Chiến Phan

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

Nhật ký của cha - Merci - Tảo mộ [Dad'sDiary: The Dawn Journey to the Roots]


“Ai rồi cũng về nơi đây con ạ,” ông già chỉ cho thằng nhóc những ngôi mộ trẻ, những đứa nhỏ, những người lớn chứ không chỉ có người già. “Sự sống và cái chết luôn song hành, như sáng và tối vậy.”

Sài Gòn lúc tờ mờ sáng và cây cầu của những giấc mơ

Sài Gòn. Tháng Chạp nũng nịu rất riêng. Nó không lạnh buốt như cái rét của miền Trung quê cha. Nó se lạnh, cái lạnh đủ để người ta muốn xích lại gần nhau hơn, nhưng cũng đủ tỉnh táo để bắt đầu một hành trình mà "Ông già" gọi là "đi tìm gốc rễ".

Tảo mộ. Tờ mờ sáng. Kim đồng hồ nhích từng bước lười biếng. Ông già và Merci. Thằng nhóc mười ba tuổi, đang ở cái ngưỡng lẻ ra "giấc ngủ là chân lý", vặn vẹo thân hình như một con sâu bướm đang cố thoát khỏi cái kén chăn ấm, đằng này thằng nhóc ngồi chờ sẵn ông già để bắt đầu một chuyến đi.

Lủi thủi dắt xe ra khỏi hẻm. Đường phố lúc này chưa nhiều tiếng còi xe inh ỏi, chỉ có tiếng chổi tre quét rác ràn rạt trên mặt đường của những người công nhân vệ sinh.

Bầu trời lúc này là một bức tranh sơn dầu chưa khô. Những mảng màu xanh đen đậm đặc bắt đầu bị pha loãng bởi một dải màu tím than và hồng nhạt ở phía chân trời. Những áng mây lơ lửng, xếp lớp lên nhau như những chiếc vảy cá khổng lồ, trôi lững lờ như chẳng muốn đánh thức thành phố đang say ngủ. Đối nghịch với vẻ tĩnh lặng của bầu trời là những ánh đèn đường vàng vọt, cô độc, chiếu xuống mặt đường nhựa còn đọng sương đêm, tạo nên một cảm giác vừa liêu trai vừa ấm áp.

Khi xe lăn bánh qua cầu Bình Triệu, gió sông thổi thốc vào mặt, tỉnh cả người. Merci ngồi sau, hai tay đút túi áo khoác, bắt đầu ngắm một ánh bình minh đang lên, nơi những tòa nhà như xuyên vào bầu trời. Lố nhố.


Đời buôn gánh bán bưng. Chợ sáng đã bắt đầu nhóm họp. Những sạp hoa rực rỡ sắc màu: hoa vạn thọ vàng rực cả một góc đường, hoa ly thơm nồng nàn, và những bó cúc trắng tinh khôi. Cô bán hàng đon đả mời chào, cạnh bên là cô con gái nhỏ, chừng độ tuổi của thằng nhóc, đang phụ mẹ bó những nhành huệ trắng bằng sự tỉ mỉ của một nghệ nhân nhí. Merci nhìn chăm chú. 

Ông già không đáp, nghĩ về những đứa trẻ phải lớn nhanh hơn tuổi của mình. Cười. Khen. Con gái giỏi, rồi đi. Đường đi bắt đầu nhiều khói bụi hơn khi dòng người đổ về phía ngoại ô ngày một đông. Những chiếc xe chở đầy quà Tết, những chậu mai vàng rực rung rinh sau yên xe máy, tất cả tạo nên một không khí hối hả, như thể ai cũng đang chạy đua với thời gian để kịp về nhà.

Chuyện trò. Nghĩa trang liệt sĩ. Chủ đề thằng nhóc hỏi về nơi nằm xuống của cha, ông; có phải nằm ở nơi đó không. Rối lòng. Ông già khơi lại từ điển lưu giữ trong đầu mình. Tâm tưởng. Nghĩa trang liệt sĩ hiện ra dưới ánh bình minh rực rỡ. Nơi tưởng nhớ về những con người đã ngã xuống, vô danh. Xe vẫn lướt đi trên một chủ đề được nói tiếp. Thằng nhóc của ông già tưởng nhớ về một nơi được khắc ghi, có tên những chú, bác và ông mình. 

Trò chuyện. Thằng nhóc hỏi về dòng họ. Ông già bắt đầu kể cho thằng nhóc nghe về cha ông – những câu chuyện mà chính ông già cũng từng được nghe kể lại từ “người tình tóc bạc” (mẹ của ông già), từ chị, từ các anh. Gia đình vốn có một bức ảnh cũ bị khuyết mất một góc hình – một khoảng trống bí ẩn của lịch sử. Và giờ đây, chỉ có thằng nhóc Merci đi cùng ông già để dặm vá lại những ký ức đó.

Thằng nhóc tò mò hỏi về ông nội – người lính biệt động thành năm nào. “Ông nội sống ở đâu và vì sao lại ra đi hả ba?”

Ông già chạy chậm lại. Ôn một hoài niệm cũ, lục lọi ký ức chắt chiu trong hành trình lần mò về quá khứ. “Ông nội con từng sống ở quận Nhất, được cấp nhà ở đường Ngô Tùng Châu giờ là đường Lê Thị Riêng, trong cùng con hẻm nhỏ người nghệ sĩ tài danh Thanh Nga, người đã ra đi khi độ tuổi xuân thì. Những vết thương chiến tranh không chỉ hằn trên da thịt mà còn giấu kín trong lồng ngực. Rồi lần lượt, ông cũng ra đi trong chính con hẻm nhỏ đó, vì những vết thương cũ tái phát.”


Merci im lặng. Ông già tưởng đoán. Nó nhìn vào bóng tối của những con hẻm, có lẽ đang tưởng tượng về một thời rực lửa mà ông nội nó đã đi qua. Khi đi qua nghĩa trang liệt sĩ, ông già giải thích một cách giản đơn rằng: “Nơi đó là chốn giấu của những con người đã ngã xuống. Có những bia mộ vô danh đến giờ vẫn chưa tìm lại được người thân. Đó là cách để mình học cách trân trọng cuộc sống, trân trọng hòa bình mà mình đang có.”

Đời mộ. Những cuộc đời gắn bó với bia mộ, mộ bia. Chuyện trò, sau gần cả năm gặp lại. Người nói với mộ, mộ im. Người nói với người giữ mộ, kẻ còn, người mất. 

