề biết rằng, đằng sau sự áp đặt của bà, họ đã kịp trao nhau những lời thề thốt, những tín ước da thịt nồng cháy. Đứa con trai đầu lòng – kết tinh của một tình yêu – đã hình thành trong bóng tối của chiến tranh, như một mầm sống vươn lên giữa sự rạn nứt của những định kiến gia đình. Đâu hay, ở nhà, Ôn và Mệ đã sắp đặt cho người đàn ông của mụ Nuôi một lễ cưới khác, thứ tự bị đảo lộn. 

Lời tự sự của Mệ như một làn gió chướng thổi qua lòng mụ Nuôi, để lại sự bàng hoàng và cả một nỗi xót xa vô hạn cho những thân phận bị vò nát giữa thời cuộc và những lời thề nguyền dang dở.

Mệ run rẩy rút từ dưới lớp gối kê đầu một bọc vải điều đã bạc màu sương khói. Bên trong là chùm chìa khóa đồng nặng trịch, mòn nhẵn vì hơi ấm bàn tay, cùng một xấp giấy tờ đất đai được gói ghém kỹ lưỡng bằng nhiều lớp nilon để chống lại cái ẩm ương của đất trời xứ Huế.

Mệ nắm lấy bàn tay thô ráp của mụ Nuôi, đặt bọc vải vào đó, rồi ghì chặt lại như thể đang truyền đi tất cả chút sinh lực cuối cùng. Ánh mắt Mệ, vốn đã đục mờ vì thời gian, bỗng lóe lên một tia sáng sắc lẹm, đầy vẻ tỉnh táo đến đáng sợ trước giờ lâm chung.

"Nuôi à," giọng Mệ khàn đặc, thoi thóp như tiếng lá khô cọ vào nhau, "chìa khóa này là giữ lấy gốc rễ, giấy tờ này là giữ lấy danh dự. Đừng để tụi nó xâu xé. Mụ Cả có con trai đích tôn thật đó, nhưng cái tâm của nó bị đồng tiền của họ Trần làm mờ mắt rồi. Đất đai nhà mình, từng tấc một đều có máu và mồ hôi của Ôn, của chồng con... con phải giữ cho đến khi nó về."

Mệ dừng lại để hít một hơi nhọc nhằn, đôi môi khô khốc mấp máy:

"Sắp tới, nhà mình sẽ có bão…nhớ… có bão… Không chỉ bão ngoài biển thổi vào, mà là bão trong lòng người. Tụi nó sẽ dùng đủ mọi cách: từ lời ra tiếng vào về gốc gác của con, cho đến việc lôi kéo cậu Biền để sửa sổ bộ. Thậm chí... chúng nó sẽ không ngại vứt bỏ cả nghĩa tình để chiếm lấy quyền thừa tự. Con là dâu thứ, lại thân cô thế cô, nhưng Mệ giao cái này cho con vì Mệ biết con là nhành cỏ gấu, dù bị giẫm đạp bao nhiêu vẫn sẽ xanh lại khi có giọt mưa đầu mùa. Đừng tin ai hết, kể cả người nhà mình, trừ khi con thấy được cái tín vật mà thằng Cả (chồng mụ Nuôi) đã mang đi ngày ấy."

Mụ Nuôi quỳ sụp xuống bên cạnh giường, hơi lạnh từ chùm chìa khóa đồng như thấm vào từng thớ thịt, lan tận vào tim. Bà cảm nhận được sức nặng nghìn cân của một gia tộc đang đặt lên đôi vai gầy guộc của mình.

"Mệ ơi, con hiểu rồi..." Bà thì thầm, nước mắt trào ra, nóng hổi rơi lên đôi bàn tay héo hắt của người đàn bà quyền lực nhất dòng họ Phan một thời.

Ngoài kia, tiếng chuông chùa Thiên Mụ vọng lại từ phía hạ nguồn sông Hương, nghe xa xăm và tịch mịch. Bầu trời Huế lúc ấy bỗng nhiên chuyển sang một màu xám bạc kỳ lạ, những đám mây u uất kéo về như muốn chứng giám cho một cuộc chuyển giao âm thầm nhưng đầy sóng gió.

Mụ Nuôi biết, khi cánh cửa phòng này mở ra, bà sẽ không còn là người đàn bà lam lũ chỉ biết quanh quẩn xó bếp nữa. Bà đã chính thức bước vào cuộc chiến giữa những người lạ cùng chung một mái nhà, nơi bạo lực tinh thần đôi khi còn sắc lẹm hơn cả gươm giáo. Bà đứng dậy, cất bọc vải vào túi áo trong, siết chặt lấy chùm chìa khóa.

Đêm đó, Huế bắt đầu trút xuống những cơn mưa rả rích, li ti nhưng lạnh thấu xương. Tiếng mưa đập vào lớp cửa kính mờ đục sương muối, như báo hiệu cho một chương mới đầy bão tố của cuộc đời bà và cả một dòng họ đang đứng trước bờ vực của sự rạn nứt.

Một tuần sau, giữa không gian huyền ảo của buổi trình diễn Nhã nhạc cung đình tại một phủ đệ kín đáo, nơi âm thanh của dàn đại nhạc đang đẩy cảm xúc của những người có mặt lên đến đỉnh điểm, mụ Nuôi đã có một cuộc gặp gỡ định mệnh.

Người ngồi đối diện bà là cụ Thượng thư Bộ Lễ – một trong những nhân vật có tầm ảnh hưởng chính trị sâu rộng thời bấy giờ, người bạn tâm giao cũ của Ôn (chồng của Mệ).

"Mụ Nuôi à," cụ Thượng thư nhấp chén trà sen, mắt nhìn ra màn mưa trắng xóa ngoài sân phủ, "Họ Trần đang dùng quan hệ với chính quyền để hợp thức hóa việc chiếm đất của dòng họ Nguyễn. Mụ Cả thì lại đang bắt tay với họ Trần để đổi lấy vị trí đích tôn cho con trai. Mụ định làm gì?"

