Chiến Phan

Hiển thị các bài đăng có nhãn 2021 - 06. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 2021 - 06. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2023

Nhật ký của cha - Nên - Con sói


Khi bóng tối phũ xuống Sài Gòn , ngôi nhà nằm trong hẻm nhỏ lại cất lên giai điệu thường nhật của mình. Nếp nhà thường bắt đầu các câu chuyện kể để đưa đám trẻ mình vào giấc ngủ say.  Nếp nhà đêm nay vẫn vang lên những lời kể như mọi đêm, chỉ có phố bắt đầu bớt xôn xao, nhà nào ở yên nhà đó. Nếp nhà tuân thủ vì một mùa Covid mới lại bắt đầu, trận chiến với đối thủ giấu mặt.

Ông già ngắm nhìn cô nhóc đang cuộn tròn trong lòng mình như một chú mèo con đang chờ được vuốt ve nhẹ nhàng. Ông già chìm đắm trong đôi mắt đen lay láy như hai lối vào của một vũ trụ, nơi các thế giới nhiều tầng kết nối lại với nhau, đưa bàn tay thô ráp của mình vuốt lên người cô nhóc cho đến ki chạm đến những ngón tay nhỏ con con và mềm mại, trước khi câu chuyện kể được mở đầu

Hai ông anh trai của cô nhóc nằm gần nhau trong căn phòng sáu mét vuông, sau khi nghe ông già nhắc nhở rằng đã đến lúc đi ngủ sau một ngày dài chơi đùa trong ngôi nhà đa giác của mình. 

Đêm nay, câu chuyện của ông già kể là về một con sói.

Trong câu chuyện của ông già, con sói có bộ lông mịn màng màu xám trắng, như mây trời vào một đêm thu lạnh, cô đơn và lẻ loi nên gọi bầy. Con sói đứng vững trên ngọn núi bìa rừng, nhìn xuống phố thị sáng đèn bên dưới như bầy chó liên lạc nhau ở một bộ phim hoạt hình của Walt Disney: 1001 con chó đốm. Ánh mắt của con sói sáng lên như ánh trăng tròn của bầu trời đêm khi ngẩng cao đầu và hú vang.

Tiếng gọi bầy, được đám chó trong phố hưởng ứng theo, phá tan bầu không khí căng thẳng, tĩnh mịch của những ngôi nhà khép cửa, sáng đèn, phố phường vắng lặng tiếng xe như thể quay trở về một thời đại khởi đầu của kỹ nguyên công nghiệp, chỉ có mới bắt đầu với những nhà máy dựng xây, anh em nhà Ford vẫn còn mãi nghĩ suy về một cổ máy có thể di chuyển được ấy. 

Con sói ngẩng đầu, tru một tiếng trầm, như thể con sói đang uống từng ánh trăng đêm. Tiếng tru đầy thống thiết, bi ai như thể gửi lời chào tạm biệt với một ai đó vừa bước ra khỏi cõi tạm này. Sau đó, các con chó trong khu phố bắt đầu tru theo như tấu một bản khúc tiễn biệt.

Tiếng tru như nhắc nhớ để lãng quên… việc nhớ, nhớ một cách chính xác giờ của những buổi ăn, nhớ cách con người cho ăn và cho hy vọng về một món ăn vừa miệng. Chúng cần phải quên việc nhớ chính xác rằng chỉ được cho ăn khi làm đúng điều gì, thực hiện theo mấy cái việc được nhắc lại nhiều lần…cho quen. Chúng cần phải quên luôn việc nhớ rằng phải đi vào giấc ngủ thiêm thiếp, chập chờn với những điều làm đúng là gì, thực hiện ra sao và phải thế nào. 

Tiếng tru như nhắc nhớ gọi về với những bước chạy trên thảo nguyên xanh rì, với gió táp vào mặt, nghe rõ hơi thở của mình, mùi cỏ xanh ngát, mùi của đất dậy lên ngăn ngắt, mùi của con mồi đang run sợ…Những bước chạy đó cứ chạy mãi. Đói thì… ăn. Khát thì… uống. Mệt thì.. ngủ. Gọi về với thiên nhiên, rừng núi. 

Cuối cùng, con sói quay đầu và trở về rừng sau khi uống trọn một ánh trăng, dáng đi vững vàng và kiêu hãnh khi đằng sau lấp lánh những ánh sáng lửng lơ, theo sau con sói trôi vào khu rừng thẫm, biệt tâm. 

