Chiến Phan

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2026

[Sách] Để hiểu nghệ thuật - Janetta Rebold Benton

"Có những bức tranh người ta không thể lướt qua bằng ánh nhìn hời hợt. Người ta đứng lặng trước nó, đứng miệt mài, tựa hồ như chân bị xích chặt vào sàn nhà—bởi đằng sau lớp sơn khô khốc ấy là cả một thước phim quay ngược tiến trình sáng tác, nơi từng tầng tầng lớp lớp sắc màu giải mã vạt nhân sinh mà người nghệ sĩ đã đánh đổi bằng chính máu thịt mình."

Nó đứng im rất lâu trước bức tranh dở dang, ánh mắt chầm chậm dán chặt vào từng vệt cọ sền sợt.

Có những tác phẩm nó cứ phải xem tới, xem lui vô số lần. Mỗi lần nhìn sâu vào khoảng không gian phẳng ấy, nó lại có cảm giác như mình đang cầm trên tay chiếc chìa khóa đồng để bật mở một thước phim quay ngược thời gian.

Nó bóc tách từng lớp: Lớp màu biểu tượng phủ ngoài cùng mỏng mảnh, đến lớp sơn lót dầy dặn nén chặt xúc cảm, rồi dội ngược về tận vệt phác thảo than chì mờ nhòe đầu tiên—khoảnh khắc trinh nguyên khi người nghệ sĩ vừa chạm chán với nguồn cảm hứng bất chợt. Đằng sau vệt màu chồng chất ấy không chỉ là kỹ thuật hay tư duy bố cục như Susan Woodford phân tích trong "Xem Tranh", mà là cả một thế thái nhân sinh, một cõi đời cô độc được tựu hình, cô đọng và đóng khung lại cho muôn đời sau. Yêu thương và đau khổ, hỉ nộ và ái ố đầy trong đấy.

Nó khép lại cuốn sách "Để hiểu nghệ thuật" (How to Understand Art) của giáo sư Janetta Rebold Benton khi bóng chiều đã đổ sẫm xuống mặt đường, ngoài phố, người chạy dưới cơn mưa.

Ngôn Ngữ Hình Thị

Janetta Rebold Benton—với nhãn quan mẫn cảm của một nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật hàng đầu, bóc tách thẩm mỹ của nhân loại qua các yếu tố nền tảng: Bố cục, Đường nét, Màu sắc, Ánh sáng, Chất liệu và Ngữ cảnh lịch sử.

Benton chứng minh rằng: Nghệ thuật chưa bao giờ là sự ngẫu nhiên hay ngụ ý mù mịt. Đó là sự toán học hóa tâm hồn, nơi từng nét cọ của Leonardo da Vinci, từng mảng màu đối lập của Caravaggio hay những đường cắt tối giản của Modern Art đều mang một sứ mệnh trần trụi: Giải mã bản thể.

Người ta thường nhìn tác phẩm nghệ thuật như một thứ hàng hóa tích trữ danh vọng. Nhưng Benton làm rõ: Giá trị thực sự của một bức tranh không nằm ở mức giá đấu giá đắt đỏ, mà ở khả năng tạo ra một khoảng lặng chấn động, ép kẻ thưởng thức phải dừng lại để đối diện với chính mình.

Nghệ sĩ lớn là kẻ dũng cảm chối bỏ sự vỗ tay của đám đông để trung thành với thị giác riêng. Họ tự tay kiến tạo một vũ trụ biểu tượng—hệt như tư thế kiêu hãnh của Howard Roark khi vẽ nên những đường nét kiến trúc không thỏa hiệp.

Sự Phản Ngộ 

 "Nghệ thuật không sinh ra để vỗ về lòng kiêu hãnh của những kẻ sống vay mượn linh hồn. Nó là chiếc kính hiển vi phẫu thuật tâm khảm—nơi mỗi vệt màu, đường nét và hình khối bóc tách lớp vỏ ngụy trang khô khốc, trả con người về với sự rung cảm trinh nguyên trước sinh mệnh."

Đọc xong, tự dưng nó thèm ngồi một chổ, đối diện với một trong những bức tranh có thế hút hồn mình vào đấy, ngồi cả ngày cũng được, để cứ thế, tầng tầng lớp lớp tâm tư được hòa vào người nghệ sĩ, như thể thủ thỉ và tâm tình của hai gã khác nhau hay giống nhau một thời đại xem góc nhìn có chung không. Một kẻ lượm từ, nhặt chữ để viết ra, còn một gã gom nét, thu màu để vẽ lại.

Đọc xong trang sách cuối cùng, tự dưng nó thèm rùng mình.

Nó thèm được ngồi dính chặt ở một chỗ, lặng im đối diện với một trong những bức tranh có thế hút hồn nó chui tút vào sâu thẫm bên trong. Ngồi cả ngày cũng được, trôi qua mấy mùa mưa nắng cũng chẳng sao. Để cứ thế, tầng tầng lớp lớp tâm tư bị nén chặt bấy lâu được từ tốn nhả ra, hòa lẫn vào cõi lòng của người nghệ sĩ. Vì biết đâu, có thể thủ thỉ, tâm tình của hai gã đàn ông—dù thuộc về hai thời đại xa thẫm hay chung một nhịp thở thời gian—ngồi lại bên gờ kính để so chiếu góc nhìn nhân sinh.

Một kẻ miệt mài lượm từ, nhặt chữ để viết ra; còn một gã lặng lẽ gom nét, thu màu để vẽ lại những đau thương trần trụi của nhân thế.

***



"There are paintings one simply cannot pass by with a superficial glance. One stands before them in total stillness, lingering tirelessly, as though feet were chained fast to the floor—for behind that dry coat of paint lies a reel of film rewinding the creative process, where layered strata of color decode a slice of human existence that the artist traded with their very own flesh and blood."

It stands motionless for a long time before the unfinished painting, eyes slowly glued to every thick, viscous brushstroke.

There are works It must view time and time again. Each time It gazes deep into that flat space, It feels as though It holds a brass key in hand to unlock a reel of film rewinding through time.

It peels back layer upon layer: from the fragile, symbolic topcoat of color, to the heavy, dense undercoat compressing raw emotion, and all the way back to the very first blurred graphite sketch—that pristine moment when the artist first collided with sudden inspiration. Behind those stacked streaks of color lies not merely technique or compositional logic as Susan Woodford dissects in Looking at Pictures, but an entire human condition, a solitary existence given form, condensed, and framed for all eternity. Love and anguish, joy and sorrow, affection and hatred—all crammed intensely within.

It closes How to Understand Art by Professor Janetta Rebold Benton as twilight casts deep shadows over the streets below, where people hurry through the rain.

Visual Language

Janetta Rebold Benton—armed with the sensitive vision of a leading art historian—deconstructs humanity’s aesthetic through foundational elements: Composition, Line, Color, Light, Medium, and Historical Context.

Benton proves that art was never a matter of coincidence or obscure implication. It is the mathematization of the soul, where every brushstroke of Leonardo da Vinci, every contrasting field of color by Caravaggio, or the minimalist cuts of Modern Art bear a stark mission: decoding the self.

People often view a work of art as a commodity to hoard prestige. Yet Benton clarifies: the true value of a painting lies not in its exorbitant auction price, but in its power to forge a jarring silence, forcing the viewer to pause and confront themselves.

Great artists are those courageous enough to reject the applause of the crowd to remain faithful to their own vision. They hand-craft a universe of symbols—much like the proud posture of Howard Roark when drawing uncompromising architectural lines.

The Epiphany

"Art was not born to soothe the pride of second-hand souls. It is a microscope performing surgery on the mind—where every streak of color, every line, and every form peels away the dry camouflage shell, restoring humans to a pristine resonance before life itself."