Mụ Nuôi cúi đầu, giọng bà nhẹ nhưng đanh thép: "Bẩm cụ, họ Phan và họ Nguyễn có thể tranh chấp, nhưng đất đai của tổ tiên thì không thể để rơi vào tay người ngoài. Mụ Cả nghĩ mụ có con trai là có tất cả, nhưng mụ quên rằng chính Mệ đã tự tay viết một bản di chúc khác, có dấu ấn của phủ Thừa Thiên, khi mụ Cả còn đang mải mê sắm sửa áo dài ở chợ Đông Ba."

Hóa ra, mụ Nuôi đã chuẩn bị từ rất lâu. Bà biết mụ Cả sẽ lôi kéo cậu Biền để sửa sổ bộ, nên bà đã âm thầm nhờ người chú họ xa làm việc trong Ty điền địa để xác minh lại toàn bộ ranh giới. Bà biết mụ Cả sẽ dùng áp lực "thừa tự", nên bà đã nắm giữ một bí mật động trời: thằng đích tôn mà mụ Cả tôn thờ thực chất không phải là cốt nhục của dòng họ Phan, mà là kết quả của một lần "vụng trộm" khi chồng mụ đi vắng những ngày đầu kháng chiến.

Trong không gian sang trọng của phủ đệ, tiếng đàn tỳ bà trỗi lên dồn dập như tiếng vó ngựa, mụ Nuôi lôi từ trong túi áo ra một tờ giấy có chữ ký của Mệ và dấu mộc đỏ chói. Đó là tờ giấy trao quyền quản lý toàn bộ tài sản cho bà cho đến khi chồng bà trở về, với điều kiện bà phải giữ được đất không bị họ Trần lấn chiếm.

Trận mưa bên ngoài ô cửa kính lúc này đã đạt đến đỉnh điểm. Nước mưa tuôn xối xả, làm nhòa đi những lăng tẩm phía xa, khiến thành phố mù sương trở nên đơn độc lạ kỳ. Linh cảm thấy một sự đối nghịch mãnh liệt: bên trong là tiếng nhạc du dương, quý phái của cung đình, bên ngoài là sự gào thét của thiên nhiên và những toan tính trần trụi của con người.

Khi mụ Cả mang đám con cái cùng cậu Biền đến đòi giao chìa khóa lần cuối, mụ Nuôi chỉ thong thả đặt tờ giấy của cụ Thượng thư lên bàn.

"Chị Cả à," mụ Nuôi nói, mắt nhìn thẳng vào mụ Cả, không hề né tránh. "Chị muốn con chị làm đích tôn, tôi không cấm. Nhưng để quản lý đất đai này, chẳng phải cần một trái tim trung trinh với tổ tiên, giữ gìn từng tấc đất cho dòng họ, nơi thờ tự và con cháu biết đường quay về sau này sao. Chị đã gặp ông Trần ở bến phà tuần trước, tôi biết. Chị định bán khu vườn Kim Long để đổi lấy danh phận cho con chị, tôi cũng biết."

Mụ Cả tái mặt, đôi môi tím tái vì run sợ và nhục nhã. Cuốn sổ bộ trên tay cậu Biền bỗng rơi xuống đất, trang giấy dính nước mưa vấy bẩn những dòng chữ vừa được sửa chữa.

Mụ Nuôi đứng dậy, dáng người nhỏ nhắn nhưng kiên định như một ngọn hải đăng trước sóng dữ. Bà bước ra khỏi từ đường, mặc kệ màn mưa trắng xóa. Bà biết, trận chiến này chỉ mới là bắt đầu. Chồng bà vẫn biệt tích, họ Trần vẫn còn đó, và cơn bão gia phong sẽ còn cuốn đi nhiều thứ nữa.

Nhưng, như lời bài hát "Diễm xưa" của Trịnh Công Sơn vừa thoảng qua từ chiếc radio nhà bên: "Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động... Làm sao em biết bia đá không đau?"

Bia đá có thể đau, nhưng người đàn bà miền Trung này thì không cho phép mình gục ngã. Bà tựa như cây ngô đồng giữa hoàng thành cổ kính, dẫu trải qua bao mùa gió bão gầm rít, vẫn kiêu hãnh đâm chồi, giữ trọn vẻ thanh cao và sắc tím thủy chung trước sự tàn phá của thời gian. Bà là người đàn bà ở đầu sóng, canh giữ những giá trị cuối cùng của một thời đại đang dần tan vỡ. 

Mụ Nuôi ngắm nhìn dòng nước đang trôi lững lờ, về phía mãnh đất chôn cất của dòng họ, mây bay trên đầu như kết tinh thành ảnh hình của Mệ. Nở một nụ cười mãn nguyện và lập lại lời: Sắp tới, nhà mình sẽ có bão…nhớ… có bão…

***

Hue, 1963.

The sky following Mệ’s funeral was not the vibrant blue of hope, but a heavy, leaden grey, as if human hearts were being stifled by invisible schemes. Winds from the Huong River surged up, carrying the chill of the water and the pungent scent of dying incense, sweeping through the long corridors of the Phan family’s ancestral house.

On the polished rosewood platform in the central hall, a clan meeting commenced while the earth on Mệ’s grave was still fresh. The air was thick with hostility. Mụ Nuôi sat in the lower corner, her hand still clutched tightly over her pocket where a cluster of keys lay silent—cold metal containing a vast estate and the chilling secrets of the two lineages, Phan and Nguyen.

Facing her was Mụ Cả. She did not sit; she stood with hands on hips, her mauve ao dai trembling with the hurried breaths of someone thirsting for power. Mụ Cả possessed a weapon she believed to be invincible: Thằng Cả—the fourth-generation eldest grandson of the lineage.

"Uncles, elders, and Cậu Biền," Mụ Cả began, her voice as sharp as a blade of grass cutting through the air. "Mệ has passed; the family tradition must be upheld, and the lands must be watched. My husband and Thím Nuôi’s husband are away at the front, their fate unknown, but my eldest son has come of age. The ancients taught, 'The eldest son takes his share.' Can we allow a woman of unknown origin, a secondary daughter-in-law, to hold the keys to the family coffers?"