Tan đêm. Mấy chú chó ở phố, ngỡ ngàng vì phát hiện ra rằng đấy cũng chỉ là một giấc mơ qua. Chợt lặng, tìm lại vào giấc ngủ thiêm thiếp, chập chờn.

Ông già ôm ba đứa trẻ của mình vào lòng và nói rằng câu chuyện của ông làm cho ông cảm thấy như đang ở trong rừng, cùng với con sói và các con chó. 

Bên ngoài, tiếng chú ve sầu đang cất tiếng kêu gọi bạn tình vang vọng và rộn rã, một mùa sinh sản nữa lại bắt đầu.  

Sài Gòn, ngày 26 tháng 06 năm 2021

***

As darkness settled over Saigon, the house nestled within a small alley orchestrated its familiar melody. Tradition often ushers bedtime tales to lull its young ones to sleep. Tonight, the tradition continued, with stories resounding just as they had on previous nights, only now the streets were less bustling, homes cocooned in tranquility. The tradition persisted, even as a new season of Covid commenced, reigniting the covert battle against an enigmatic foe. The old man gazed upon the little girl curled up in his lap, much like a playful kitten waiting for tender caresses. Immersed in her obsidian eyes, he felt as if he gazed upon twin portals into a cosmic universe where interconnected layers of worlds converged. His calloused hands traced her contours, from her tender fingertips to the delicate curves, a prelude to the unfolding narrative. Nearby, her two elder brothers lay, within the confines of a six-square-meter room, yielding to the old man's prompting to retire after a day of playful escapades within their polygonal abode. Tonight, the old man's tale was about a wolf. In his tale, the wolf bore a sleek coat of gray and white, akin to the cold autumn night's clouds, solitary and yearning for the pack's embrace. The wolf stood resolute atop a forested peak, peering down upon the illuminated city streets below, reminiscent of a scene from a Walt Disney animated film: "101 Dalmatians." Its gaze shone like the full moon, raised high, releasing a haunting howl. The call of the pack echoed, met by the response of the neighborhood dogs. The tense, quiet air of closed homes, dimmed lights, and desolate streets resonated with the dissonant barking, as if transporting back to the inception of the industrial age, where factories were beginning to rise and the Ford brothers contemplated the invention of a self-propelled machine. The wolf raised its head, releasing a deep, resonant howl, as if it were imbibing the essence of each moonlit night. The howl was filled with anguish, a poignant farewell to someone stepping away from this transient realm. Subsequently, the dogs in the vicinity began to howl in a symphony of parting. The howl carried reminders, designed to unburden memory... memories precisely remembered, like the accurate timing of meals, the manner of feeding, and the hopeful anticipation of satisfying sustenance. They needed to forget the precise memories of being fed only when specific tasks were completed, the repeated rituals to foster familiarity. They needed to forget the exact remembrance that slumber required obedience, a fitting adherence to instructions. The howl echoed as a reminder, beckoning back to the expanse of verdant plains, with the wind brushing against their faces, hearing their own breath, the scent of lush grass, the scent of the awakened earth, the scent of the quivering prey... Those strides continued endlessly. When hungry, they ate. When thirsty, they drank. When weary, they rested. Reuniting with nature, the forests, the mountains. Finally, the wolf turned and retreated to the woods after savoring the moonlight, its departure dignified and proud amidst the shimmering lights. As the night dissolved, the pack of dogs in the street discovered that it was all but a fleeting dream. Quietness fell, receding into a fitful, slumberous state. The old man embraced his three children, expressing that the tale made him feel as if he were in the wilderness, alongside the wolf and the pack of canines. Outside, the mournful serenade of cicadas resonated, summoning companions in an exuberant chorus, marking the onset of yet another breeding season. Saigon, June 26, 2021.


Thứ Bảy, 24 tháng 7, 2021

[Sách] Ở quán cafe của tuổi trẻ lạc lối - Patrick Modiano

Ở Quán Cà Phê Của Tuổi Trẻ Lạc Lối (Tái Bản) | Tiki

"Ở quán Le Condé, chúng tôi không bao giờ hỏi nhau về nguồn gốc xuất thân. Chúng tôi còn quá trẻ, chúng tôi không có quá khứ để hé lộ, chúng tôi sống ở thì hiện tại..."