Having finished reading, It suddenly craves to sit still in one place, facing a painting capable of drawing its soul deep inside—sitting all day if needed, so that layer upon layer of compressed thoughts can slowly unwind, merging into the heart of the artist. For who knows, it might be a quiet murmur, an intimate exchange between two men—whether belonging to vastly distant eras or sharing the exact same breath of time—sitting together beside the glass ledge to compare their perspectives on human existence.

One obsessively gathers words and collects letters to write out; the other silently harvests strokes and gathers colors to paint the unvarnished suffering of human life.

Having turned the final page, It suddenly craves a shudder.

It craves to sit anchored to one spot, quietly facing one of those paintings capable of drawing It completely into its depths. Sitting all day would be fine; letting several seasons of rain and sun drift past would matter not. Just so that layer upon layer of thoughts, long compressed, could slowly release and dissolve into the artist's inner realm. Perhaps two men—whether separated by centuries or bound by the same pulse of time—might sit together by the window sill, softly exchanging quiet truths, measuring their shared vision of human fate.

One tirelessly gathers words and collects letters to write out; while the other silently harvests strokes and gathers colors to paint the unvarnished agony of this mortal life.

[Musing of life] Chợ (14) - Mùi chợ - The scent of market

Mùi Của Đất

"Chợ họp rồi tan, kiếp người rồi cạn, Chỉ có nụ cười mộc mạc lưu lại giữa mưu sinh."

Mỗi vùng đất, mỗi mảnh đời đều được định danh bằng một đặc điểm, như thói quen của loài người, mùi cũng trở thành một đặc điểm. Có người chọn nhớ về một thành phố bằng hương hoa sữa dịu ngọt, có kẻ thương một miền quê bởi mùi rơm rạ ngày mùa ngái nồng. Nhưng với nó, thứ mùi hương khắc sâu vào tâm khảm, nuôi dưỡng tâm hồn và đeo bám nó qua muôn vạt dặm đường bôn ba lại chính là cái mùi mà người đời vừa thương, vừa ngại, vừa tìm cách tránh xa: "Mùi chợ".

Đó là thứ hỗn hợp ngột ngạt của phù sa sông nước, của vị cá ươn, tanh nồng mắm muối, của mồ hôi áo vải ngấm nắng mưa, và của cả những nhọc nhằn ở kiếp sống nối tiếp nhau từ đời này sang đời khác. "mùi chợ" vẫn cứ ở đó, trầm lặng và nhẫn nại

Mùi nắng, gió

Nó yêu cái "mùi chợ" từ khi còn là một đứa trẻ chân đất chạy lon xon sau vạt áo bà – "người tình tóc bạc", người đã sinh ra nó, để rồi đến khi màu mây trời nhuộm trắng mái đầu, bà lại tỉ tê kể cho nó nghe về những thăng trầm của cuộc đời mình.

Trong trí nhớ đậm đà sắc màu của nó, chợ quê miền Tây sông nước là một thế giới chuyển động không ngơi nghỉ trên mặt nước đục ngầu phù sa. 

Mùi sớm mai. Khi chạng vạng sáng, lúc bình minh còn chưa kịp vắt ngang qua những rặng dừa nước, chợ nổi đã rộn rã tiếng khua chèo, tiếng máy đuôi tôm nổ tạch tạch xé tan sương đêm. Mùi chợ miền Tây là thứ mùi vô cùng đặc trưng: mùi trái cây chín vú thơm lừng từ những ghe bầu Tây Nam Bộ, mùi cá tôm tươi xanh vừa cất lưới còn tanh nồng hơi nước sông Tiền, quyện chặt với mùi khói bếp củi tỏa ra ngọt ngào, vương vãi thứ thanh âm ngọt lừ của những lời rao. Đó còn là mùi thơm nức nở, ngậy béo của những xề bánh kẹp cuốn, bánh kẹp tàn ong đổ khuôn hình con sò vàng rộm—những chiếc bánh quê dập dềnh trên sóng nước, xếp tắp lự trên chiếc mẹt nhỏ, vừa ra lò đã tỏa thứ mùi bột cốt dừa béo ngậy khiến tụi nhỏ dán mắt không rời. Hòa lẫn trong sương sớm là mùi của những thớ thịt vừa đưa ra từ lò còn nóng hổi, bốc hơi nhè nhẹ trên tấm thớt gỗ Me già. Ơn trời ai tạo một mùi nhớ thương. 

Mùi trưa tàn. Khôn lớn, bước chân lữ thứ đưa nó lên ngụ cư giữa chốn Sài Gòn nhộn nháo. Ở đây, nó lại đi tìm những góc chợ cũ kỹ nằm lọt thỏm giữa những tòa nhà bê tông chọc trời.

Chợ Sài Gòn – từ một Chợ Lớn rộn rã đậm nét Hoa-Việt, một chợ đầu mối Bình Điền sầm uất thức cùng đêm muộn, chợ Bàn Cờ ngoằn ngoèo hẻm hóc, chợ Tân Định mang dáng dấp thời gian, cho đến những ngôi chợ sớm tự phát nhô ra rồi thu lại nơi các góc hẻm đặc trưng của phố thị. Nơi ấy, người ta chỉ cần trải một tấm bạt nilon nhỏ, bày vài ba bó rau muống vừa hái, một rổ ớt xơ xác hay đôi ba con cá quẫy đuôi trong thau nhôm là đã thành một "ngôi chợ chòm hỏm" nhóm họp chóng vánh.

Chợ phố mang một thứ "mùi chợ" hoàn toàn khác biệt. Đó là mùi nhựa đường hầm hập dưới cái nắng gắt gỏng của buổi giữa trưa, mùi rau củ dập nát quyện với mùi bùn đen ngai ngái bốc lên sau cơn mưa rào bất chợt cuối chiều, mùi gia vị xộc thẳng vào mũi từ những sạp hàng xông khói, và thứ mùi mồ hôi chua nồng ướt đẫm lưng áo của những bác xe ôm ngóng chờ từng chuyến hàng giao cấp tập, của những chị quẩy gánh hàng rong miệt mài qua muôn ngõ hẻm. Chợ họp chớp nhoáng rồi nhanh chóng trả lại mặt đường cho dòng xe cộ, trôi qua như một cái chớp mắt của buổi trưa tàn.

Ơn trời ai bảo nửa ngày là xong, khi vết dấu mưu sinh và cái mùi thương nhớ ấy vẫn cứ vấn vương, hằn sâu vào tâm khảm cả một kiếp người.

Mùi người.

Mùi mẹ tôi. Là thứ mùi ngai ngái, ngấm sâu của chiếc áo bà ba vẫn còn chưa kịp khô ráo hoàn toàn sau trận mưa rào đêm qua. Mẹ khoác vội chiếc áo ấy lên bờ vai gầy, liêu xiêu vội vã ra khỏi nhà cho kịp chuyến xe sớm để lấy hàng, để khi cái nắng đầu ngày vừa bừng lên gắt gỏng, sạp hàng đã sẵn sàng cho một ngày mưu sinh mới.

Mùi anh tôi. Thứ mùi nồng nặc mồ hôi rịn cay xè trên chiếc áo đã sờn vai, lổ chỗ vài ba đường rách, ám chặt lấy chiếc xe ba gác cũ kỹ—kỷ vật của những tháng rộng năm dài tích lũy, chắt chiu từng chiếc bánh xe đơn sơ cho đến khi dựng nên cả một chiếc thùng xe dài ngoẵng đằng sau. Mùi của những lần lên xuống hàng dồn dập, gánh vác cả khối hàng nặng trịch và cả gánh nặng gia đình trên đôi vai chai sần.

Mùi chị tôi. Thứ mùi đầm ướt sương đêm của những sớm trời vừa chực gà gáy, khi tiếng chó sủa vang xa rộn rã nơi nếp nhà ai đó trong xóm vắng. Chị lội bì bõm qua những đoạn đường đập nước, quẩy gánh hàng trôi qua bóng tối để kịp đến góc chợ khi trời vừa chong sang, nhóm nhóm lên những hy vọng nho nhỏ.