Cậu Biền—the keeper of the clan’s registry, his face as haggard as if carved from ancient stone—began to open the old parchment ledger. He looked at no one, silently dipping his brush into the ink slab, facing the Hán-Nôm characters that recorded the family genealogy. The rustle of paper mingled with the distant sound of a zither drifting from across the river, sounding far-off yet painful, like the cry of an un-liberated soul.

"According to the registry," Cậu Biền said in a low voice, "the eldest branch, Phan Văn, is the official heir. But..."

"No 'buts'!" Mụ Cả interrupted, her eyes burning as she glared at Mụ Nuôi. "Nuôi, you should know your place. Your father abandoned your mother for a concubine, and your mother remarried. You lived on the scraps of your grandfather; what do you know of the Phan family’s traditions that you dare hold the titles and the keys?"

Mụ Nuôi remained silent. Her face was as still as deep well water, but inside, a storm was howling. She remembered her childhood, peering from behind a door as her father carried his chest away; she remembered the smell of mud under her grandfather's feet as he led her through salt-parched fields. She lacked the pride of pure blood, but she possessed the resilience of a wild weed that had tasted enough bitterness to root itself deep into the earth.

Her childhood memories held only one blood-stained fragment: the last time she went to perform the ancestral rites for Ôn.

That day, she carried a chicken—the only and most precious asset of her and her mother—plodding through gloomy mountains where legends of man-eating tigers lurked. She walked with a fear that stifled her breath, her tiny feet gripping the gravel, hoping only to light a stick of incense for her roots. But when she returned, the streets were pitch black, and her father’s house was cruelly silent.

Standing before the bolted wooden door, she felt like a stranger exiled from her own bloodline. No voice called out; no lamp was lit for the wandering child. She stood there, silently letting hot, acrid tears stream down her dust-stained cheeks. That was not only the last time she saw her father, but also the moment she realized that from then on, the door named "Family" had closed forever, leaving her to survive alone in a wind-swept life.

The price of growing up that year was the abandonment by her kin.

Outside, the harsh sun suddenly vanished. A dark cloud surged from Ngự Bình mountain, so fast that no one could react. The sky seemed ripped open by a purple flash of lightning, and then, the rain fell. A persistent, stinging rain hammered against the rustic wooden doors of the ancestral hall.

Music drifted from an old gramophone in the corner—a hò mái nhì folk song that sounded like the sigh of Hue: "The water flows downstream, the fish swims against the current... He who leaves, for whom does he leave this heavy heart?"

Part 2: Court Music and the Final Hand

Mụ Cả thought the presence of the eldest grandson and Cậu Biền’s ledger had backed Mụ Nuôi into a corner. But she was wrong. Mụ Nuôi held more than just a cluster of keys; she possessed a foresight that the greedy could never grasp.

A week before her strength failed, Mệ called her into the room. In a space thick with the scent of traditional medicine and the aura of departure, Mệ grasped the hand of Mụ Nuôi—the woman who had bore the Phan lineage three male heirs. To Mệ, this was the greatest merit Mụ Nuôi had brought. Mụ Nuôi could never forget the day her fourth son was born; Mệ had trembled with joy, lighting a whole bundle of incense and running into the yard to prostrate before the ancestors, thanking heaven and earth for not severing the Phan family’s lineage.

But amidst her gasping, fragmented breaths, Mệ began to transfer the final burden of her soul onto Mụ Nuôi’s shoulders. Mệ confessed her belated regret for forcing her son into an arranged marriage, imprisoning his life in rigid traditions. Mệ never knew that his heart had long belonged to the white sands and dry winds of Quang Tri, to a nimble girl selling rice who was once the center of attention for Western and Republican soldiers alike.

Ironically, that worldly woman was his secret fiancée—the wife of a "Viet Cong"—the son Mệ had heard nothing from for years. Mệ had no idea that behind her imposition, they had exchanged vows and passionate tokens of flesh. Their firstborn son—the fruit of love—had formed in the shadows of war, like a sprout rising through the cracks of family prejudice. Little did she know that at home, Ôn and Mệ had arranged a different wedding for Mụ Nuôi’s man, turning the natural order upside down.

Mệ’s confession was like a gale blowing through Mụ Nuôi’s heart, leaving behind a profound shock and infinite sorrow for fates crushed by the times and broken vows.

...

Mệ tremblingly pulled a bundle of red cloth, faded by time, from beneath her pillow. Inside was a heavy cluster of brass keys, worn smooth by the warmth of hands, alongside a stack of land deeds carefully wrapped in layers of plastic to withstand the dampness of Hue.

Mệ took Mụ Nuôi’s rough hand, placed the bundle in it, and squeezed tight as if transferring her final spark of life. Mệ’s eyes, blurred by time, suddenly flashed with a sharp, terrifyingly lucid light in her final hour.

"Nuôi," Mệ’s voice was raspy, gasping like dry leaves rubbing together, "these keys are to keep the roots; these papers are to keep the honor. Don’t let them tear it apart. Mụ Cả has an eldest grandson, it's true, but his heart is blinded by the Trần family’s money. Our land—every inch of it—holds the blood and sweat of Ôn and your husband... you must keep it until he returns."

Mệ paused for a laboured breath, her dry lips quivering:

"Soon, a storm will come to this house... remember... a storm. Not just a storm blowing in from the sea, but a storm within human hearts. They will use every means: from rumors about your origin to swaying Cậu Biền to alter the registry. They will not even hesitate to discard all sentiment to seize the inheritance. You are a secondary daughter-in-law, alone and without support, but I entrust this to you because I know you are like nutgrass; no matter how much you are trampled, you will turn green again with the first rain of the season. Trust no one, not even our own kin, unless you see the token that thằng Cả (Mụ Nuôi's husband) took with him that day."