Có một sự trùng hợp kỳ lạ khi đám trẻ đang mải mê với những trạm dừng của tuổi trẻ, thì nó cũng đang lủi thủi ngồi đọc "Ở quán cafe của tuổi trẻ lạc lối". Dường như nỗi cô đơn là một thứ nợ nần không tên, luôn bám lấy những con người đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời. Nó nhìn nhóc Julie, rồi nhìn lại mình trong trang sách của Patrick Modiano—chủ nhân giải Nobel văn chương, người vốn dĩ cả đời chỉ đi tìm những mảnh vỡ của ký ức trong sương mù. Nó thì thầm: cô bé à, có quá nhiều điều con muốn nói như những bức tranh con đã vẽ, tô? 

Trong thế giới của Modiano, quán cafe Le Condé không chỉ là một địa danh, nó là một "vùng trung lập". Ở đó, một bầy những người trẻ lạc lối tụ tập lại để trốn chạy khỏi sự xáo trộn của trường đời. Họ choáng ngợp trước những thay đổi rầm rầm ngoài kia, để rồi tự nhốt mình vào một sự cô đơn tự tạo, một chiếc lồng kính của sự vô định.

Nó chợt nhớ đến những "trang giấy trắng" mà mình từng trăn trở. Những người trẻ ở Le Condé chọn cách không viết gì lên trang giấy của mình, hoặc đúng hơn, họ chọn loại mực có thể tự bay màu sau mỗi buổi đêm. Họ khước từ quá khứ để khỏi phải đối diện với những vết mực lấm lem của thực tại.

Trung tâm của cuốn sách là Louki—một người phụ nữ mang vẻ đẹp của một "con chim trời" đang cố tìm một bụi mận gai để tựa vào, nhưng lại luôn lo sợ sự ràng buộc. Qua bốn điểm nhìn khác nhau, Louki hiện lên mờ ảo.

"Khi thực sự yêu một người, thì ta cần phải chấp nhận cái phần bí ẩn của người ấy... và chính là thế mà ta yêu người ấy."

Cái "bí ẩn" mà Modiano nhắc đến, với nó, chính là sự tôn trọng tuyệt đối dành cho trải nghiệm cá nhân. Nó nhận ra rằng, dù là cha mẹ hay người tình, chúng ta thường có xu hướng muốn "soi tỏ" mọi góc khuất của người mình yêu, vô tình tạo ra một sự quấy rối tinh thần núp bóng quan tâm. Nhưng Louki nhắn gửi rằng, tình yêu đôi khi là sự chấp nhận để người kia được giữ lại những "vùng trắng" trên trang giấy của họ.

Tại sao tuổi trẻ lại lạc lối? Modiano không đưa ra câu trả lời trực diện. Ông chỉ cho ta thấy những khu vực mà luật lệ của xã hội không chạm tới được. Những người trẻ trong sách bối rối vì họ nhận ra những gì được dạy ở trường học chẳng giúp ích gì khi họ bước vào cái đầm lầy của sự tồn tại. Họ vất vưởng chờ đợi một thước đo thời gian huyễn hoặc nào đó để cứu rỗi mình, nhưng cuối cùng, họ chỉ tìm thấy nhau trong những tách cafe và những làn khói thuốc đặc quánh sự cô đơn.

Tuổi trẻ cần những khoảng không vô định để tự mình tìm ra "oxy" cho tâm hồn.

"Chúng ta đi qua cuộc đời như đi qua một mê cung sương mù, thỉnh thoảng chỉ kịp chạm vào tay nhau một nhát rồi lại tan biến."

Người trẻ không đóng vai nạn nhân, họ chỉ đơn giản là đang học cách sống trong cái phần bí ẩn của chính mình.

"Ở quán cafe của tuổi trẻ lạc lối" là một nhát chạm lạnh lẽo nhắc rằng, dẫu thế giới này đôi khi "chẳng dành cho tình yêu thương", thì việc ngồi lại bên nhau, chấp nhận những ẩn số của nhau, cũng đã là một lời hứa tử tế nhất.