Đất, nước, gió và chuyện “đầu heo” làng Sình

“Đây là con trai lớn em, em dẫn đi để biết nơi ông cha chúng nó nằm xuống”. Đi đến mộ nào, ông già cũng nói. 

Nơi mộ ông. Ông già nói với người giữ mộ, gã đàn ông đã gậy sộp theo năm tháng, chiếc áo sơ mi kẻ sọc cũng bắt đầu sờn bạc theo tháng năm.

Nơi mộ cha. Ông già nói với người chăm mộ, gã đàn ông giờ rạng rỡ một nụ cười, ánh mắt ánh lên tia sáng khi kể về cuộc sống của hiện tại, hai đứa con gái đã trưởng thành, yên bề gia thất, có công việc đàng hoàng để bớt lắng lo, đưa làm nghề giáo, đứa làm mua hàng của một siêu thị Nhật. Cười. Ông già nói: nói cháu nó cố gắng anh nha. 

Quét dọn, lau chùi, dọn dẹp. Thấp đèn, đốt hương, sau khi mâm bánh trái đủ đầy, hoa nở rộ một góc mộ. Thằng nhóc bắt đầu cúng kiến cùng với ông già với những câu hỏi lần giở về một thế giới mới. 

“Ông cố là người thế nào ba? Sao trên bia lại ghi ba chữ Bình - Trị - Thiên?”

Ông già ngồi xuống bên nấm mộ, kể về người đàn ông trưởng tộc quyền uy ở làng Sình, Thừa Thiên. “Ngày xưa, mỗi dịp lễ lạt, ‘đầu heo’ phải được mang để dành riêng, để kính dâng và để ông cố ngồi ở chiếu trên cùng. Đó là cái uy của người đứng đầu. Rồi chuyện ‘đích tôn’ truyền thừa qua bác hai, rồi đến anh hai... những con người của một thời đại cũ, chẳng biết giờ thế hệ trẻ có còn thiết tha nhớ đến không.”

Ông già giải thích cho Merci về ba chữ Bình Trị Thiên – một dòng lịch sử của mảnh đất từng sáp nhập, tách rời rồi lại hợp nhất của ngày hôm nay. Merci xoa nhẹ lên tấm bia đá lạnh ngắt, 

“Ai rồi cũng về nơi đây con ạ,” ông già chỉ cho thằng nhóc những ngôi mộ trẻ, những đứa nhỏ, những người lớn chứ không chỉ có người già. “Sự sống và cái chết luôn song hành, như sáng và tối vậy.”

Đang tải lên: Đã tải 166418/166418 byte lên.


Những người giữ mộ và tập tục đời người

Ông già gọi để nhắc mình nhớ. Ông già giới thiệu Merci với những con người giữ mộ. Ông gọi tên từng người một cách thân thiết, như sợ nếu mình quên gọi, tên họ sẽ tan biến vào thinh không. 

Ông già gọi để nhắc nhớ mọi người, để lỡ mai sau có đứa trẻ tìm về, có người dẫn đường cho chúng tìm về mộ của ông cha. Ông già sẻ chia cho con trẻ một tập tục của cha ông – thứ mà có lẽ nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng có thể viết cả một cuốn sách dày để phân tích.

Ông già chẳng muốn đặt gánh nặng lên vai đám trẻ làm gì, chỉ là muốn cho nó biết cuộc sống có cái chi, có một tập tục như thế, một sợi dây liên kết vô hình giữa người sống và người chết. Cười. Ông già của ngày xưa của hai ba mươi năm về trước, chắc không tưởng tượng được mình của hôm nay, cũng bắt đầu tập giữ gìn những gì mà ông bà từng kể, để đám trẻ mường tượng về một cuộc sống của cha ông, về cội nguồn của một dòng lịch sử.

“Con chỉ cần biết thôi, không cần phải ‘gồng’ mình lên để gánh vác đâu,” ông già vỗ vai thằng nhóc khi thấy nó đang đứng nhìn chăm chú một ngôi mộ vô danh.

Cuối tuần, Sài Gòn bắt đầu “lang bạt” nắng. Bình minh rực rỡ lúc sớm mai đã nhường chỗ cho cái nóng bắt đầu len lỏi. Con người từ khắp nơi bắt đầu đổ ra đường, trả lại cho Sài Gòn cái vẻ ngất ngư, hối hả của những ngày cuối năm.

Hai cha con trở về nhà khi cái nắng đã đậu vàng trên vai áo. Merci mệt phờ. Sau một buổi sớm tảo mộ, sau những câu chuyện về ông nội biệt động, về ông cố trưởng tộc và những ngôi mộ trẻ,...thằng nhóc hứng thú về một câu chuyện khác của cuộc sống này. Chẳng phải sinh, mà là tử.

https://chienphan.blogspot.com/2013/01/at-gio-mua-chuyen-tro-mot-som-thanh-minh.html

***


“Everyone will eventually return here, son,” the Old Man said, pointing to the graves of the young, the children, and the adults, not just the elderly. “Life and death always go hand in hand, like light and darkness.”

Saigon at Dawn and the Bridge of Dreams

Saigon. The twelfth lunar month has its own peculiar way of being coquettish. It isn’t the biting, bone-chilling cold of the Father's Central hometown. It is a brisk chill—just enough to make people want to huddle closer, yet sharp enough to keep one alert to begin a journey that the "Old Man" calls "the search for roots."

Visiting ancestral graves. Daybreak. The clock hands move with a lazy reluctance. The Old Man and Merci. A thirteen-year-old boy at an age where "sleep is the ultimate truth," wriggling like a caterpillar trying to escape its warm blanket cocoon. Yet, here he was, sitting ready, waiting for the Old Man to begin the trip.

They quietly wheeled the motorbike out of the alley. The streets were not yet filled with the chaotic blare of horns, only the rhythmic shush-shush of bamboo brooms against the pavement as sanitation workers swept the night away.

The sky at this hour was an unfinished oil painting. Thick patches of deep blue-black were being diluted by a streak of charcoal violet and pale pink on the horizon. Clouds hovered, layered like giant fish scales, drifting listlessly as if they didn't want to wake the slumbering city. Contrasting with the sky's stillness were the lonely, jaundiced streetlights casting a glow on the dew-slicked asphalt, creating a sensation that was both ghostly and warm.