Mụ Nuôi collapsed by the bed, the coldness of the brass keys seeping into her flesh, reaching her heart. She felt the thousand-pound weight of a clan being placed upon her frail shoulders.

"Mệ, I understand..." she whispered, tears falling hot onto the withered hands of the woman who was once the most powerful in the Phan lineage.

Outside, the bell of Thien Mu Pagoda echoed from downstream, sounding distant and solitary. The Hue sky suddenly turned a strange silver-grey, as mournful clouds gathered to witness a silent yet tumultuous transition.

Mụ Nuôi knew that when the door to this room opened, she would no longer be the hardworking woman confined to the kitchen. She had officially entered a war among strangers living under the same roof, where mental violence could sometimes be sharper than swords. She stood up, tucked the bundle into her inner pocket, and gripped the keys tight.

That night, Hue began to pour a persistent, tiny, yet bone-chilling rain. The rain hammered against the misty, salt-frosted glass, signaling a new, stormy chapter for her life and a clan standing on the brink of fracture.

...

A week later, amidst the mystical atmosphere of a Court Music performance at a secluded mansion, where the sounds of the grand orchestra pushed the emotions of those present to a peak, Mụ Nuôi had a fateful encounter.

The person sitting across from her was the Minister of Rites—a figure of profound political influence at the time and an old confidant of Ôn.

"Mụ Nuôi," the Minister sipped his lotus tea, eyes fixed on the white rain outside the courtyard, "The Trần family is using their government ties to legalize the seizure of the Nguyễn family’s land. Mụ Cả, in turn, is shaking hands with them to secure the position of eldest grandson for her son. What do you intend to do?"

Mụ Nuôi bowed her head, her voice soft but steely: "Respected Elder, the Phan and Nguyễn families may dispute, but the land of the ancestors must not fall into the hands of outsiders. Mụ Cả thinks having a son is everything, but she forgets that Mệ herself wrote another will, sealed by the Hue Prefecture, while Mụ Cả was busy shopping for ao dais at Dong Ba Market."

It turned out that Mụ Nuôi had been preparing for a long time. She knew Mụ Cả would sway Cậu Biền to alter the ledger, so she had secretly asked a distant uncle in the Land Registry to verify all boundaries. She knew Mụ Cả would use the pressure of "inheritance," so she held a shocking secret: the eldest grandson Mụ Cả worshiped was not actually of Phan blood, but the result of an "affair" while her husband was away during the early days of the resistance.

In the luxurious space of the mansion, the sounds of the pipa rose urgently like galloping horses. Mụ Nuôi pulled a paper from her pocket with Mệ’s signature and a bright red seal. It was the document granting her full management of the estate until her husband’s return, on the condition that she protect the land from the Trần family’s encroachment.

The rain outside the window reached its climax. It poured relentlessly, blurring the distant tombs, making the misty city feel strangely lonely. There was a fierce contradiction: inside, the melodious, noble court music; outside, the roar of nature and the raw schemes of man.

When Mụ Cả brought her children and Cậu Biền to demand the keys for the final time, Mụ Nuôi leisurely placed the Minister’s paper on the table.

"Sister Cả," Mụ Nuôi said, looking directly at her without flinching. "I don't forbid your son from being the eldest grandson. But to manage this land, does one not need a heart loyal to the ancestors—to guard every inch of the lineage’s land, a place of worship where descendants know how to return? You met Mr. Trần at the ferry last week; I know. You intended to sell the Kim Long garden to buy a status for your son; I know that too."

Mụ Cả turned pale, her lips purple with fear and shame. The ledger in Cậu Biền’s hand suddenly hit the floor, its pages stained by rainwater, blurring the freshly altered words.

Mụ Nuôi stood up, her small figure as steadfast as a lighthouse before a violent sea. She walked out of the ancestral hall, ignoring the white rain. She knew this battle was only the beginning. Her husband was still missing, the Trần family was still there, and the family storm would sweep away many more things.

But, as the lyrics of Trịnh Công Sơn’s "Diễm xưa" drifted from a neighbor’s radio: "The rain still falls for a turbulent life... How do you know the stone tablet does not ache?"

The stone may ache, but this woman of the Central Region would not allow herself to fall. She was like a Firmiana tree amidst the ancient imperial city; though having weathered countless storms, she still proudly budded, preserving her nobility and loyal purple hue against the ravages of time. She was the woman at the crest of the wave, guarding the final values of a fading era.

Mụ Nuôi watched the water flowing slowly towards the family burial grounds, the clouds above coalescing into the image of Mệ. She wore a satisfied smile and repeated the words: Soon, a storm will come to this house... remember... a storm...


[Sách] Tục lên đồng và lễ gọi hồn của người Việt - Kiều Thu Hoạch

“Bà ơi, có khách!”. Tiếng đứa trẻ vọng từ đầu cổng nhà. Khách đến là một người phụ nữ trung niên, dắt theo bé trai tầm tám tuổi phờ phạc sau chặng đường xa. Người đàn bà vận áo bà ba, bỏ dở mâm cơm, tiến vào gian thờ thắp nén nhang, cấm cây nhang vào bát nhang đặt trước mặt mình. Khách nói người muốn gặp là chồng mình, là cha đứa trẻ. 

Sau giây phút gục xuống, người đàn bà ngẩng mặt, cầm điếu thuốc hút – một hình ảnh lạ lẫm, bởi đứa bé ấy sau này lớn khôn, nghe bà kể lại rằng cha mình khi còn sống chưa bao giờ hút thuốc. Đó là lần đầu tiên nó tiếp xúc với một tập tục "lên đồng" 

 Đứa bé trai ngày ấy giờ đã trưởng thành, đi tìm lời giải trong công trình của GS.TS Kiều Thu Hoạch: "Tục lên đồng và lễ gọi hồn của người Việt".

Trong công trình này, Kiều Thu Hoạch tập trung vào hai mảng miếng lớn nhất của đời sống tâm linh người Việt: Sự thăng hoa (Lên đồng)Sự an ủi (Gọi hồn).