Nó khép sách lại, nhìn nắng rớt qua khe lá, và tự hỏi: Liệu Julie, Lavie và Merci khi bước vào "nhà ga tuổi trẻ", có tìm thấy một góc quán cafe nào đủ ấm áp để chúng không còn cảm thấy chông chênh trên sóng nước cuộc đời?

***


"At the Condé, we never asked each other about our origins. We were too young, we had no past to reveal, we lived in the present tense..."

A strange coincidence: while the children are engrossed in the "stations of youth," it (the character) sits alone reading "In the Café of Lost Youth." It seems loneliness is a nameless debt, forever clinging to those standing at the threshold of life. It looks at little Julie, then looks back at itself within the pages of Patrick Modiano—the Nobel laureate who spent his life searching for fragments of memory in the mist. It whispers: "My little girl, are there so many things you want to say, just like the pictures you’ve drawn and colored?"

In Modiano's world, the Le Condé café is more than a location; it is a "neutral zone." There, a pack of lost youths gather to escape the chaos of the world. Overwhelmed by the thundering changes outside, they lock themselves in a self-created loneliness, a glass cage of uncertainty.

It suddenly remembers the "blank pages" it once brooded over. The young people at Le Condé choose to write nothing on their pages—or rather, they choose ink that fades away every night. They renounce the past to avoid facing the smudged ink stains of reality.

At the center of the book is Louki—a woman with the beauty of a "wild bird" seeking a thorn bush to lean on, yet always fearing entanglement. Through four different perspectives, Louki appears as a blurred silhouette.

"When you truly love someone, you must accept their mystery... and that is precisely why you love them."

The "mystery" Modiano speaks of, to it, is an absolute respect for personal experience. It realizes that, whether as parents or lovers, we often tend to "illuminate" every hidden corner of those we love, inadvertently creating a form of moral harassment disguised as care. But Louki reminds us that love is sometimes the acceptance of letting the other person keep the "white spaces" on their paper.

Why is youth so lost? Modiano offers no direct answer. He only shows us the areas where the rules of society cannot reach. The young people in the book are confused because they realize that what they were taught in school is useless once they step into the swamp of existence. They drift, waiting for some illusory yardstick of time to save them, but in the end, they only find each other in cups of coffee and smoke-filled air thick with loneliness.

Youth needs indefinite spaces to find "oxygen" for the soul.

"We pass through life as if through a misty labyrinth; occasionally, we only manage to touch each other’s hands for a moment before vanishing again."

The young do not play the victim; they are simply learning how to live within their own mysterious parts.

"In the Café of Lost Youth" is a cold "touch," a reminder that even if this world sometimes "is not meant for love," sitting together and accepting each other’s unknowns is the kindest promise of all.

It closes the book, watching the sunlight filter through the leaves, and wonders: When Julie, Lavie, and Merci enter the "station of youth," will they find a café corner warm enough so they no longer feel precarious upon the waters of life?

[Sách] Ho'oponopono - Carole Berger


Ho'oponopono: Sống Như Người Hawaii - Chấp Nhận, Biết Ơn và Tha Thứ - Carole  Berger | NetaBooks


Nếu trong cuốn sách "Lagom - Biết đủ mới là tự do" của Linnea Dunne, người Thụy Điển dạy ta cách tìm kiếm sự cân bằng bằng nguyên lý "không quá ít, chẳng quá nhiều, vừa đủ"—một triết lý được gỡ gạc lại từ sự vừa vặn trong nhịp sống tối giản—thì câu hỏi như tiếng nước suối róc rách trong day dứt vắt qua tâm thức con người hiện đại: Khi thực tại rơi vào sự hoại tử và sụp đổ diện rộng, khi cái "vừa đủ" không còn đủ sức chống đỡ trước những đòn đau thương chốn công sở, con người ta lấy gì để bấu víu?

Mạng xã hội năm 2026. Nhố nhăng. Nhộn nhịp. Cái xã hội văn minh kim tiền này thật là lắm chuyện ngộ nghĩnh, lắm trò cười ra nước mắt!

"Tôi đứng lên từ một đống tro tàn nguội lạnh!"—đó, người ngẩng mặt lên trời mà xướng, mà than, mà rêu rao cho thiên hạ cùng ngắm nghía cái bộ dạng của người. Bản tin thời sự truyền hình chính thống giờ đây nằm chỏng chơ, thất thế cay đắng. Những đoạn phim tư liệu giật gân về "truy bắt tội phạm", những vụ "tai nạn" thảm khốc chết người từng được người ta trịnh trọng dựng lên để răn đe cái sự đạo đức con người, nay cũng được bỏ qua. Chúng chẳng còn là một hấp lực! Thiên hạ dường như đã quá nhàm chán với những tấn trò đời được đạo diễn một cách vuông vức, bài bản.