As the bike rolled over Binh Trieu Bridge, the river breeze slapped their faces, jolting them awake. Merci sat behind, hands tucked deep in his jacket pockets, beginning to watch a sunrise that pierced through the skyline. Crowded yet sparse.

The life of street vendors. The morning market was already gathering. Stalls of vibrant flowers: marigolds turning a corner into a sea of gold, fragrant lilies, and pure white daisies. A saleswoman called out cheerfully; beside her was a young girl, roughly Merci’s age, helping her mother bundle white tuberoses with the meticulousness of a child artisan. Merci watched intently.

The Old Man didn't respond, thinking about children who have to grow up faster than their years. A smile. A word of praise: "That girl is capable," and they moved on. The road became dustier as the stream of people heading toward the outskirts grew thicker. Motorbikes laden with Tet gifts and shivering golden apricot blossoms created a hurried atmosphere, as if everyone was racing against time to make it home.

Conversations. The Martyrs' Cemetery.

The boy asked if his grandfather and grand-uncles lay there. A stir in the heart. The Old Man rummaged through the dictionary stored in his mind. In his mind's eye, the Martyrs' Cemetery appeared under the brilliant sunrise—a place of remembrance for those who fell, nameless. The bike glided on as the topic continued. The Old Man’s boy remembered a place where names were etched—the names of his uncles and his grandfather.

They talked about the lineage. The Old Man began telling Merci about their ancestors—stories he himself had heard from the “Silver-Haired Lover” (the Old Man’s mother), from his sisters, and his brothers. The family possessed an old photograph with a missing corner—a mysterious void in history. And now, only Merci accompanied the Old Man to patch up those memories.

The boy curiously asked about his grandfather—the Saigon Special Forces soldier of years past. “Where did Grandpa live, and why did he pass away, Dad?”

The Old Man slowed down. He revisited an old nostalgia, searching through memories cherished during this crawl back to the past. “Your grandfather used to live in District 1. He was granted a house on Ngo Tung Chau Street—now Le Thi Rieng—in the very same small alley as the legendary artist Thanh Nga, who passed away in the bloom of her youth. War wounds are not just scarred on the skin; they are hidden deep within the chest. One by one, he also passed away in that same small alley when his old wounds flared up.”

Merci fell silent. The Old Man guessed his thoughts. The boy looked into the darkness of the alleys, perhaps imagining the fiery times his grandfather had walked through. As they passed the Martyrs' Cemetery, the Old Man explained simply: “That is the hiding place of those who fell. There are nameless headstones whose families have still not been found. It is a way for us to learn to appreciate life, to appreciate the peace we have.”

Life at the gravesite. Lives intertwined with headstones and epitaphs. Conversation, after nearly a year apart. The living spoke to the graves; the graves remained silent. The living spoke to the grave keepers; the gone and the remaining.

Earth, Water, Wind, and the "Pig's Head" of Sinh Village

“This is my eldest son; I brought him here so he knows where his ancestors lie.” At every grave they visited, the Old Man would say this.

At the grandfather's grave. The Old Man spoke to the grave keeper, a man who had grown frail over the years, his striped shirt fading with time.

At the father's grave. The Old Man spoke to the caretaker, a man now radiant with a smile, his eyes shining as he spoke of his current life: his two daughters were grown and settled with good jobs—one a teacher, the other a buyer for a Japanese supermarket. A smile. The Old Man said: "Tell the children to keep trying, brother."

Sweeping, wiping, tidying. Lighting lamps, burning incense. After the trays of cakes and fruits were laid out and flowers bloomed at the corner of the grave, the boy began to pray with the Old Man, his questions unfolding a new world.

“What was Great-Grandpa like, Dad? Why does the headstone say these three words: Binh - Tri - Thiên?”

The Old Man sat by the grave, telling him about the powerful clan head in Sinh Village, Thua Thien. “In the old days, during festivals, the ‘pig's head’ had to be set aside specifically to be offered and so that Great-Grandpa could sit at the head of the table. That was the prestige of a leader. Then there was the matter of the ‘eldest grandson’ inheritance through your eldest uncle, then your eldest brother... people of an old era, I wonder if the younger generation still cares to remember them.”

The Old Man explained to Merci about the three words Binh Tri Thien—a historical line of a land that was merged, separated, and merged again today. Merci gently stroked the cold stone tablet.

“Everyone will eventually return here, son,” the Old Man said, pointing to the graves of the young, the children, and the adults, not just the elderly. “Life and death always go hand in hand, like light and darkness.”

The Grave Keepers and the Traditions of a Lifetime

The Old Man called out names to remind himself to remember. He introduced Merci to the grave keepers. He called each by name intimately, as if fearing that if he forgot to call them, their names would dissolve into the void.

He called out to remind everyone, so that if one day the children returned, there would be a guide to lead them to their ancestors' graves. The Old Man shared with the child a tradition of their fathers—something the researcher Phan Cam Thuong could probably write an entire thick book to analyze.

The Old Man didn’t want to place a burden on the children’s shoulders; he just wanted them to know what life entails—that there is such a tradition, an invisible thread connecting the living and the dead. A smile. The Old Man of twenty or thirty years ago probably couldn't have imagined himself today, also beginning to preserve what his grandparents once told him, so the children could envision the lives of their ancestors, the roots of a historical lineage.

“You only need to know, you don't need to 'brace' yourself to carry it,” the Old Man patted the boy’s shoulder as he saw him staring intently at an anonymous grave.

The weekend. Saigon began to be "vagrant" with sunlight. The brilliant sunrise of the early morning had given way to the heat that began to creep in. People from everywhere began to pour into the streets, returning to Saigon its giddy, hurried look of the year's end.

The two returned home as the sun perched golden on their shoulders. Merci was exhausted. After a morning of grave visiting, after the stories of the special forces grandfather, the clan head great-grandfather, and the young graves... the boy was intrigued by a different story of this life. Not of birth, but of death.

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

[Sách] Hậu Khoa cử - Nam tính và thẩm mỹ hiện đại ở Việt Nam thời Thuộc Địa - Ben Tran


 "Trong văn phòng của Tự Lực Văn Đoàn, những mái đầu xanh đang đánh cuộc với lịch sử: dùng 'bút sắt' để khai tử những hủ lậu của 'bút lông' và vẽ nên một diện mạo mới cho người đàn ông Việt."