1. Lên đồng: Một loại hình "Nghệ thuật tổng hợp" đặc thù

Tác giả khẳng định Lên đồng không đơn thuần là một nghi thức tôn giáo. Nó là một loại hình diễn xướng dân gian độc đáo, nơi con người đóng vai "trung gian" để kết nối với cõi thánh.

  • Cấu trúc của một giá đồng: Kiều Thu Hoạch phân tích rất kỹ sự kết hợp giữa âm nhạc (Hát văn), vũ đạo (chuyển động tay chân, điệu múa mồi, múa kiếm)phục sức (hệ thống khăn chầu áo ngự).

  • Nhân vật Thanh đồng: Họ là những người "bắc ghế" cho thánh ngự. Khi đó, họ không còn là chính mình mà trở thành hóa thân của các vị anh hùng, những người có công với dân với nước.

"Lên đồng là một hiện tượng văn hóa đa diện, ở đó âm nhạc, vũ điệu và trang phục không chỉ phục vụ nghi lễ, mà còn tạo ra một không gian thẩm mỹ đặc biệt giúp người tham gia giải tỏa những ẩn ức tâm lý của đời thường."

2. Ý nghĩa của các "Giá đồng" - Những nhát chạm vào lịch sử

Nội dung sách soi tỏ rằng mỗi giá đồng là một trang sử được kể bằng cảm xúc. Người Việt không chỉ thờ những thế lực siêu nhiên vô hình; họ thờ những con người có thực được thần thánh hóa.

  • Qua cách tác giả miêu tả các giá ông Hoàng, giá Chầu bà, ta thấy được sự trân trọng của cha ông đối với thiên nhiên và những người có công. Đó là cách người Việt thể hiện lòng biết ơn vào dòng chảy thời gian.

"Trong điện thần của người Việt, ranh giới giữa người và thần thường mờ nhạt. Thần linh ở đây vốn là những người có công với dân, với nước, được cộng đồng hóa thân thành bất tử qua các nghi thức diễn xướng."

3. Lễ gọi hồn: Liệu pháp "Tạ từ" muộn màng

Nếu Lên đồng là sự rực rỡ, thì lễ Gọi hồn lại là sự trầm mặc. Kiều Thu Hoạch nghiên cứu nó dưới góc độ dân tộc học để thấy được nhu cầu cháy bỏng của con người: được đối thoại với người đã khuất.

  • Sự giải tỏa (Catharsis): Tác giả bóc tách rằng gọi hồn là cách người Việt đối diện với sự mất mát. Khi không kịp nói lời tạ từ (giống như các nhân vật của Kawaguchi), người ta tìm đến nghi lễ để làm phẳng lại những nếp nhăn của sự đau khổ.

"Lễ gọi hồn thực chất là một liệu pháp tâm lý dân gian sâu sắc, giúp con người xoa dịu nỗi đau thương và giải tỏa những hối tiếc còn vướng bận với người đã khuất thông qua môi trường tâm linh."

4. Ranh giới giữa Văn hóa và Mê tín

Kiều Thu Hoạch rất công bằng khi chỉ ra rằng, tín ngưỡng này chỉ thực sự lấp lánh khi nó giữ được sự trong sáng của di sản. Sự ngông nghênh của những kẻ lợi dụng thần thánh để trục lợi chính là hành vi tiêu trừ nhân tính của một nét đẹp văn hóa.

"Nghệ thuật diễn xướng trong lên đồng là một tài sản quý báu của dân tộc, nhưng nếu tách rời nó khỏi bản sắc văn hóa để chạy theo những giá trị vật chất, nó sẽ sớm trở thành một lớp vỏ rỗng tuếch."

Ranh giới giữa tín ngưỡng và mê tín quá mong manh. Nó ngồi lặng yên, lật giở những trang sách dày dặn của Kiều Thu Hoạch, lòng thầm nghĩ về những "vùng trắng" trong văn hóa Việt mà đôi khi sự ngông nghênh của tư duy duy vật hiện đại đã vô tình gạt bỏ. Lên đồng, hay Tín ngưỡng thờ Mẫu, không đơn thuần là sự mê tín "huyễn hoặc"; qua lăng kính của tác giả, đó là một bảo tàng sống, một hình thái "trải nghiệm khách hàng" ở mức độ tâm linh cao nhất, nơi con người tìm thấy sự cứu rỗi cho những bế tắc của đời thường. 

***


“Grandma, someone is here!” A child’s voice echoed from the front gate. The visitor was a middle-aged woman, leading an eight-year-old boy who looked exhausted after a long journey. The woman, dressed in a traditional ao ba ba, left her unfinished meal and stepped into the altar room. She lit a stick of incense, placing it into the burner before her. The visitor spoke; the person she sought was her husband—the child’s father.

After a moment of bowing her head, the woman looked up and began smoking a cigarette—a strange sight, for that boy, once grown, would remember his grandmother’s words: his father had never smoked a day in his life. That was his first encounter with the ritual of len dong (mediumship).

That boy has now matured, seeking answers within the monumental work of Prof. Dr. Kieu Thu Hoach: "The Mediumship and Soul-Summoning Rituals of the Vietnamese." In this study, the author focuses on the two largest pillars of Vietnamese spiritual life: Exaltation (Mediumship) and Consolation (Soul-summoning).

1. Mediumship: A Specific "Synthesized Art Form" The author asserts that len dong is not merely a religious ritual. It is a unique form of folk performance where humans play the role of "intermediaries" to connect with the divine realm.

  • The Structure of a Ritual Session (gia dong): Kieu Thu Hoach meticulously analyzes the combination of music (Hat van), choreography (movements of hands and feet, fire dances, sword dances), and attire (the elaborate system of robes and headgear).

  • The Mediums (Thanh dong): They are the ones who "prepare the seat" for the deities. In those moments, they cease to be themselves and become incarnations of heroes and those who served the people and the nation.

  • "Mediumship is a multifaceted cultural phenomenon, where music, dance, and attire do not just serve the ritual, but create a specific aesthetic space that helps participants release the psychological inhibitions of daily life."