Mùi em tôi. Thứ mùi nắng cháy khét lẹt trên da đầu, mùi của cái thời "cứt trâu" đóng vẩy đầy đầu tụi nhỏ nghèo quê. Một thứ mùi rặt "nghèo", đậm đặc, đượm màu lam lũ, gắn liền với những ngày thơ dại lam bạt chân đất chạy lăn lóc giữa bãi đất trống, thương đến thắt lòng.

Mùi cháu tôi. Thứ mùi của một thế hệ tiếp nối, quay về tiếp quản gánh nghiệp của gia đình. Sau những năm tháng được chắt chiu, nuôi dưỡng ăn học hành, lăn lộn nơi chốn văn phòng máy lạnh ngột ngạt mà thấy lòng chẳng thuộc về những bon chen này, cháu tôi lại trở về với góc chợ sô xồ, lam lũ. Nơi ấy, từng chiếc sạp cũ, từng khoảng sân đầm ướt sương đêm vẫn dang rộng vòng tay chào đón như chào đón một đứa con đi xa quay trở về nhà, chẳng một chút trách móc hay nề hà. Thứ mùi thanh xuân ngỡ như đã xa rời chốn chợ nay lại hòa quyện với mùi cá, mùi rau, mùi mồ hôi mặn mòi của đời trước. Thương đến lạ, viết sao cho hết nghĩa một từ thương... 

Mọi thứ rồi sẽ trôi đi, thong thả và lặng lẽ. Những đứa trẻ rồi sẽ lớn lên, có đứa chọn chối bỏ để mải miết đuổi theo những giấc mơ phù hoa nơi thị thành, có đứa lại dịu dàng chọn quay về ôm lấy nếp nhà cũ.

Thời gian mải mượt đuổi bắt, hoa tàn rồi hoa lại nở; lá rụng vắt qua thu rồi lại đến một mùa lá mới thay xanh rờn. Mùa chim làm tổ lại chuẩn bị kéo nhau về dưới mái hiên xưa, như thể sau những trận mưa dông tan hoang lòng, con người ta lại ấm áp được sưởi sưởi ấm bởi vệt nắng xuân sang.

Với nó, hạnh phúc giản đơn là lúc tìm về nơi một góc chợ quen, để hít hà cho thỏa lòng thứ mùi vị đã nuôi lớn đời mình: mùi sớm mai tinh tươm, mùi nắng mới hầm hập, mùi mưa dông ngái nồng, mùi mồ hôi mặn mòi của người… tựu trung lại là cái “mùi chợ” trần trụi mà bao la tình người.

Thương. Viết sao cho đủ hết từ thương đây.

https://chienphan.blogspot.com/2026/02/musing-of-life-cho-13-nhung-ke-ban-giac.html

***


The Scent of the Earth

"Markets gather and scatter, human lives drain away,

Only simple smiles linger amidst the daily struggle for bread."

Every land, every life is defined by a distinct trait; much like human habits, scent becomes a defining mark. Some choose to remember a city by the sweet, delicate fragrance of milkwood pine blossoms; others hold a rural countryside dear for the pungent aroma of rice straw in harvest season. But for him, the scent etched deepest into his soul, nourishing his spirit and clinging to him across thousands of miles of wandering, is the very scent that people love, hesitate around, and try to stay away from: "The Market Scent."

It is a suffocating blend of river silt, the stale tang of fish, the sharp pungent saltiness of fermented sauces, the sweat of cloth shirts soaked in rain and sun, and the hardships of generations succeeding one another in an unbroken stream. "The market scent" remains right there—silent, patient, and enduring.

The Scent of Sun and Wind

He loved "the market scent" since he was a barefoot boy running behind the apron of his grandmother—his "silver-haired lover," the woman who bore his family line. And when the skies turned her hair white, she would softly whisper to him the stories of her life’s ups and downs.

In his richly colorful memories, the river market of the Mekong Delta was a world in constant motion upon murky, silt-laden waters.

The Scent of Early Dawn. At twilight, before the first light of dawn could stretch across the rows of water nipa palms, the floating market was already alive with the clatter of oars and the tach-tach hum of long-tail boat engines tearing through the night mist. The scent of a Mekong Delta market is unmistakable: the fragrant aroma of tree-ripened fruit from the wooden barges of the Southwest; the fresh, raw tang of newly netted fish and shrimp still heavy with the river mist of the Tiền River; all tightly woven with the sweet, comforting smoke of woodfires, scattering the honeyed sounds of street vendors' calls. It was also the rich, irresistible aroma of rolled waffle cakes and beehive waffle cookies baked in golden, clam-shell-shaped molds—country treats bobbing on the water, neatly stacked on small bamboo trays, wafting a thick coconut milk scent the moment they left the iron that kept the children’s eyes glued. Mingling with the morning mist was the warmth of fresh meat brought straight from the butcher, steaming gently on an aged tamarind wood chopping block. Thank Heaven for creating a scent so steeped in longing.

The Scent of Fading Midday. Growing up, his wandering feet brought him to reside amidst the chaotic bustle of Saigon. Here, he sought out old, forgotten market corners nestled beneath towering concrete skyscrapers.

Saigon markets—from the vibrant, Chinese-Vietnamese rhythm of Chợ Lớn, to the bustling Bình Điền wholesale market staying awake through the late night, the labyrinthine alleys of Bàn Cờ, the time-worn silhouette of Tân Định, down to the spontaneous pop-up morning markets that bloomed and dissolved in the city’s signature alleys. In those alleys, people needed only to lay down a small plastic tarp, display a few bunches of freshly picked morning glory, a battered basket of chilis, or a couple of fish flopping in an aluminum basin, and a "crouching market" was born in an instant.

The city market carried a completely different "market scent." It was the heat of asphalt baking under the harsh afternoon sun, the smell of crushed vegetables mingling with the pungent black mud stirred up after a sudden late-afternoon downpour, the sharp prickle of spices wafting from smoked stall displays, and the sour, heavy sweat soaking through the shirts of motorbike taxi drivers waiting for urgent deliveries, or vendor women carrying heavy shoulder poles through endless alleys. The market gathered in a flash and quickly surrendered the pavement back to the stream of traffic, passing like the blink of an eye in a fading midday.

Thank Heaven—whoever said half a day was enough, when the footprints of livelihood and that haunting scent still linger, etched deep into the soul of an entire lifetime?

The Scent of People

The Scent of My Mother. It is the damp, deep-set smell of her traditional bà ba shirt, not yet dry after last night’s downpour. Mother hurriedly threw that shirt over her thin shoulders, rushing out the door in the dim light to catch the early bus for goods, so that when the first harsh rays of morning sun broke through, her stall stood ready for another day of making a living.

The Scent of My Brother. A heavy, stinging scent of sweat clinging to a shirt worn thin at the shoulders and torn in a few places, permanently embedded in his old three-wheeled cart—the keepsake of long years of saving, hoarding every simple tire until he built a long trailer bed behind it. The scent of endless loading and unloading, carrying heavy crates of cargo and the weight of the family on his calloused shoulders.

The Scent of My Sister. The damp, night-dew scent of early mornings just as the roosters began to crow, when dog barks echoed softly from a neighbor’s house in the quiet hamlet. She waded through flooded, muddy lanes, balancing her shoulder pole through the dark to reach the market corner just as dawn broke, fanning the flames of tiny hopes.

The Scent of My Younger Sibling. The smell of sun-scorched scalp, the crusted "cradle cap" scales on the heads of poor rural kids. A scent purely of "poverty"—dense, steeped in hardship, tied to barefoot childhood days tumbling across empty dirt lots, heartbreakingly dear.