Nó vén rèm, để bước vào thế giới đằng sau của một thế giới khác—một nơi phục vụ những lạc thú ăn chơi, ngổn ngang những mùi "son phấn, mùi vật dụng và cả mùi người". Theo chân những mái đầu trẻ của Tự Lực Văn Đoàn (TLVĐ), nó bước vào văn phòng của họ, nơi những trí thức hấp thụ nền văn hóa Pháp và Châu Âu đang lơ lửng ở giao thời của Nho giáo và kiến thức trời Âu. Nó gặp lại quá nhiều con người: Nhất Linh, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam...Một sự đấu tranh nội tại bắt đầu bùng nổ.

Cuốn sách của Ben Tran đưa ta ngược dòng thời gian về buổi giao thời của lịch sử Việt Nam, khi kỳ thi Hương cuối cùng kết thúc vào năm 1919, để trả lời cho câu hỏi về căn tính nam giới trong một xã hội đang bị "bóp nghẹt" bởi thực dân và sự đổi thay.

Nó ngồi với Nhất Linh. 

Nhất Linh là gã đầu tiên cầm cờ trong cuộc cách mạng thẩm mỹ này. Ben Tran phân tích rằng qua những nhân vật như Dũng trong Đoạn Tuyệt hay Lộc trong Hồn bướm mơ tiên, Nhất Linh đã xây dựng một nam tính gắn liền với sự giải phóng cá nhân.

Những người trẻ tuổi ở văn phòng TLVĐ không còn đo giá trị bằng khoa bảng, mà bằng sự thanh lịch, trí tuệ và đặc biệt là sự u sầu (melancholy). Nam tính của họ là một "chiến lược thẩm mỹ"—một cách để giữ khoảng cách với sự thô kệch của chế độ thuộc địa, khẳng định một cái tôi có chiều sâu giữa thế giới đang chuyển mình đầy hỗn loạn.

Nhìn sang một gã ngông nghênh - Vũ Trọng Phụng, gã như đóa sen lớn lên từ bùn đất, bung nở rực rở, tỏa một mùi ngăn ngắt như để ngạo đời. 

Đối lập với vẻ lý tưởng của Nhất Linh là một Vũ Trọng Phụng tài hoa và gai góc. Ông quan sát "thế thời, thời thế" bằng một đôi mắt sắc lạnh, phơi bày sự "lai căng" và kệch cỡm của nam tính hậu khoa cử.

Qua nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong Số Đỏ, nam tính hiện lên như một màn kịch lố bịch của tầng lớp thượng lưu dỏm. Vũ Trọng Phụng rực rỡ ra đi ở độ tuổi hoa đang bung nở nhất, để lại những bản cáo trạng đanh thép về "cái ác của sự dối trá" (như M. Scott Peck từng nói) trong lòng xã hội thuộc địa. Nếu Nhất Linh là ánh sáng lãng mạn, thì Vũ Trọng Phụng là ngọn lửa châm biếm soi rọi vào những góc tối của "mùi son phấn và mùi người" đầy tạp chất.

Giữa những cuộc đấu tranh nội tại gay gắt và sự náo nhiệt của phố thị, Thạch Lam hiện lên như một nốt trầm dịu dàng. Ông không chọn sự đối đầu trực diện hay trào phúng cay nghiệt, mà đưa nam tính trở về với căn tính nguyên bản qua những rung động tinh tế nhất.

Khi theo chân Thạch Lam về lại "Dưới bóng hoàng lan", ta thấy một nam tính được bồi đắp bởi sự thấu cảm (tương đồng với Omoiyari). Những người đàn ông của Thạch Lam mạnh mẽ ở sự tĩnh lặng, ở cách họ trân trọng những giá trị vật chất bình dị nhưng đầy hơi ấm tình thân. Đó là sự chữa lành cho những tâm hồn đang bị "nghẹt thở" bởi dòng chảy thực dụng của thời đại.

"Nam tính hậu khoa cử là một cuộc đàm phán đau đớn trên trang giấy, nơi ranh giới giữa bản ngã chân thật và những chiếc mặt nạ tân thời luôn mong manh như mùi hương hoàng lan trong gió."

Nó nhấp một ngụm chè, ngẫm về sự đối lập giữa Nhất Linh, Vũ Trọng Phụng và Thạch Lam. Một người cầm cờ tiên phong, một người phơi bày hiện thực nghiệt ngã, và một người giữ lại linh hồn dân tộc trong những điều nhỏ bé.

Đọc Ben Tran để thấy rằng, dù là nam tính lãng mạn hay sự lai căng, tất cả đều là những nỗ lực để không bị "bỏ quên" trong dòng chảy lịch sử. 

"Hậu Khoa cử" là lời nhắc nhở rằng: sự hiện diện của chúng ta cần một điểm tựa thẩm mỹ và đạo đức vững chắc, để không trở thành những "Xuân Tóc Đỏ" vô hồn, và cũng không bị vùi lấp trong những lạc thú son phấn vô nghĩa của thời đại.

***



"In the office of the Self-Reliance Literary Group (Tự Lực Văn Đoàn), young minds were gambling with history: using the 'steel pen' to execute the obsolete traditions of the 'brush pen' and painting a new face for the Vietnamese man."

It (the character) draws back the curtain to step into the world behind another world—a place catering to hedonistic pleasures, cluttered with the "scents of cosmetics, objects, and the scent of people." Following the young leaders of the Self-Reliance Literary Group (SLG), it enters their office, where intellectuals absorbed in French and European cultures are hovering at the crossroads of Confucianism and Western knowledge. It encounters so many figures: Nhất Linh, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam... An internal struggle begins to erupt.

Ben Tran’s book takes us back to the transitional period of Vietnamese history, following the final imperial examination in 1919, to answer the question of masculine identity in a society "suffocated" by colonialism and change.

It sits with Nhất Linh. Nhất Linh was the first to wave the flag in this aesthetic revolution. Ben Tran analyzes that through characters like Dũng in "Breaking Ties" (Đoạn Tuyệt) or Lộc in "The Butterfly Spirit" (Hồn bướm mơ tiên), Nhất Linh constructed a masculinity tied to individual liberation. These young men at the SLG office no longer measured value by academic degrees, but by elegance, intellect, and notably, melancholy. Their masculinity was an "aesthetic strategy"—a way to maintain distance from the crudeness of the colonial regime, asserting a soulful "Self" amidst a world in chaotic transition.