2. The Significance of the Ritual Sessions: Touches of History The book illuminates that each session is a history book told through emotion. The Vietnamese do not just worship invisible supernatural forces; they worship real historical figures who have been deified.

Through the author's description of the sessions dedicated to the Princes (Ong Hoang) and the Ladies (Chau Ba), we see the reverence our ancestors held for nature and those of merit. This is how the Vietnamese express their gratitude within the flow of time.

  • "In the Vietnamese pantheon, the boundary between human and god is often blurred. The deities here were originally those of merit to the people and the nation, transformed into immortals by the community through performative rituals."

3. Soul-Summoning: A Belated "Farewell" Therapy If Mediumship is brilliance, then the Soul-summoning ritual is somber. Kieu Thu Hoach studies it from an ethnological perspective to witness a burning human need: to dialogue with the departed.

  • Catharsis: The author peels back the layers to show that soul-summoning is how the Vietnamese face loss. When there is no time to say a final farewell (much like the characters of Kawaguchi), people turn to the ritual to smooth out the wrinkles of suffering.

  • "The soul-summoning ritual is essentially a profound folk psychological therapy, helping people soothe their grief and release lingering regrets with the deceased through a spiritual environment."

4. The Boundary between Culture and Superstition Kieu Thu Hoach is remarkably fair in pointing out that this belief only truly shimmers when it maintains the purity of heritage. The brashness of those who exploit the divine for profit is an act of "diminishing" the humanity of a beautiful cultural tradition.

  • "The performative art within mediumship is a precious asset of the nation, but if it is severed from its cultural identity to chase material values, it will soon become a hollow shell."

The line between faith and superstition is so fragile. It (the character) sits in silence, turning the thick pages of Kieu Thu Hoach’s book, reflecting on the "white spaces" in Vietnamese culture that the brashness of modern materialistic thinking has accidentally discarded. Len dong, or the Mother Goddess worship, is not merely "illusory" superstition; through the author’s lens, it is a living museum—a form of "customer experience" at the highest spiritual level, where humans find redemption for the deadlocks of mundane life.

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

[Sách] Đôi mắt của Mona - Thomas Schlesser

Nó ngồi lặng yên, ngắm nhìn nhóc Julie đang mải mê với những bảng màu rực rỡ, đó cũng chính là lúc nó lang thang dọc hành lang của viện bảo tàng nghệ thuật để ngắm nhìn những bức tranh, rồi bất giác nhìn lại chính mình trong hình bóng của ông nội Henry. Có một sự giao thoa kỳ lạ giữa thực tại và những trang viết của Thomas Schlesser. Câu chuyện bắt đầu khi cô bé Mona, 10 tuổi, đột ngột bị mất thị lực trong 63 phút. Đó là một lời cảnh báo nghiệt ngã từ số phận: bóng tối có thể ập đến vĩnh viễn bất cứ lúc nào.

Giữa cơn bão của sự sợ hãi và những xét nghiệm y khoa nghẹt thở – thứ vốn dễ dàng quấy rối tinh thần của một đứa trẻ – ông Henry đã chọn một liệu pháp kỳ lạ nhưng đầy nhân văn. Mỗi tuần một lần, trong suốt một năm, ông dắt Mona đến Louvre, Orsay và Beaubourg để ngắm nhìn duy nhất một bức họa.

Cuốn sách là một sự kết hợp tài tình giữa cấu trúc truyện kể và những bài giảng về lịch sử hội họa. Tuy nhiên, ông Henry không dạy Mona theo kiểu cứng nhắc và đầy giáo điều. Ông dạy cô bé cách quan sát, cách chìm sâu vào bên trong tác phẩm để lắng nghe tiếng vọng của những thớ màu.

Từ Botticelli mềm mại, Vermeer tĩnh lặng đến sự bạo liệt của Goya hay sự phá cách của Picasso, ông Henry đưa đứa cháu mình – và chính xác hơn là dắt tay độc giả – thực hiện một chuyến tham quan xuyên qua ba viện bảo tàng nghệ thuật lớn nhất thế giới. Thomas Schlesser đã bóc tách một sự thật cốt lõi: Nghệ thuật không phải là thứ xa xỉ phẩm dành cho những kẻ mộng mơ viển vông, nó là "vũ khí" để chống lại sự tiêu trừ nhân tính.

Qua đôi mắt của Mona, những bức tranh không còn là hiện vật chết nằm im lìm trên tường bảo tàng; chúng trở thành những thực thể sống động, mang theo những bài học về sự khổ đau, lòng trắc ẩn và sự vĩnh cửu.

Nó ngắm nhìn bức tranh của cô nhóc Julie, những đường nét đã rõ ràng hơn, bố cục giáp viền và cả những gam màu thay đổi liên tục theo cảm xúc. Hiểu hơn. Việc ông Henry dắt Mona đi xem tranh không chỉ đơn thuần là để "nhìn", mà là để "khắc cốt ghi tâm". Nếu một ngày bóng tối thực sự kéo đến, Mona sẽ không bao giờ cô đơn, vì trong tâm trí cô đã có sẵn một bảo tàng rực rỡ sắc màu, gia tài của cái đẹp mà ông nội đã tận tụy ký quỹ thay cô. Tự hỏi. Gia tài nó để lại cho cô công chúa nhỏ của mình là gì? 

"Mọi tình yêu, và cả sự tự trọng, đều được chạm khắc từ những mất mát... và cái đẹp chính là thứ làm cho những mất mát đó trở nên dịu dàng hơn."

Thomas Schlesser không phải là một cái tên xa lạ trong giới học thuật. Ông là một nhà sử học nghệ thuật người Pháp, hiện là Giám đốc Quỹ Hartung-Bergman. Với vốn kiến thức uyên bác, Schlesser đã dành nhiều năm để nghiên cứu về sức mạnh biểu đạt của hội họa. Tuy nhiên, với Đôi mắt của Mona, ông đã cởi bỏ chiếc áo khoác hàn lâm để mặc vào chiếc áo của một người kể chuyện đầy trắc ẩn.