The Scent of My Nephew. The scent of a continuation, returning to take up the family line. After years of hard-won education and suffocating in air-conditioned offices where his heart felt no belonging to the rat race, my nephew returned to the rough, unvarnished market corner. There, every weathered stall and dew-soaked yard opened its arms to welcome him back, like welcoming a child coming home from afar, without a single word of blame or hesitation. That scent of youth, once thought to have left the market behind, now blended once more with the smell of fish, vegetables, and the salty sweat of generations before him. Strangely dear—how could words ever encompass the full depth of love?

Everything will eventually drift by, unhurried and quiet. Children will grow up; some will choose to turn away, chasing glamorous city dreams, while others will gently choose to return and embrace the old home.

Time plays its endless game of chase; flowers wither and flowers bloom again; fallen leaves pass through autumn to make way for a fresh season of lush green foliage. The season for birds to nest draws near under the old eaves once more, as if after heart-rending rainstorms, people are warmed again by the golden rays of spring.

For him, simple happiness is the moment he finds his way back to a familiar market corner, inhaling to his heart's content the flavors that raised his life: the fresh morning air, the heavy midday sun, the pungent rainstorm, the salty sweat of human labor… gathered all together into the raw, vast humanity of "the market scent."

So deeply loved. How could words ever be enough to write it all?

[Truyện] Mở xì vs Hổ con [Story] Mở xì vs Little tiger

 








HỔ CON

BÓNG NẮNG

Cũng đã đến lúc nghẹn ngào nói lời chào đến mối tình đầu...

Một cuốn sách ngọt ngào mà đôi ta từng viết...

(Bản nhạc tình hoài niệm – Lofi Version)

Chiếc còi phà vang lên một tiếng rúc dài, trầm đục và ngân vang giữa khoảng không dầm dề sông nước. Nước dưới chân phà đục ngầu sắc phù sa, cuộn xoáy thành những vệt sóng sánh ánh bạc dưới cái nắng hè gay gắt của vùng sông nước miền Tây.

Cậu trai mười bốn tuổi đứng dựa lưng vào thành lan can phà. Thân hình cậu cao sượt, một mét bảy mươi lăm—một vóc dáng phổng phao đến bất ngờ của tuổi mới lớn, đối nghịch hoàn toàn với bờ vai còn chưa đủ dày và khuôn mặt có phần thanh tú, đôi chỗ còn phảng phất vệt mụn dậy thì vụng dại.

Tên cậu là Mở xì—cái tên nghe tựa một lời cảm ơn ngọt ngào bằng tiếng Pháp mà ba cậu, một gã mê sự lãng mạn cũ kỹ, đã ưu ái đặt cho thằng con trai đầu, được người bạn cùng lớp đọc trại ra tiếng Việt.

Mở xì mân mê chiếc điện thoại cũ kỹ của ba. Trên màn hình rạn một đường nứt mảnh như sợi tóc, dòng tin nhắn cuối cùng gửi đi cách đó vài giờ vẫn nằm trơ trọi giữa khoảng không mờ đục của tín hiệu sóng chập chờn:

[Mở xì]: "Tui phải về quê rồi. Chắc lâu lắm mới liên lạc lại á.!"

Không có chấm xanh sáng lên. Không có ba dấu chấm tròn nhấp nháy quen thuộc báo hiệu đối phương đang gõ phím. Đáp lại cậu chỉ là tiếng còi phà xé lòng và xấp dừa nước bồng bềnh trôi dạt ven bờ.

Lần đầu tiên trong đời, cậu trai mười bốn tuổi hiểu thế nào là cảm giác "thinh thích" một ai đó. Đó không phải là thứ cảm giác muốn chiếm hữu hay những áp lực toan tính phức tạp của người lớn. Nó mỏng manh, trong trẻo như một vệt mây trắng đi ngang qua bầu trời mùa hạ—ngăn ngắt xanh, chao đảo và làm rung rinh những nhịp đập nơi lồng ngực trái.

Cả kỳ nghỉ hè năm đó ở quê nội vùng cù lao Chợ Mới, Mở xì sống trong một nhịp điệu chậm rãi, ngập tràn ánh nắng và tiếng ve ngân ran trên những vòm cây xòe tán.

Nhưng tâm trí gã thì lại trôi bồng bềnh về một tài khoản zalo có cái tên ngắn gọn đến buồn cười: hcb—viết tắt của ba chữ "Hổ con báo".

Đó là cô bạn cùng lớp lớp 8 ở Sài Gòn, một cô gái nhỏ nhắn có đôi mắt tròn xoe, cái răng khểnh ngổ ngáo và tính tình tinh nghịch như một con thú nhỏ sẵn sàng "báo đời" bất cứ lúc nào.

Vì chưa được ba mẹ sắm cho điện thoại riêng, Mở xì phải xài chung chiếc điện thoại thông minh của ba. Đêm nào cũng vậy, sau khi ba đã chìm vào giấc ngủ với tiếng ngáp dài mệt mỏi của gã đàn ông trung niên, Mở xì lại rón rén giấu chiếc điện thoại dưới lớp chăn mỏng, thao thức lướt màn hình để chờ đợi một dòng tin nhắn từ "hcb".

Những đêm hè ở quê ngợp mùi cỏ dại và tiếng muỗi vo ve ngoài cửa sổ. Ánh sáng xanh từ màn hình điện thoại chiếu lên khuôn mặt góc cạnh của Mở xì, làm bừng lên một nụ cười ngô nghê mỗi khi "hcb" kể chuyện gã làm rớt chiếc bút chì hay chuyện gã gác chân lên ghế bị cô giáo phạt.

Những đoạn hội thoại vụng dại, chẳng đâu vào đâu, thiếu hẳn những mỹ từ hoa mỹ nhưng lại chứa đựng tất cả sự chân thành của tuổi mười bốn—độ tuổi mà niềm vui chỉ đơn giản là thấy đối phương vừa thả một biểu tượng cảm xúc "Haha" hay những GIF tạo nên tích cách riêng vào bức ảnh chụp vệt mây hình con chó nhỏ.

Để giết thời gian và trút bớt cơn nhớ thương quay quắt đang nén chặt trong lòng, Mở xì lôi xấp giấy vẽ kiêm bộ màu nước mang theo từ Sài Gòn ra hiên nhà.

Cậu yêu vẽ. Đôi bàn tay thô ráp của một gã trai vừa chạm ngưỡng dậy thì khi cầm chiếc cọ lông mềm lại trở nên uyển chuyển lạ kỳ.

Mở xì ngồi dưới bóng mát của cây vú sữa cổ thụ, gió sông thổi lồng lộng làm phập phồng gấu áo thun rộng thùng thình. Cậu pha màu. Sự pha trộn giữa sắc xanh thẫm của vạt dừa nước, màu vàng rực của bóng nắng chiều qua sông và sắc hồng nhạt mỏng manh của những vệt mây hoàng hôn.

Nhưng cậu không vẽ cảnh sông nước đơn thuần.

Dưới vệt cọ lướt nhẹ trên bề mặt giấy nhám, nét vẽ của Mở xì dần hiện lên hình bóng một cô gái nhỏ đang đội chiếc mũ rơm rộng vành, tay cầm một cành hoa điên điển vàng rực, nét mặt tinh nghịch gợn nụ cười có chiếc răng khểnh quen thuộc. Mở xì cẩn thận lồng ghép cảm xúc của mình vào từng vệt màu gạt nhẹ—mỗi vệt màu ngấm vào thớ giấy như từng giọt nhớ thương thấm đượm vào tâm trí gã.

Cậu vẽ như thể nếu không vẽ ra, cái cảm giác ngọt ngào và êm dịu ấy sẽ tràn ra ngoài lồng ngực, biến mất như làn sương ban sáng gác trên ngọn cỏ.