It looks over at a defiant figure - Vũ Trọng Phụng. He is like a lotus rising from the mud, blooming brilliantly, radiating a sharp, pungent scent as if to mock the world. In contrast to Nhất Linh’s idealism is a talented and gritty Vũ Trọng Phụng. He observes the "circumstances of the times" with cold, sharp eyes, exposing the "hybridization" and pretentiousness of post-mandarinate masculinity. Through the character Xuân Tóc Đỏ in "Dumb Luck" (Số Đỏ), masculinity appears as a ridiculous play staged by the fake upper class. Vũ Trọng Phụng passed away brilliantly at the peak of his blooming, leaving behind stinging indictments of the "evil of lying" (as M. Scott Peck once said) within the heart of colonial society. If Nhất Linh was the romantic light, Vũ Trọng Phụng was the satirical flame illuminating the dark corners of the impure "scents of cosmetics and people."

Amidst the fierce internal struggles and urban bustle, Thạch Lam emerges as a gentle low note. He did not choose direct confrontation or bitter satire; instead, he returned masculinity to its original identity through the most delicate vibrations. Following Thạch Lam back "Under the Shadow of the Ylang-Ylang" (Dưới bóng hoàng lan), we see a masculinity nurtured by empathy (akin to Omoiyari). Thạch Lam’s men are strong in their silence, in how they cherish simple material values filled with familial warmth. This is the healing for souls being "suffocated" by the era's pragmatic flow.

"Post-mandarinate masculinity was a painful negotiation on paper, where the boundary between the true self and modern masks was always as fragile as the scent of ylang-ylang in the wind."

It takes a sip of tea, reflecting on the opposition between Nhất Linh, Vũ Trọng Phụng, and Thạch Lam. One held the pioneer flag, one exposed the harsh reality, and one preserved the national soul in small things. Reading Ben Tran is to see that, whether it be romantic masculinity or hybridization, all were efforts to avoid being "forgotten" in the current of history.

"Post-Mandarinate" is a reminder: our presence requires a solid aesthetic and moral anchor to avoid becoming soulless "Xuân Tóc Đỏs" and to keep from being buried in the meaningless cosmetic pleasures of the age.

Thứ Hai, 26 tháng 1, 2026

[Sách] Sự thật về nạn đói 1945 - Nguyễn Quang Ân


 

"Cái đói không chỉ giết chết cơ thể, nó giết chết cả nỗi đau. Người ta nhìn người thân ngã xuống bên cạnh mà không còn nước mắt để khóc, chỉ còn một ánh mắt vô hồn nhìn vào hư không."

Nó ngồi lại với Nam Cao và Kim Lân, ngắm nhìn thế giới bằng "Đôi Mắt" để thấy sự thay đổi của tầng lớp trí thức, rồi nghe tâm tình về "Vợ Nhặt" – bức tranh thống khổ nhưng vẫn lấp lánh tình người giữa cơn đói. Những tác phẩm ấy đã là những tượng đài của văn học hiện thực, nhưng khi đặt cạnh tập phóng sự tư liệu của Nguyễn Quang Ân, chúng dường như vẫn chưa thể lột tả hết sự trần trụi của hiện thực.

Nếu văn chương dùng hư cấu để chạm vào cảm xúc, thì Nguyễn Quang Ân và những người đi tìm tiếng nói của quá khứ lại dùng sự thật để đánh động lương tri. Họ gọi đó là lịch sử – một thứ lịch sử không có ánh hào quang, chỉ có tiếng rên xiết và những linh hồn vô danh đang đòi lại căn tính của mình.

"Sự thật về nạn đói không nằm ở những con số 2 triệu người chết, nó nằm ở tiếng rên rỉ của một đứa trẻ trên bầu ngực đã cạn khô sữa của người mẹ vừa tắt thở bên vệ đường."

Nếu M. Scott Peck định nghĩa cái ác là sự lười biếng đạo đức và trốn tránh trách nhiệm, thì nạn đói 1945 là minh chứng cho cái ác của những hệ thống chính trị. Sự chiếm đóng của phát xít Nhật, chính sách vơ vét của thực dân Pháp và sự thờ ơ của chính quyền bù nhìn chính là sự "phó mặc" ở cấp độ tàn khốc nhất.

Họ không chỉ phó mặc một đứa trẻ, họ phó mặc cả một dân tộc. Những dòng xe "chạy rầm rầm" ngoài kia hôm nay, nếu ngược dòng thời gian về năm 1945, sẽ là những chiếc xe bò chở xác người chất đống, vô danh và lặng lẽ. Lịch sử của Nguyễn Quang Ân đã biến những con số khô khan thành những tiếng kêu cứu nghẹt thở.

"Lịch sử có thể tha thứ cho những sai lầm, nhưng không thể lãng quên sự vô tâm của những kẻ đã chứng kiến đồng loại chết đói mà vẫn dửng dưng trên đống lúa gạo vơ vét được."

Trong nạn đói 1945, "vật chất" duy nhất có ý nghĩa là một hạt gạo, một cọng rau dại. Cuốn sách ghi lại những lời kể kinh hoàng: người ta ăn cả vỏ cây, ăn đất sét, và cuối cùng là ăn thịt cả đồng loại trong cơn quẫn bách.

Lúc này, mọi giá trị về "căn tính" hay "đạo đức" mà ta hằng trau dồi bị thử thách dữ dội. Liệu con người là thiện hay ác? "Đôi mắt" của chúng ta hôm nay nhìn vào quá khứ không phải để phán xét, mà để thấy rằng trong tận cùng đói khát, con người vẫn cố gắng bám trụ lấy một mảnh nhân tính cuối cùng.

Trong nạn đói, có những kẻ tích trữ gạo để làm giàu trên xác người (cái ác tối thượng của sự lười biếng đạo đức), nhưng cũng có những người nhường miếng ăn cuối cùng cho con mình (sự thấu cảm Omoiyari tột cùng).

Công trình của Nguyễn Quang Ân là một nốt lặng nghẹt thở, buộc chúng ta phải trân trọng ly nước chè, trân trọng nền hòa bình và sự no đủ đang có. Để không bị "bỏ quên" trong dòng lịch sử, chúng ta phải học cách nhìn thẳng vào những vết thương đau đớn nhất qua "đôi mắt" của sự thật.

***


"Hunger does not just kill the body; it kills the very capacity for pain. People watched their loved ones fall beside them without tears left to cry, only a soulless gaze staring into the void."