Tác phẩm này đã gây tiếng vang lớn ngay khi vừa ra mắt, được dịch ra hàng chục ngôn ngữ và trở thành một hiện tượng xuất bản toàn cầu năm 2024. Thomas Schlesser chia sẻ rằng ông viết cuốn sách này như một nỗ lực để "dân chủ hóa" cái đẹp, biến những kiệt tác hội họa vốn được coi là xa xỉ trở thành điểm tựa tâm hồn cho bất kỳ ai đang phải đối mặt với nghịch cảnh.

Cuốn sách không chỉ là một hành trình giáo dục, mà còn là một lời cảnh tỉnh về cách chúng ta đang sống. Trong đời công bộc đầy rẫy những xô bồ và sự "tiêu trừ" cảm xúc, chúng ta thường lãng quên việc quan sát những nhát chạm lấp lánh của cuộc sống. Ông Henry và Mona nhắc nhở ta rằng: Hãy nhìn thật kỹ, vì ánh sáng là hữu hạn, nhưng cái đẹp được lưu giữ trong lòng sẽ là vĩnh cửu.

Nó nhìn nhóc Julie, rồi nhìn lại những trang sách đã khép. Trong ngôn ngữ còn lượm lặt từng từ, mọi thứ vẫn long lanh, rực rỡ đến lạ thường bởi tình yêu thương

***


It sits in silence, watching little Julie lost in her vibrant palettes; that is also the moment it wanders along the corridors of the art museum to gaze upon the paintings, suddenly finding its own reflection in the figure of Grandpa Henry. There is a strange intersection between reality and the pages of Thomas Schlesser. The story begins when ten-year-old Mona suddenly loses her sight for sixty-three minutes. It is a cruel warning from fate: darkness could fall permanently at any moment.

Amidst the storm of fear and the suffocating medical examinations—things that easily harass the spirit of a child—Henry chooses a peculiar yet deeply humane therapy. Once a week, for an entire year, he takes Mona to the Louvre, the Orsay, and the Beaubourg to gaze upon only one painting.

The book is a masterful blend of storytelling and art history lectures. However, Henry does not teach Mona in a rigid or dogmatic way. He teaches her how to observe, how to immerse herself deeply within the work to hear the echoes of the brushstrokes.

From the grace of Botticelli and the stillness of Vermeer to the violence of Goya and the subversion of Picasso, Henry takes his granddaughter—or more accurately, leads the reader—on a journey through three of the world’s greatest art museums. Thomas Schlesser peels back a core truth: Art is not a luxury for idle dreamers; it is a "weapon" against the diminishment of humanity.

Through Mona’s eyes, these paintings are no longer dead artifacts on museum walls; they are living entities carrying lessons of suffering, compassion, and eternity.

It gazes at Julie’s drawing; the lines have become clearer, the composition framed, and the colors constantly shifting with her emotions. It understands more now. Henry’s act of taking Mona to see these paintings is not merely about "looking," but about "engraving them upon the heart." Should darkness one day fall, Mona will not be alone, for her mind will already hold a vibrant museum of colors—the heritage of beauty that her grandfather devotedly deposited on her behalf. It wonders: What is the heritage I will leave for my own little princess?

"All love, and all self-respect, are carved from losses... and beauty is the very thing that makes those losses more gentle."

Thomas Schlesser is no stranger to the academic world. He is a French art historian and currently serves as the Director of the Hartung-Bergman Foundation. With his profound erudition, Schlesser has spent years studying the expressive power of painting. However, in Mona’s Eyes, he sheds his academic cloak to don the mantle of a compassionate storyteller.

The work resonated deeply upon its release, being translated into dozens of languages and becoming a global publishing phenomenon in 2024. Schlesser shared that he wrote this book as an effort to "democratize" beauty, turning masterpieces into a spiritual anchor for anyone facing adversity.

The book is more than an educational journey; it is a wake-up call about how we live. In a "public servant" life filled with bustle and the "diminishment" of emotion, we often forget to observe the shimmering touches of existence. Henry and Mona remind us: Look closely, for while light is finite, the beauty held within the heart is eternal.

It looks at Julie, then back at the closed pages. Within a language still gathering word by word, everything remains unexpectedly shimmering and brilliant, held together by love.


Thứ Năm, 7 tháng 5, 2026

[Sách] Tay người lạnh giá - Han Kang


Nó rời khỏi lớp học tiếng Hy Lạp, để bước tiếp theo hướng của Han Kang. Nó bước vào căn phòng nồng nặc mùi thạch cao, lặng lẽ ngồi xuống để ngắm nhìn một nghi lễ kỳ quái: từng giọt thạch cao trắng xóa được đổ lên một cơ thể sống. Cái khuôn ấy từ từ cô đặc lại, giam cầm sự "quằn quại" của nhân vật bên trong. Nó chứng kiến khoảnh khắc từ lúc chất lỏng bắt đầu đông cứng cho đến khi cái lớp vỏ ấy được bóc tách ra khỏi da thịt. 

Han Kang dắt ta đến một ranh giới cực đoan hơn: sự xa lạ với chính cơ thể và danh tính của mình.

"Tôi muốn hỏi xem liệu có thể hoàn toàn bộc lộ mình trước một người khác hay không. Hay chúng ta chỉ đang mải mê đúc những chiếc mặt nạ cho nhau?"

Câu chuyện xoay quanh một nhà điêu khắc chuyên lấy khuôn từ người sống. Những chiếc mặt nạ thạch cao ghi lại từng thớ thịt, từng lỗ chân lông li ti, nhưng lại hoàn toàn bất lực trong việc nắm giữ linh hồn đang run rẩy bên dưới.

Han Kang không viết để vỗ về; bà viết để "truy vấn". Trong thế giới của bà, con người là những thực thể đầy vết xước, luôn tìm cách trốn chạy khỏi sự nghiệt ngã của định kiến và kỳ vọng xã hội. Những người phụ nữ trong truyện tình nguyện để thạch cao phủ kín mình; họ tìm đến sự kỳ dị để trốn chạy khỏi đời thường.