Thế rồi, hai tháng hè ngắn ngủi trôi qua nhanh như một chớp mắt.

Ngày trở lại Sài Gòn, Mở xì ngồi ở ghế sau chiếc xe khách liên tỉnh, đầu tựa vào cửa kính nhìn những hàng cây thốt nốt chầm chậm lùi lại phía sau. Sài Gòn đón gã bằng những cơn mưa rào bất chợt, bằng khói bụi, tiếng còi xe inh ỏi và cái không khí hối hả, vội vã của đô thị.

Quang cảnh phố thị đông đúc, rực rỡ đèn màu đối nghịch hoàn toàn với khoảng không thanh bình, yên ả của miền Tây. Nhưng lòng Mở xì lại xôn xao một niềm vui khó tả: cậu sắp được gặp lại "hcb".

CHIẾC BÁNH 

Nhiều khi muốn hỏi lòng mình...

Thích một người là cảm giác thế nào?

Trở lại Sài Gòn, gặp lại ba là dịp để Mở xì có thê dùng chiếc điện thoại của ba.

Dòng tin nhắn từ hcb gửi cách đó một tháng hiện lên đầu tiên, nằm trơ trọi giữa mớ thông báo:

[hcb]: "Tui tìm khắp miền Tây không thấy... Mở xì!!!” 

Cái ngôn từ ngổ ngáo, cộc lốc của cô bạn mười bốn tuổi khiến Mở xì bật cười thành tiếng. Cái nụ cười làm rạng rỡ cả khuôn mặt ngơ ngác của cậu trai vừa trở về từ miền sông nước.

Nhưng sau cái bật cười ấy là một cơn sóng ngầm êm đềm dâng lên trong lòng. Cô ấy đã tìm cậu. Cô ấy đã nhớ cậu.

Sài Gòn bước vào mùa khai trường. Đám học sinh lớp 9 chìm trong những áp lực đầu đời của kỳ thi chuyển cấp sắp tới—những buổi học thêm dày đặc, những lời nhắc nhở liên tục của thầy cô về điểm số và tương lai. Những áp lực thay đổi của thời đại, của việc phải lớn lên, phải trưởng thành bắt đầu đè nhẹ lên vai những đứa trẻ mười bốn tuổi.

Mở xì có hai niềm đam mê lớn ngoài vẽ: nấu nướng và chơi piano.

Vào một chiều thứ Bảy ngợp nắng vàng như mật đổ qua khung cửa sổ căn phòng nhạc nhỏ, Mở xì quyết định trổ tài làm bánh cookie để tặng "hcb".

Cậu đứng trong gian bếp nhỏ của gia đình, thân hình cao vọt 1m75 đeo chiếc tạp dề màu xám trông vừa buồn cười vừa ngộ nghĩnh. Mở xì cẩn thận rây từng muỗng bột mì mịn màng, đập từng quả trứng gà, rồi tỉ mẩn nhào trộn cùng bơ lạt và vani.

Cậu bỏ vào đó sự kiên nhẫn và nâng niu của tuổi mười bốn. Khi lò nướng phát ra tiếng ting nhẹ nhàng, mùi bơ thơm lừng, béo ngậy tỏa ra khắp không gian, quyện trong hơi ấm của căn bếp—đó là lúc Mở xì nở cụ cười khi nghĩ về người nhận chiếc bánh này.

Cô bạn mười bốn tuổi khoác trên mình chiếc áo sơ mi đồng phục trắng thả ngoài quần jeans, tóc cột đuôi ngựa cao ngạo nghễ, đôi mắt tròn xoe sáng quắc và nụ cười rạng rỡ khoe chiếc răng khểnh đặc trưng.

Rồi cô bé sẽ mở đôi môi chúm chím, trong đôi mắt cười: 

– "Bánh đâu? Tui tới đòi nợ chuyến đi miền Tây mất tích hai tháng của ông nè!" – "hcb" hất cằm, giọng nói trong trẻo và lém bỉnh.

Mở xì sẽ không đáp, cậu chỉ mỉm cười dịu dàng, chìa ra đĩa bánh cookie nướng vàng ươm còn nghi ngút khói.

Cô gái nhỏ sẽ tròn mắt ngạc nhiên, rồi bật cười rạng rỡ. Cô cắn thử một miếng, vị ngọt thanh của bơ, vị giòn rụm của vỏ bánh và độ xốp mềm bên trong tan chảy nơi đầu lưỡi, tuôn ra những ngôn từ trong giọng nhẹ tựa mây trôi.

– "Ngon xỉu luôn á Merci! Ông làm thiệt hả? Không ngờ luôn, thiệt chứ!"

Nghĩ đến đó, Mở xì đỏ mặt, gãi đầu gãi tai vụng về. Cậu cho phép mình thư giản nơi chiếc đàn piano cơ màu đen xì nằm im lìm dưới ánh nắng chiều chiếu xiên qua rèm cửa.

Cậu ngồi xuống trước cây đàn. Bờ vai rộng của gã trai mười bốn tuổi hơi nhô lên, đôi bàn tay thuôn dài, mảnh khảnh đặt nhẹ lên những phím đàn đen trắng.

Ngay khoảnh khắc ấy, không gian xung quanh dường như dừng lại. Mở xì bắt đầu lướt những ngón tay trên phím đàn, cất lên những giai điệu đầu tiên của bản nhạc kinh điển "Merry-Go-Round of Life"—bản nhạc chủ đề trong bộ phim hoạt hình nổi tiếng Howl's Moving Castle.

Tiếng đàn vang lên, khi thì dồn dập, nhộn nhịp như những bước chân nhảy múa của tòa lâu đài di động trên đồi cỏ xanh, khi thì tha thiết, êm đềm như dòng sông trôi qua miền ký ức.

Mở xì chơi nhạc bằng toàn bộ tâm trí. Chẳng quá khó để người nghe nhận ra những nốt nhạc đã khác hẳn những lúc ban đầu tìm đến.

Những tiếng nốt cao ngân vang như tiếng cười của "hcb", những nốt trầm sâu lắng như cái siết tay ngập ngừng mà cậu chưa bao giờ dám thực hiện.

Bản nhạc lướt đi như một vệt sáng trong trẻo, cuốn trôi mọi khói bụi, mọi áp lực thi cử ngoài kia, chỉ còn lại âm nhạc, hương vị bánh ngọt và hai đứa trẻ mười bốn tuổi giữa căn phòng ngợp nắng.

Những tưởng, "hcb" ngồi tựa gối trên chiếc ghế sofa, đôi mắt tròn xoe ngước nhìn Mở xì.

Lần đầu tiên, cô gái nhỏ tinh nghịch, hay chọc phá ấy giữ im lặng hoàn toàn. Cô nhìn bờ lưng cao gầy của Mở xì, nhìn đôi bàn tay lướt trên phím đàn đầy mê hoặc, và cảm nhận một nhịp đập lạ kỳ vang lên trong lồng ngực mình.

Khi nốt nhạc cuối cùng ngân lên rồi nhẹ nhàng tan vào không gian im lìm của buổi chiều tà, Mở xì quay đầu lại, đôi mắt sáng lấp lánh nhìn "hcb":

– "Ông thấy sao? Tui tập bài này cả mùa hè á..."

"hcb" không trả lời ngay. Cô bước lại gần cây đàn, đưa bàn tay nhỏ nhắn của mình ra, khẽ chạm nhẹ vào mu bàn tay thô ráp của Mở xì. Một cái chạm nhẹ như cánh hoa rơi, nhưng đủ để làm cả hai đứa trẻ cùng đỏ bừng mặt.

– "Cảm ơn ông nha, Mở xì... Bài nhạc đẹp lắm."