It (the character) sits again with Nam Cao and Kim Lan, observing the world through "The Eyes" (Đôi Mắt) to see the transformation of the intellectual class, then listens to the sentiments of "The Picked Wife" (Vợ Nhặt)—a portrait of suffering that still glimmers with human love amidst the famine. These works have long been monuments of realist literature, yet when placed alongside the documentary reportage of Nguyen Quang An, they still seem unable to fully depict the naked brutality of reality.

If literature uses fiction to touch the emotions, Nguyen Quang An and those seeking the voice of the past use the truth to stir the conscience. They call it history—a history devoid of glory, filled only with moans and anonymous souls reclaiming their identity.

"The truth of the famine does not lie in the figure of 2 million dead; it lies in the whimpering of a child at the breast of a mother who has just drawn her last breath by the roadside, her milk long dried up."

If M. Scott Peck defines evil as moral laziness and the evasion of responsibility, then the 1945 famine is a testament to the evil of political systems. The Japanese occupation, the predatory policies of the French colonialists, and the indifference of the puppet government represented "negligence" at its most cruel level. They did not just neglect a child; they neglected an entire nation. The streams of cars "rushing by" out there today, if traced back to 1945, would be oxcarts piled high with anonymous, silent corpses. Nguyen Quang An’s history has transformed dry statistics into suffocating cries for help.

"History may forgive mistakes, but it cannot forget the indifference of those who witnessed their fellow humans starve to death while remaining unmoved atop piles of plundered rice."

In the 1945 famine, the only meaningful "material" was a single grain of rice or a strand of wild grass. The book records horrifying accounts: people eating bark, clay, and ultimately, even their own kind in the depths of desperation. At this moment, every value of "identity" or "morality" we have cultivated is fiercely tested. Is man inherently good or evil? Our "eyes" today look into the past not to pass judgment, but to see that even in the ultimate hunger, humans still tried to cling to one last fragment of humanity.

In the famine, there were those who hoarded rice to grow rich on corpses (the ultimate evil of moral laziness), but there were also those who gave their last morsel of food to their children (the ultimate Omoiyari—empathy).

The work of Nguyen Quang An is a suffocating pause, forcing us to cherish a cup of tea, to value the peace and abundance we currently possess. To avoid being "forgotten" in the current of history, we must learn to look directly at the most painful wounds through the "eyes" of truth.

[Story] Phút Giao Mùa (2) - The Moment of Season's Change (2)


Mười bốn năm. Một khoảng thời gian đủ để một đứa trẻ kịp trổ mã thành thanh niên, đủ để một mái tóc xanh hóa thành mây trắng, và cũng đủ để lớp rêu phong phủ kín những ký ức mà ông cứ ngỡ đã lặn sâu vào lòng đất.

Xôn xao. Gió hát. Ông dắt díu tấm thân, lội ngược dòng đời để tìm về ngọn đồi cao, lưng dựa vào bà, bình thản ngắm nhìn mấy áng mây trôi. Mõng manh. Bầu trời ngày cuối đông ở đây lạ, như một dải lụa tiên sa, chực chờ rách toạc nếu ai đó lỡ buông một tiếng thở dài quá nặng.

rung rinh, khẽ khàng va vào nhau thì thầm: "Kìa, ông giáo già lại tới!". Cây thùng thình vươn rộng cánh tay gầy guộc như muốn che chắn cho ông khỏi cái nắng hanh hao. Đám cỏ lắt lay dưới chân, cứ rạt ra hai bên nhường lối, như thể chúng cũng biết kính trọng một mối tình đã đi qua nửa thế kỷ.

Ông xoay người, nhìn bà. Cười. Ông khẽ khàng khui một chai rượu nhỏ, rót ra hai chiếc chén sành cũ kỹ. Một cho ông, một cho bà.

"Bà này," Ông nhấp một ngụm rượu, để cái cay nồng sộc lên mũi, rồi thưởng thức cái gió vừa lém qua vai mình. "Hơn mười bốn năm rồi hén. Vậy mà tôi cứ ngỡ như mới hôm qua, lúc bà còn ngồi chải tóc bên hiên nhà."

Gió chợt lặng đi. Bà cười. Thinh không. Tiếng cười giòn tan nhưng cũng đầy vẻ "chợ búa" rất riêng của bà: "Thế ông với nhỏ đó sao rồi?"


Ông giật mình, suýt chút nữa làm rơi chén rượu. Ông chẳng thể ngờ bà lại nhớ dai đến thế. Chuyện con bé hàng xóm sang ngỏ ý làm "bạn già" tâm giao với ông từ mười mấy năm trước, vậy mà đến giờ bà vẫn cứ mang ra "nhai" lại. Lạ mà thích. Ghen tuông và hờn mát. Thích mà nhớ. Nó khiến ông cảm thấy mình vẫn còn là gã trai trẻ của năm mươi năm trước, và bà vẫn đang hiện diện đâu đây, sắc sảo và nồng nàn.

"Sao, ghen à?" Ông cười, ánh mắt híp nhìn bà. Đắm say. Tình.

"Hứ. Ghen gì, hỏi cho biết thôi. Tuổi nào rồi mà còn ngồi ghen với tuông. Bớt khùng ha?"

Ông cười khà khà, đưa tay vỗ về lớp cỏ xanh, với tay nựng vào đôi má của bà ngày. "Xạo xạo riết quen, ghen thì nói là ghen đi. Đám lá cây nó đang cười tình kìa bà thấy không?"

Lá xào xạc dữ dội. Cười. Bà bắt đầu bài ca "muôn thuở", bà nhai đi nhai lại cái tính chủ quan của ông: "Trời lạnh rồi, làm ơn mặc giùm cái áo vào. Bao nhiêu tuổi rồi mà cứ để tôi phải lo miết vậy? Không thèm nói thì thôi..."

Ông im lặng lắng nghe. Chuyện về con bé ấy... ừ thì nó cũng đáo để thật. Nhà cửa nó sang quét dọn sạch bóng nha, bếp núc tinh tươm, nhưng ông vẫn thấy "chẳng bằng bà". Cái sạch của con bé là cái sạch công nghiệp, còn cái sạch của bà là cái sạch mang vị của tình thân, vị của những ngày thương khó dắt díu nhau trên con đường nghèo.