Thế rồi, giữa cái nháo nhào, rôm rả của cỗ máy cuồng loạn ấy, một hình ảnh của năm xưa chợt dội ngược về như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào cái mặt bợt bạt chốn văn phòng của nó.

Trận hỏa hoạn thảm khốc năm nào.

Nhớ cái thời đứa nhóc sinh viên nghèo kiết xác, nằm co quắp trong căn phòng cách khu vực cháy chỉ một con kênh ở một góc quận 4 ngày đó. Trong cái đêm đen ngột ngạt ấy, nó lắng nghe con người ta gọi nhau í ới, xô đẩy, chen chúc chạy đi xem—à mà thật ra, đi coi phần nhiều chứ thương xót cái nỗi gì! Ngỗn ngang. Nhốn nháo.

Những hàng rào ba-rê sắt gầm ghè chặn ngang phố xá. Để rồi khi cánh cửa sắt ấy hé mở lúc nửa đêm về sáng, khi tàn tro còn chưa tắt hẳn và mùi khói khét lẹt còn vương trên những mảnh tường đổ nát, con người ta lại ùn ùn đèo nhau đổ về... chỉ để "xin số".

Sáng hôm sau, kết quả sổ xố vừa ra, thiên hạ đã vỗ đùi đánh đét một cái rõ đau, reo lên hả hê: "Móa, linh thiệt!"

Thế đấy! Trong cái xã hội mỉa mai đến tột cùng này, sự sống và cái chết, nỗi đau đớn tột cùng của đồng loại và vận may chốc chóc của cờ bạc chỉ cách nhau đúng một vệt vỗ đùi!

Chính giữa nhát cắt khủng hoảng của thời cuộc hiện tại, sự xuất hiện của cuốn sách "Ho'oponopono - Sống như người Hawaii: Chấp nhận, biết ơn và tha thứ" của Carole Berger không phải là một liệu pháp tâm lý thị trường hời hợt. Nó xuất hiện như một khoảng trắng thẩm mỹ tĩnh lặng, một nốt lặng mềm mại tưới tắm cho những linh hồn đang kiệt cùng oxy tinh thần.

Carole Berger—chuyên gia liệu pháp cơ thể và là một cây bút mẫn cảm—không tiếp cận triết lý sống của người bản địa bằng thái độ của một du khách cưỡi ngựa xem hoa. Cuốn sách này là kết tinh từ hành trình Carole Berger dấn thân, tìm tòi, phát hiện rồi đam mê khi sinh hoạt trực tiếp với người dân địa phương suốt bốn tháng ròng để tìm trải nghiệm về văn hóa địa phương trên đảo Hawaii.

Dù các thuật ngữ cốt lõi đã từng được đề cập rải rác trong hành trình phiêu lưu ngôn ngữ của bà, nhưng phải đến cuốn sách này, đọc nó, người ta mới thực sự hiểu rõ và thấu suốt những tập quán sinh hoạt nguyên sơ của con người Hawaii: họ sống gần gũi, giao hòa và trân trọng Mẹ Thiên Nhiên đến nhường nào. Một lối sống khiến bất kỳ ai đang mắc kẹt trong cái hộp bê tông chọc trời cũng phải thèm khát, trăn trở và biết trân quý cuộc sống từng ngày—từ khoảnh khắc mở mắt đón bình minh cho đến khi đêm về chuẩn bị vào giấc ngủ say.

Ho'oponopono—theo nghĩa đen là "làm cho đúng", "sửa chữa một sai lầm"—vốn là một nghi thức cổ xưa của người Hawaii nhằm hòa giải và khôi phục sự cân bằng. Carole Berger đã phẫu thuật cấu trúc tư tưởng ấy thành một triết lý sống ứng dụng hiện đại qua bốn câu thần chú trinh nguyên: Tôi xin lỗi. Xin hãy tha thứ cho tôi. Cảm ơn bạn. Tôi yêu bạn.