Cả hai cùng bật cười—những tiếng cười trong trẻo, ngô nghê vang lên giữa không gian tràn ngập mùi bánh nướng thơm lừng và ánh hoàng hôn đỏ rực gác trên những ô cửa kính Sài Gòn.

https://chienphan.blogspot.com/2012/08/hay-yeu-nhau-i.html

***


SUN SHADOWS

The time has come to softly bid farewell to my first love...

A sweet book that the two of us once wrote together...

(A nostalgic love song – Lofi Version)

The ferry horn sounded with a long, deep, resonant blare across the vast expanse of murky water. Underneath the hull, the river swirled thick with silt, churning into silver-capped ripples under the scorching summer sun of the Mekong Delta.

The fourteen-year-old boy stood leaning his back against the ferry railing. He was strikingly tall, standing five feet nine inches—a surprisingly rapid growth spurt of early adolescence that contrasted sharply with his narrow shoulders and fine-featured face, which still bore subtle traces of clumsy teenage acne.

His name was Mở xì—a Vietnamese phonetic play on Merci, the French word for "thank you," affectionately given to him as a nickname by his classmates after his father, a man hopelessly enamored with old-school romance, named his eldest son.

Mở xì fiddled with his father's worn-out smartphone. Across the screen ran a hairline crack thin as a strand of hair, where the last message sent hours ago remained isolated in the blurry void of spotty signal:

[Mở xì]: "I've gotta go back to my hometown now. Might be out of touch for a long while!"

No green light lit up. No three blinking dots appeared to signal that the other party was typing. All that answered him was the heartbreaking blast of the ferry horn and cluster after cluster of water coconuts drifting lazily along the shore.

For the first time in his life, the fourteen-year-old boy understood what it meant to "kind of like" someone. It wasn't a sense of possessiveness or the calculating pressure of adult romance. It was fragile, clear, and innocent as a streak of white cloud drifting across a summer sky—intensely blue, swaying, and setting off quiet flutters inside his chest.

Throughout that summer break at his paternal grandparents' home on Chợ Mới river island, Mở xì lived at a slow pace, surrounded by golden sunlight and the hum of cicadas echoing beneath spreading tree canopies.

Yet his mind drifted continuously toward a Zalo account with a hilariously brief username: hcb—short for "Hổ con báo" (Little Naughty Tiger).

She was his 8th-grade classmate in Saigon—a petite girl with big round eyes, an unruly snaggletooth, and a mischievous streak, always ready to cause playful chaos at any moment.

Since he hadn't been given his own phone yet, Mở xì had to share his father's smartphone. Every night, once his father had fallen asleep to the long, weary sighs of a middle-aged man, Mở xì would quietly slip the phone beneath his thin blanket, staying up to scroll through the screen, eagerly waiting for a message from "hcb".

Summer nights in the countryside were rich with the scent of wild grass and the buzz of mosquitoes outside the window. The soft blue glow from the screen illuminated Mở xì's angular face, bringing out a gentle, goofy smile whenever "hcb" talked about dropping her pencil or getting reprimanded by the teacher for resting her feet on her chair.

Their clumsy, random conversations lacked grand rhetoric, yet held all the sincerity of fourteen-year-olds—an age when joy came simply from seeing the other person react with a "Haha" emoji or playful GIFs that reflected their unique personality on a photo of a dog-shaped cloud.

To pass the time and pour out the aching fond thoughts bottled up inside, Mở xì brought out the pad of watercolor paper and paints he had carried from Saigon to the front porch.

He loved drawing. The rough hands of a teenage boy reaching puberty suddenly became surprisingly graceful whenever he held a soft brush.

Mở xì sat in the shade of an ancient star apple tree, the river breeze blowing gently and puffing up his oversized T-shirt. He mixed his paints: blending the deep green of water coconuts, the brilliant gold of afternoon sunlight shimmering over the river, and the delicate pink hue of twilight clouds.

Yet he wasn't merely painting a river landscape.

Beneath the soft strokes sweeping across the textured paper, Mở xì's painting gradually revealed the silhouette of a petite girl wearing a wide-brimmed straw hat, holding a branch of bright yellow Sesbania blossoms, her mischievous face bearing that familiar snaggletooth smile. Mở xì carefully poured his feelings into every light brushstroke—each dab of paint soaking into the paper like quiet thoughts saturating his mind.

He painted as though if he didn't capture it on paper, that sweet, gentle feeling would overflow from his chest and vanish like morning dew resting on the grass.

And just like that, the brief two months of summer flew by in the blink of an eye.

On the day he returned to Saigon, Mở xì sat in the back seat of an intercity bus, leaning his head against the window, watching rows of palmyra palms slowly retreat behind him. Saigon welcomed him back with sudden rainstorms, urban dust, blaring horns, and the rushed, restless tempo of the city.

The bustling cityscape, glowing with vibrant lights, stood in stark contrast to the peaceful, quiet expanse of the Mekong Delta. Yet Mở xì's heart fluttered with an indescribable joy: he was about to see "hcb" again.

THE COOKIES

Sometimes I want to ask my heart...

What does it feel like to like someone?

Back in Saigon, being reunited with his father meant Mở xì could once again use his father's phone.

The message sent from hcb a month ago appeared right at the top, sitting isolated amid a clutter of notifications:

[hcb]: "I looked all over the West and couldn't find you... Mở xì!!!"

The blunt, sassy phrasing of his classmate made Mở xì burst out laughing—a smile that brightened the bewildered face of the boy who had just returned from the riverlands.

Yet beneath that laugh was a quiet, soothing wave rising in his chest. She had looked for him. She had missed him.

Saigon entered the back-to-school season. The 9th-graders sank under the early pressures of upcoming high school entrance exams—dense schedules of extra classes, constant reminders from teachers about grades and the future. The weight of changing times, of growing up and maturing, began to settle quietly onto the shoulders of fourteen-year-old kids.

Mở xì had two great passions besides drawing: cooking and playing the piano.

On a Saturday afternoon drenched in honey-golden sunlight streaming through the window of the cozy music room, Mở xì decided to try his hand at baking cookies to give to "hcb".

He stood in his family's small kitchen, his tall 5'9" frame wrapped in a grey apron that looked both endearing and funny. Mở xì carefully sieved smooth spoonfuls of flour, cracked eggs one by one, and meticulously kneaded them together with unsalted butter and vanilla.

He mixed in all the patience and tender care of his fourteen years. When the oven let out a gentle ding, the rich, fragrant aroma of baked butter filled the air, blending with the warmth of the kitchen—that was the moment Mở xì smiled, imagining the person who would receive these cookies.

The fourteen-year-old girl would be wearing her untucked white school shirt over jeans, her high ponytail swinging proudly, her big round eyes sparkling brightly alongside her signature snaggletooth smile.

And then she would part her lips, her eyes crinkling with amusement:

– "Where are the cookies? I'm here to collect my debt for your two-month vanishing act in the West!" "hcb" would tilt her chin up, her voice clear and playful.

Mở xì wouldn't argue back; he would simply smile warmly and offer a plate of golden-baked, piping-hot cookies.

The girl's eyes would widen in surprise before breaking into a bright laugh. She would take a bite, tasting the delicate sweetness of butter, the crispy crust, and the soft, melt-in-your-mouth center, letting out words as soft as drifting clouds:

– "Omg, it's insanely delicious, Merci! Did you really make this yourself? For real, I'm genuinely shocked!"

At the thought, Mở xì blushed, awkwardly scratching his head. He allowed himself to relax beside the glossy black upright piano resting quietly under the slanting afternoon sun through the curtains.

He sat down at the instrument. The broad shoulders of the fourteen-year-old boy rose slightly as his long, slender fingers rested gently on the black and white keys.

In that very moment, the world around him seemed to stand still. Mở xì began gliding his fingers across the keys, drawing out the opening notes of the classic piece "Merry-Go-Round of Life"—the main theme from the famous animated film Howl's Moving Castle.