Ông nhớ mình của ngày xưa, một chàng trai chỉ biết đến sách vở, logic và những lý luận khô khan. Ra ngoài đời, chẳng ai đấu lại ông về cái đầu óc lạnh lùng ấy, nhưng chẳng hiểu sao cứ về đến nhà, đứng trước bà, ông lại trở nên im thin thít. Người ngoài nhìn vào cứ tưởng bà lấn lướt ông, nhưng bà chẳng bận tâm giải thích. Chuyện! Đời mà, ai hiểu sao thì hiểu, miễn lòng mình đủ ấm là được.

"Bà nè," Ông thầm thì. "Chắc còn giận tôi lắm phải không? Giận vì tôi cứ cãi nhau với bà suốt, rồi bà lại lặng im. Giờ đám trẻ lớn khôn hết rồi. Thằng Hai, thằng Ba, chúng nó tự chọn lấy con đường của mình, tìm nơi hạnh phúc của mình rồi."

"Thế ông không giục chúng nó thành gia lập thất đi? Tuổi nào rồi?" Tiếng bà vọng lại, lần này trầm xuống khi chạm đến đề tài con cái.

Ông quyết liệt: "Bà này, cứ để chúng quyết định. Chúng ta đâu sống thay cho đám trẻ được. Tôi với bà đến giờ còn chưa biết mình sống vậy đã đúng hoàn toàn chưa mà, sao cứ phải bắt chúng làm theo ý mình?”

Bà nhớ. Lúc chúng nó lên năm lên ba, cứ quấn quýt lấy bà không rời. Vậy mà đến tuổi mười ba, tự dưng cả đám lại dạt xa bà, cứ bu lấy ông hỏi đủ thứ chuyện trên đời. Bà tức lắm, bà bảo thời buổi này bấm nút một phát là có thông tin, sao chúng cứ hỏi ông miết. Ông biết, bà tị nạnh vì chúng thương ông theo cách khác...

Ông nhấp thêm một miếng rượu, bóc một múi quýt cho vào miệng chóp chép. Cái vị chua ngọt thanh tao làm lòng ông dịu lại.

"Thằng Ba dạo này cứ lo cho tôi suốt. Nó gọi đường dài về hỏi han đủ kiểu. Bà thấy không, tôi là nhất rồi, khỏi khoe."

Bà lại nguýt dài một cái: "Ừ, ông nhất. Vòng vo nãy giờ, thế ông có hạnh phúc với con nhỏ đó không?"

Gió liếc ngang qua ngọn cỏ, cây rũ lá chờ đợi câu trả lời. Ông cười khà khà: "Vui lắm bà ạ! Khà khà."

"Ờ, vui hén. Ai cho ăn quýt đó?"

Ông lắc đầu, nhìn về phía chân trời xa tắp: "Thôi, bỏ qua chuyện đó đi. Bà nhớ ngày xưa mình ngồi tính chuyện về một ngày nào đó đi xa không? Bà bảo ngày tôi trăm tuổi, bà sẽ giữ tôi bên mình, chôn tôi sau nhà ở nơi núi rừng lạnh lẽo, sương phủ để tôi không bao giờ rời xa bà được nữa.”

Bà tiếp lời ông: “Còn ông thì bảo, ngày bà trăm tuổi, ông sẽ đưa tôi lên ngọn đồi cao nhất, trồng một cây cổ thụ thật to, rồi hai đứa mình ngồi dưới táng cây đó mà chuyện trò, ngắm bình minh mỗi sớm mai."

Giờ đây, ông đang thực hiện lời hứa đó. Chỉ là bà đi trước, ông theo sau.

Trời về chiều, sương bắt đầu phủ trắng những ngọn núi phía xa. Không khí trên đồi cao trở nên se sắt, cái lạnh len lỏi vào từng thớ thịt của người già. Ông thấy mình như đang chìm vào một giấc mơ tỉnh táo.

Trên ngọn đồi này, ranh giới giữa cõi sống và cõi thác dường như bị xóa nhòa bởi mùi nhang thơm và tiếng lá rụng. Ông thấy bà đang ngồi đó, trên một chiếc ghế mây cũ, tay vẫn còn cầm cái áo len đang đan dở.

"Bà ngộ lắm," Ông tiếp tục. "Bà cứ lo chúng nó già sẽ cô đơn. Nhưng chắc gì chúng nó đã thấy vậy? Chúng thấy vui là được rồi. Có phải mình tham quá không khi cứ bắt chúng phải thành gia lập thất, rồi lại lặp lại bài ca phụng dưỡng, hiếu thảo như tôi với bà ngày xưa? Chúng ta muốn chúng hạnh phúc mà, đúng không? Vậy cứ để chúng được là chính mình."

Bầu trời lúc này chuyển sang màu tím thẫm, vài ngôi sao sớm bắt đầu lấp lánh như những đôi mắt của người xưa đang nhìn xuống. Ông cảm nhận được sự bao dung của đất mẹ đang ôm lấy cả ông và bà.

Ông chợt nhớ đến lời bài ca Bolero mà ngày trước bà vẫn hay mở trên cái đài cassette cũ: "Dẫu biết rằng cuộc đời là hư vô, nhưng sao lòng vẫn nặng trĩu những sầu lo..."

"Bà à, giao mùa nữa rồi, tôi thấy lòng mình nhẹ tênh. Con nhỏ đó nó tốt thật, nó muốn làm 'bạn già' để tôi bớt hiu quạnh. Nhưng nó đâu biết, tôi chẳng bao giờ cô đơn. Vì lúc nào tôi cũng có bà, trong từng ngọn gió, từng nhành cỏ lắt lay này."

Cỏ rạt ra một lần nữa, gió thổi mạnh hơn như một cái ôm từ phía sau. Ông tựa đầu vào bia đá, nhắm mắt lại. Trong giấc mơ của ông, ngọn đồi này không còn là nghĩa trang, mà là một sân chơi thiên đường, nơi ông và bà lại dắt tay nhau đi giữa những hàng cây cổ thụ, không còn bệnh tật, không còn lo toan, chỉ còn lại những câu chuyện "nhai đi nhai lại" mà nghe hoài không chán.

Lá vẫn rung rinh, cười tình với gió. Cây vẫn thùng thình đứng đó chứng kiến một mối tình già nua nhưng chưa bao giờ cũ. Phút giao mùa cuối năm, đất trời đang chuyển mình, và lòng người cũng đang tìm về chốn bình yên nhất.

"Chờ tôi nhé bà. Phút giao mùa tới, có lẽ tôi sẽ không còn phải ngồi đây một mình rót rượu nữa đâu..."