"Họ không muốn được nhìn thấy, họ muốn được bao bọc. Thạch cao không chỉ là vật liệu, nó là một sự ẩn nấp."

Họ muốn lưu giữ hình thể, hay thực chất là muốn hóa đá bản thân để không còn phải cảm nhận nỗi đau? Nó thấy ở Han Kang một sự thấu cảm nghiệt ngã. Bà soi tỏ để ta thấy rằng: dưới lớp vỏ bọc "chức sắc huyện làng" hay những bộ vest công sở chỉn chu, ai cũng mang một "bàn tay lạnh giá" đang khao khát hơi ấm của sự chân thật.

Sự mâu thuẫn giữa Cái tôi và Vỏ bọc giống như những "trang giấy nhàu" của đời công bộc. Chúng ta thường tô vẽ lên mình những chiếc mặt nạ tử tế giả tạo, nhưng Han Kang bóc tách một sự thật tàn nhẫn: Khi ta quá mải mê xây dựng lớp vỏ, ta đã vô tình thực hiện một hành vi "tiêu trừ" chính bản thân mình.

"Chúng ta dành cả đời để xây dựng một hình ảnh hoàn hảo, để rồi nhận ra mình đã trở thành một bức tượng rỗng tuếch từ lúc nào không hay."

Nhát chạm thạch cao ấy thật nghẹt thở. Nạn nhân phải giữ im lặng tuyệt đối, không được cử động, chỉ còn hơi thở mỏng manh luồn qua khe hở. Đó là lúc ranh giới giữa người thân và người lạ, giữa sự sống và cái chết trở nên mờ ảo như sương mù Paris.

Nhà điêu khắc có thể tạo ra hàng ngàn khuôn mặt giống hệt người thật, nhưng ông ta mãi mãi là một "người lạ" với những người mẫu của mình. Điều này khiến nó tự vấn về đời công bộc: Ta có đang đối xử với đồng nghiệp như những bức tượng thạch cao vô hồn? Ta có đang rút vốn quá nhiều từ "tài khoản uy tín" của sự thấu cảm để đổi lấy những hư danh chức sắc?

"Cô đơn không phải là cảm giác khi không ai bên cạnh. Cô đơn là khi đôi bàn tay ta chạm vào nhau nhưng chỉ thấy cái lạnh của thạch cao."

"Tay người lạnh giá" là một nhát chạm buốt người nhưng cần thiết để tỉnh mộng. Nó nhắc nhở nó rằng, dẫu thế giới đôi khi "chẳng dành cho tình yêu thương", ta vẫn không được phép để đôi tay mình trở nên lạnh giá trước những mầm xanh như Julie hay Merci.

"Mọi tình yêu đều được chạm khắc từ những mất mát và va đập... nhưng đừng để sự va đập ấy biến trái tim ta thành đá tảng."

https://chienphan.blogspot.com/2025/09/sach-nguoi-chay-han-kang.html

https://chienphan.blogspot.com/2025/04/sach-ban-chat-cua-nguoi-han-kang.html

***

It (the character) enters the room thick with the scent of plaster, sitting nearby to watch as each drop of liquid plaster is poured into a mold—a living mold, slowly solidifying amidst the writhing of the "human shape," from the moment the plaster begins to set until the shell is peeled away. Once again, it encounters Han Kang in a new realm, feeling a cold electric chill run down its spine. If Won Jung Mee spoke of estrangement within the family, then Han Kang leads it to an even more extreme frontier: estrangement from one’s own body and identity. The story revolves around a sculptor who specializes in taking molds from living bodies—plaster masks that record every fiber of flesh and every pore, yet remain utterly powerless to capture the soul.

Han Kang does not write to comfort. She writes to "interrogate." In her world, human beings are entities full of scars, always seeking to escape the "iron cage" of societal prejudice. Her characters often carry a silent pain, much like the aimless child upon the waves that it once mentioned; but instead of seeking a warm cup of coffee, they choose to "petrify" their emotions to survive.

The escape of the women who undergo the molding process; an escape from the mundane, meeting in the grotesque.

It sees in Han Kang a ruthless compassion. She does not illuminate to console; she illuminates so that we may see: beneath the facade of "village dignitaries" or polished office suits, everyone carries a "cold hand" longing for the warmth of truth.

The book focuses on women who volunteer to have the protagonist pour plaster over them. Do they wish to preserve their form, or do they actually seek to escape into a hard shell so they no longer have to feel the pain?

The Conflict between the Self and the Shell: Much like the "crumpled pages" of a public servant's life, we often paint upon ourselves masks of artificial kindness. Han Kang peels back the truth: when we are too preoccupied with building the shell, we inadvertently commit an act of "diminishing" our own selves.

The Plaster Touch: The author describes the molding process as suffocating. The victim must remain in absolute silence, motionless, with only a thin thread of breath remaining. It is a moment where the boundary between family and stranger, between life and death, becomes as blurred as the mist of Paris.

"All love is carved from losses and collisions... but do not let those collisions turn your heart into a block of stone."

Han Kang brings an haunting sadness. Loneliness is not the feeling of having no one by one's side.

The sculptor in the story can create thousands of faces identical to the real ones, yet he remains forever a "stranger" to his models. This leads it to question its own life as a public servant: Are we treating our colleagues like soulless plaster statues? Are we withdrawing too much from the "account of empathy" just to exchange it for empty titles and status?

"Cold Hands" is a piercing touch, cold but necessary to awaken from the dream. It reminds it that even if the world sometimes "is not meant for love," we must not allow our own hands to grow cold before green shoots like Julie or Merci.

It closes the book, watching the sunlight filter through the leaves, feeling its heart tremble slightly but still wanting to hold onto the warmth of the present. It will not pour plaster over its children's lives. It will let them be moved, be crumpled, and be stained with the ink of experience—so long as they always feel the warmth of a genuine touch rather than the coldness of perfect masks.

[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...