The music resonated, at times lively and bustling like the dancing steps of the moving castle across green hills, at other times gentle and soulful like a river flowing through memory.

Mở xì played with all his heart. It wasn't hard for anyone listening to tell that his melody was completely different from when he first started learning the piece.

The high notes rang out bright like "hcb"'s laughter, while the deep, resonant low notes felt like the hesitant hand-holding he had never dared to initiate.

The music flowed like a beam of pure light, sweeping away all the city dust and exam stress outside, leaving only music, the scent of fresh baked cookies, and a fourteen-year-old boy playing in a sunlit room.

He could almost imagine "hcb" resting her chin on her knees on the sofa, her big round eyes looking up at him.

For the first time, that playful, mischievous girl remained completely quiet. She watched Mở xì's tall, lean back, watched his hands glide enchantingly over the keys, feeling a strange, new flutter inside her chest.

As the final note echoed and softly faded into the quiet afternoon air, Mở xì turned his head, his eyes shining brightly as he looked at "hcb":

– "What do you think? I practiced this all summer..."

"hcb" wouldn't answer right away. She would step closer to the piano, reaching out her small hand to lightly touch the back of Mở xì's rough hand—a touch as delicate as a falling petal, yet enough to turn both of their faces bright red.

– "Thank you, Mở xì... The music was truly beautiful."

And both of them would laugh—innocent, clear laughter ringing out amidst the sweet aroma of fresh cookies and the vibrant red sunset lingering over the glass windows of Saigon.

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

[Sách] Jazz ở Hà Nội - Tan - Tangbau


 "Jazz không nằm ở những nốt nhạc nung nấu trong khuông nhạc xơ cứng. Nó là nhát cắt ứng tác trần trụi của bản thể—nơi tiếng kèn saxophone rền rĩ nghẹn ngào xé rách sự phẳng lặng của đêm đen, nối liền vệt ức ức viễn xứ với tiếng thở dại thô mộc của cội nguồn."

Công bằng mà viết, nó biết đến Jazz, đầu tiên phải kể đến saxophone—thứ nhạc cụ có thanh âm ma mị, da thiết làm nó mê đắm đến hoại tử cả xúc cảm. Và để rõ ràng hơn nữa, người đã khơi gợi, rạch tung cánh cửa đưa nó bước vào địa hạt âm nhạc đầy mê dụ ấy chính là Trần Mạnh Tuấn.

Đó là cả một vệt ký ức lảng bảng ở ngưỡng trời chao đảo giữa những năm tháng cuối cấp phổ thông và bước chân đầu tiên vào ngưỡng cửa đại học. Ngày ấy, cô bạn học chuyên Lê Hồng Phong tròn tuổi mộng đã dắt nó tìm về "thánh địa" của những khoảng lặng: nơi quầy đĩa bày bán ngăn nắp trong nhà sách Xuân Thu nằm khép mình trên con đường Đồng Khởi sầm uất. Ngót nghét đã mấy chục năm trôi qua. Mùi giấy cũ, ánh đèn vàng ám bụi và những bìa đĩa CD xếp hàng đờ đẫn ngày ấy vẫn đọng lại trong tâm khảm nó như một vệt sơn chưa kịp khô.

"Về quê" của Phó Đức Phương qua tiếng kèn saxophone Trần Mạnh Tuấn trở thành giai điệu hòa khí trinh nguyên mà nó chọn lựa. Dù bản chất gốc mang đậm âm hưởng dân gian Bắc Bộ, nhưng qua ngón bấm và hơi thở ứng tác biến tấu tự do của Trần Mạnh Tuấn, câu kèn đã mang trọn vẹn tinh thần Smooth Jazz—vừa mềm mại, vừa phá phá mọi rào cản khuông nhạc xơ cứng. Có một gã sinh viên cứ nghe miết đến đĩa mòn. 

Nó thường thả cho tâm hồn mình dìu dắt vào giai điệu ấy trong những phút giây khắc khoải tìm kiếm xúc cảm để viết bài, hay đơn giản chỉ là để tự mình "hồn lây lất" qua những ngày dài cô độc. Bên cạnh những bản tấu bốn mùa (Four Seasons) kiêu hãnh của Vivaldi hay những bản hòa tấu thanh khiết của Mozart miệt mài đi tìm lại bóng hình ấu thơ và sự biến chuyển diệu kỳ của thiên nhiên, tiếng kèn saxophone

Để rồi ngày hôm nay, cô em "giám tuyển" của riêng nó—một danh xưng đằm thắm nó trân trọng dành riêng cho em—đã gửi vào Nam một thước phim hành trình đầy đặn. Thước phim ấy như một chiếc chìa khóa đồng mở ra cánh cửa lịch sử Việt đan cài cùng từng vệt trầm tích của Jazz.

Nó bước chân theo cuốn sách của Tan - Tangbau, mở cửa. Tác phẩm "Jazz ở Hà Nội" xuất hiện như một khoảng trắng thẩm mỹ tĩnh lặng, đưa nó trôi dạt ngược dòng thời gian, lần tìm về những vệt ký ức lỏng lẻo của một thời sinh viên lang bạt.

Những năm tháng sinh viên ở Sài Gòn, có những đêm mưa rơi chao đảo, nó lang thang qua đường Nguyễn Du, tạt vào góc quán Saxn'Art của Trần Mạnh Tuấn. Giữa không gian đặc quánh khói thuốc và ánh đèn vàng mờ ỉu, tiếng kèn saxophone ngập tràn tính ứng tác cất lên. Nhạc Jazz ở đây không phô trương; nó là tiếng lòng tự do, là sự ngẫu hứng đâm thủng mọi quy chuẩn. 

Và khi lẽo đẽo theo Tan - Tangbau, ký ức Sài Gòn ấy dội ngược, kết nối với một Hà Nội, nó chứng kiến hành trình lẫy lừng của Jazz chốn Bắc Hà: từ những ngón đàn guitar, piano du nhập thời tiền chiến, những đêm nhạc lén lút trong chiến tranh gian khổ, cho đến sự hình thành của Bình Minh's Jazz Club bên hông Nhà hát Lớn dưới sự gầy dựng kiên trung của nghệ sĩ Quyền Văn Minh. Jazz ở Hà Nội hay Sài Gòn, suy cho cùng, đều là tiếng kêu xé ruột của những bản thể khao khát tự do, dùng âm nhạc để phẫu thuật sự cô đơn chốn đô thị.

Như thể nghe em nói, nhỏ nhẹ và thấu suốt giữa tiếng mưa dầm chốn đô thị: 'Anh à, Jazz nước mình đâu chỉ có mỗi Tuấn?

Đó là Quyền Văn Minh—người anh cả đã gầy dựng nên Bình Minh's Jazz Club bên hông Nhà hát Lớn Hà Nội, kẻ dũng cảm đặt những viên gạch nền móng đầu tiên cho Jazz Việt giữa những năm tháng gian khổ.

Đó là Quyền Thiện Đức—người nối nghiệp tiếp quản ngọn lửa, mang tư duy hiện đại thổi vào từng phím kèn da thiết.

Đó là Nguyễn Bảo Long cùng ban nhạc JumpforJoy—thế hệ trút toàn bộ năng lượng trẻ trung, biến Jazz thành một cuộc đối thoại sinh động, cởi mở giữa phố phường; Và là những ngón đàn tài hoa của An Trần, Hoàng Mẫn, hay Nguyễn Tiến Mạnh... những người trẻ mang Jazz Việt vươn ra đại dương bao la, không phải để vay mượn hay, mà để thốt lên tiếng nói nguyên bản của thế hệ mình. Nó gặp lại cả một Trần Tiến thời thanh xuân ngông nghênh với những nốt nhạc đã phải nằm trong danh sách "lưu ý" của thời đại bấy giờ.