Ông đứng dậy, phủi nhẹ lớp bụi trên quần, chậm rãi bước xuống đồi. Bóng ông dài ra dưới ánh hoàng hôn nhạt nắng, trong khi tiếng gió vẫn vương vấn bên mộ đá: "Mặc thêm áo vào ông giáo ạ, sương xuống lạnh lắm rồi..."

https://chienphan.blogspot.com/2012/08/phut-giao-mua.html

***



The high hill in the final hours of the year. The sky had lost its piercing summer blue, replaced by a silvery-grey hue, with clouds drifting like silk ribbons frayed by the passage of time. The seasonal winds began to surge, weaving through every leaf, rustling the ancient branches that seemed to be wearing oversized cloaks of mist.

He sat there, beside her moss-covered grave, leaning against the great tree he had personally planted fourteen years ago. The grass around the tomb swayed, seemingly tilting its ears to listen to the endless conversation of two lovers separated by the veil of life and death, yet still entwined by the heart.

The leaves rustled and shimmered as if sharing a flirtatious laugh; the wind brushed past his shoulder with a sharp chill, a reminder that time waits for no one. He let out a raspy "ha," raising a cup of pungent rice wine and taking a small sip, letting the warmth bloom through his veins.

She lay beneath the earth, surely smiling. He felt her long, playful glare dissolving in the rustle of the leaves: “So, how are things between you and that young thing? It’s been fourteen years—how much longer do you plan to keep it from me?”

He burst into a chuckle, peeling a tangerine, its zesty essential oil blending with the biting wind. “You certainly have a long memory, old lady! It feels like only yesterday, yet you’ve been chewing on this for fourteen years without getting bored.”

But truth be told, he liked the way she "chewed" on him like that. It made him feel like he still belonged to her—still that bookish student dreaming of distant lands, the one she had "caught" and led down a long path for over half a century.

He reached out to pluck a few blades of grass encroaching on the headstone, his movements as meticulous as if he were stroking her hair. “Well… it’s quite warm, actually. That girl is quite sharp, you know. She comes over, keeps the house sparkling clean—though not as thorough as you, of course—but at least the place smells less of loneliness.”

She cast another imaginary glare: “Jealous? I’m just asking. At our age, who has time for jealousy? I’m just afraid you’re getting old and foolish, making life difficult for the poor girl.”

He laughed, patting the cool stone surface as if pinching her cheek in the old days: “You’re just pretending. If you’re jealous, just say so. We bickered our whole lives; you always won by being the ‘big sister’ in silence. People looking in thought you bossed me around, but little did they know I was the one you sheltered the most.”

The wind suddenly blew harder, parting the grass. An old Bolero melody drifted from the small radio beside him, a melancholic voice singing: “Oh dear, do you know… the old memories remain…”

He grew pensive. Yes, he owed her so much. A man of dry logic who could out-argue anyone in the world, yet was content to be a "grown-up child" under her care. He felt his heart soften, like moist silt after the first rain of the season.


Part 2: The Dream of the Earth and Birds Flying Afar

The space on the hilltop suddenly became ethereal. Earth and sky seemed to merge at the moment of transition. The old man—his hair now white as snow—found himself floating in a strange dream. He saw himself lying beside her under this tall tree, not as withered flesh, but as two free spirits conversing.

She brought up the children—her "Achilles' heel." “So, why don’t you urge the third and fourth child to settle down? How much longer are you going to let them wander like that?”

He took another sip of wine, his eyes fixed on the distant horizon where the sunset was fading: “You’re strange. We’ve lived our own lives without even knowing if we were right or wrong; why force them to live according to our whims? The kids are grown now; they find happiness in places we might never understand.”

She fell silent. He knew she was remembering when they were three or five years old, clinging to her feet like fledgling birds. Then, at thirteen, they suddenly flew away—out of her reach, yet constantly hovering around him to ask about everything "under the sun." She was frustrated; she said in this era, you can get information with the push of a button, so why bother asking a fossil like him?

He smiled, a toothless but benevolent grin: “You’re really something. They ask me because they want to hear the love and meaning filtered through decades, not dry facts from a machine. And don’t worry about them being lonely. If they are happy, that’s enough. Aren’t we being too greedy, forcing them to repeat the old song of filial piety like you and I did?”

She gave a playful huff: “Fine, you’re always the best. No need to brag. So, in the end, are you happy with that new ‘old friend’ of yours?”

The wind glanced across the hill; the trees drooped their leaves as if sharing his feelings. He sipped more wine, munching on a tangerine segment: “It’s joyful, old lady. Haha. But it’s a different kind of joy. it’s the warmth of two lonely souls leaning on each other, not the fiery passion of when you and I dragged each other through those hard times.”

He suddenly remembered when she was still alive; they used to talk about death as if discussing a distant vacation. She had said: “When you turn a hundred, I’ll keep you by my side, bury you behind the house amidst the mountain mist and cold forest, so you won’t go anywhere.” He had replied: “When you turn a hundred, I’ll take you to the high hill, plant a great tree so you can sit beneath its canopy and watch the dawn to your heart’s content.”

Now, he had fulfilled that promise. She sat beneath the canopy, and he sat beside her, amidst the sacred threshold of the seasons.

The sky at this moment became a study in contrasts: behind him was the darkness of the past receding; before him was the dawn of a new year beginning to wake. Their children, though far away, still called from across the distance to check in. They had their own paths, and he was proud he hadn't "locked" them in the box of old expectations.

The air grew colder; he shivered slightly. In the misty dream, he saw her reach out, about to scold him: “It’s cold, please put on your coat! How old are you, and yet you still make me worry so much?”

He smiled, an uncanny warmth spreading through him. This was the happiness of the elderly—not gaining more things, but letting go of burdens to feel as light as a drifting cloud.

He stood up, brushing the dust off his trousers, looking at the grave one last time before heading down the mountain. “I’m going home now. I shouldn’t keep ‘that young one’ waiting for dinner. I’ll come up and tell you more stories next year.”

The wind blew a parting rhythm; the trees rustled like a goodbye. He walked away, his thin silhouette fading into the year-end mist, but his heart was truly warmed by the late love of the young woman and the eternal grace of the old wife beneath the green grass.

The wars, the losses, and the bullets in the soul finally vanished, making way for a new spring taking deep root in the forgiving motherland.


[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...