Jazz ở Hà Nội hay Jazz ở Sài Gòn, suy cho cùng, đều là tiếng kêu xé ruột của những bản thể khao khát tự do. Họ dùng âm nhạc để phẫu thuật sự cô đơn, biến những đau thương rứt rách thành thứ nghệ thuật trinh nguyên, bất chấp sự bóp nghẹt của hoàn cảnh.

Tan - Tangbau đã không dừng lại ở những góc phố cổ Hà Nội. Qua từng trang biên khảo mẫn cảm, tác giả dắt tay nó bước vào một hành trình viễn xứ bao la, nơi Jazz cất tiếng hát ở khắp nơi trên thế giới.

Nó lắng nghe tác giả rủ rỉ giải mã cội nguồn nguyên bản của thứ âm nhạc ma mị này. Jazz không sinh ra trong các nhung lụa đài các. Nó đâm chồi từ những cánh đồng bông nắng cháy miền Nam nước Mỹ, từ tiếng hò lao động (Work songs) nén chặt nỗi đắng cay của những thân phận nô lệ da đen bị tước đoạt cội nguồn. Trong đêm đen của sự áp bức, họ cất lời ca—không phải để van xin, mà để nương tựa vào nhau, để cống hiến cho hư không những lời thủ thỉ trần trụi về thời mình, về những đớn đau, tủi nhục và nỗi khát khao tự do tột cùng. Từ Mỹ đến Nhật, cả một Shanhai rồi trở lại Hà Nội, Sài Gòn, jazz như viết lại lịch sử bằng những nốt nhạc trên nền nhạc cụ. 

Từ Mỹ đến Nhật, lướt qua một Thượng Hải phồn hoa chìm đọng trong sương mù lịch sử, rồi trôi dạt trở lại với Hà Nội cổ kính và Sài Gòn hối hả. Tan - Tangbau đã dẫn dắt nó dấn thân vào một hải trình âm thanh bao la. Jazz không chịu nằm yên trong bất kỳ biên giới địa lý nào. Bằng thứ ngôn ngữ thô mộc của nốt nhạc và hơi thở nén chặt nơi khuông nhạc ứng tác, Jazz âm thầm viết lại lịch sử—một lịch sử không xây bằng gạch đá hay những chiến công kiêu hãnh, mà được tạc nên bởi những vết đớn đau, sự bất tuân và lòng khát khao tự do tột cùng của con người.

Rồi cũng phải nói lời tạm biết Tan Tangbau, nó trở lại những phím gõ và tiếng jazz cũng day dứt, khơi nguồn cảm xúc dâng.

***


To write fairly, its entry into Jazz began first and foremost with the saxophone—that instrument possessing a spellbinding, agonizing voice that enchanted It to the point of emotional necrosis. And to be even more precise, the person who unlocked and slashed wide open the door to that intoxicating realm of music was Tran Manh Tuan.

It was a hazy trail of memory lingering at the unsteady threshold between the final years of high school and the first steps into university. In those days, a high-school classmate from Le Hong Phong, then in the sweet prime of youth, guided It back to the "sanctuary" of quiet intervals: the orderly rows of disc counters inside Xuan Thu Bookstore, nestled along the bustling Dong Khoi Street. Decades have drifted by since. The scent of aged paper, dust-kissed yellow light, and lifeless CD covers lined up back then still linger within its soul like a coat of paint not yet dry.

Phung Duc Phuong’s "Ve Que" (Returning Home), channeled through Tran Manh Tuan’s saxophone, became the pristine melody of harmony It chose. Though rooted deeply in the folk motifs of the Northern delta, through Tran Manh Tuan’s fingering and freely improvised breath, the phrasing embodied the full spirit of Smooth Jazz—soft yet shattering every rigid barrier of the musical stave. There was a university student who played the CD endlessly until the disc wore thin.

It would often let its soul be guided by that melody during agonizing moments of searching for emotion to write, or simply to drift "languid and lost" through long, solitary days. Alongside Vivaldi’s proud Four Seasons or Mozart’s pure concertos tirelessly seeking lost shadows of childhood and the miraculous shifts of nature, the saxophone’s voice stood apart.

And then today, its personal "curator"—a tender title It lovingly reserves for her—sent South a rich, full journey on film. That footage acted like a brass key opening the doors of Vietnamese history, interwoven with every sedimented layer of Jazz.

It steps in behind Tan - Tangbau’s book, opening the door. Jazz in Hanoi emerges like a tranquil aesthetic void, drifting It back against the current of time, tracing loose, fraying memories of a wandering student life.

During student years in Saigon, on nights when rain fell unsteadily, It would wander down Nguyen Du Street, ducking into a corner of Tran Manh Tuan’s Saxn'Art. Amidst a space thick with cigarette smoke and dim yellow light, the saxophone’s voice rose, brimming with improvisation. Jazz here was unpretentious; it was the voice of a free heart, an outburst of spontaneity piercing through all rigid norms.

And as It followed Tan - Tangbau, those Saigon memories surged back, connecting with Hanoi as It witnessed the glorious journey of Jazz in the Northern land: from pre-war guitar and piano chords brought from afar, secretive musical nights during grueling war years, to the founding of Binh Minh's Jazz Club beside the Hanoi Opera House under the steadfast stewardship of artist Quyen Van Minh. Jazz in Hanoi or Jazz in Saigon, at its core, was the soul-shattering cry of beings craving freedom, using music to dissect urban loneliness.

As if hearing her murmur, soft and penetrating amid the urban drizzle: "Anh, our country's Jazz isn't just Tuan, you know?"

It was Quyen Van Minh—the eldest brother who built Binh Minh's Jazz Club beside the Hanoi Opera House, the courageous soul who laid the very first foundation stones for Vietnamese Jazz during grueling years.

It was Quyen Thien Duc—the heir taking up the flame, breathing modern thought into every poignant key.

It was Nguyen Bao Long alongside the band JumpforJoy—a generation pouring out youthful energy, transforming Jazz into a vivid, open dialogue across city streets; and the gifted hands of An Tran, Hoang Man, or Nguyen Tien Manh... young souls carrying Vietnamese Jazz out into the boundless ocean, not to borrow or imitate, but to utter the original voice of their own generation. It even encountered a youthful, reckless Tran Tien, whose notes once sat on the era's "watch list."

Jazz in Hanoi or Jazz in Saigon, at its core, was the soul-shattering cry of beings craving freedom. They used music to dissect loneliness, transforming jagged, torn anguish into pristine art, defying the strangulation of circumstances.

Tan - Tangbau did not halt at the ancient corners of Hanoi. Through every sensitive page of research, the author led It by the hand into a vast journey abroad, where Jazz sings across every corner of the world.

It listened to the author softly decoding the raw origins of this spellbinding music. Jazz was not born in aristocratic silks. It sprouted from sun-scorched cotton fields in the American South, from labor work songs compressing the bitter plight of black slaves stripped of their roots. In the dark night of oppression, they raised their voices—not to beg, but to lean on one another, offering the void raw whispers about their lives, their era, their pain, humiliation, and ultimate thirst for freedom. From America to Japan, across an entire Shanghai, and returning to Hanoi and Saigon, Jazz re-wrote history with notes struck across instruments.

From America to Japan, sweeping past a opulent Shanghai submerged in historical mist, then drifting back to ancient Hanoi and hurried Saigon, Tan - Tangbau led It to embark upon a vast acoustic voyage. Jazz refuses to rest within any geographic border. Through the rustic language of notes and breath compressed upon improvisational staves, Jazz silently re-wrote history—a history not built of stone, mortar, or proud conquests, but carved out of human pain, defiance, and an ultimate longing for freedom.

And then, bidding farewell to Tan - Tangbau, It returned to the clicking keys as the sound of Jazz lingered, poignant, stirring a surging tide of emotion

[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...