"Hành trình để có được cái nhìn thông suốt có thể sẽ đau đớn... Lòng tin (Hilina'i) cho phép chúng ta hiểu và chấp nhận một sự thật rằng chúng ta không hề cô đơn trong cuộc đời này."

Trích dẫn ấy từ cuốn sách dội thẳng vào tâm thức gã công bộc như một luồng gió mát lành. Berger giải phẫu từng tầng nấc của sự chữa lành:

  • Sự chấp nhận và Buông bỏ Nhãn quan Ngạo ngược (Arrogance): Khác với sự ngạo ngược của những gã "sếp độc hại" luôn đổ lỗi cho hoàn cảnh hay cấp dưới, Ho'oponopono buộc con người phải quay về bên trong, dũng cảm nhận 100% trách nhiệm về mình đối với mọi trải nghiệm trong đời.

  • Sự kết nối Tự nhiên và Lòng biết ơn (Mahalo): Nhìn nhận mỗi ngọn cỏ, nhành cây, làn gió là những thực thể sống có linh hồn. Khi con người biết cúi đầu trước Mẹ Thiên Nhiên, sự kiêu ngạo vô nghĩa của cỗ máy hiệu suất sẽ hoàn toàn bị đập tan.

  • Lòng tin (Hilina'i) và Sự thấu cảm (Omoiyari): Lòng tin giải phóng con người khỏi nỗi sợ hãi bị cô lập. Chúng ta không cô độc giữa đại ngàn hay giữa thành phố vách kính; chúng ta là một phần của tổng thể vũ trụ rộng lớn.

Nó bất giác thở dài, rồi lặng lẽ lật từng trang sách của Carole Berger.

Khoảnh khắc ngón tay miết nhẹ trên mép giấy hoen vàng, chiếc màn hình máy tính chốn công sở vừa chợp tắt, trả lại một khoảng trống mênh mang, ngột ngạt. Tách cà phê hiệu suất trên chiếc bàn cao đã nguội ngắt, đóng một vệt cặn đắng sẫm. Nhưng kỳ lạ thay, cõi lòng nó không còn rung lên những nhịp dằn dỗi căm hờn hay sự xơ xác héo úa của những ngày bị giam hãm trong cái hộp tù túng.

Phẳng lại. Yên lành. Điềm tĩnh.

Đối với gã công bộc chiều nay, đọc về Ho'oponopono không phải để trốn chạy thực tại vào một giấc mơ viễn xứ xa xôi. Mà là để học cách sống một đời yêu thương tất cả những thứ quanh mình—không chỉ là con người, những mắt xích chật chội chốn đô thị, mà còn cả thiên nhiên mênh mông bao la ban tặng. Cuộc sống này chẳng phải quý giá sao?

(Updated: 07/08/2026)

***


If in Linnea Dunne's Lagom: The Swedish Art of Balanced Living, the Swedes teach us to seek equilibrium through the principle of "not too little, not too much, just enough"—a philosophy salvaged from the quiet fittingness of a minimalist cadence—then a question, like the incessant, aching murmur of a mountain stream, coils tightly around the conscience of modern humanity: When reality falls into widespread necrosis and collapse, when the "just enough" no longer possesses the strength to shield us from the bruising blows of corporate life, what do we have left to cling to?

Social media in 2026. Bizarre. Bustling. How utterly absurd, how tragically comical this civilized, money-obsessed society has become!

"I rise from a cold, dormant ash!"—there, a soul tilts its head toward the heavens to chant, to lament, to advertise its pathetic plight for the whole world to ogle. The official mainstream television news now lies strewn, bitterly deposed. The sensational documentary clips of "criminal manhunts" and catastrophic, deadly "accidents," once solemnly staged to discipline human morality, are now passed over. They hold no allure! The masses seem thoroughly fatigued by life's tragic farces, orchestrated so neatly, so methodically.

And then, amidst the clamorous, feverish chaos of that frantic machine, an image from years gone by surges backward like a bucket of icy water splashed directly onto its pale, worn office face.

The devastating inferno of that distant year.

It remembers the days of being a dirt-poor college student, curled up in a cramped room separated from the fire zone by a single canal in a secluded corner of District 4. In that suffocating, pitch-black night, nó listened to people shouting, jostling, crowding together to watch—though in truth, most came merely to spectate, far from feeling any genuine grief! Chaos. Commotion.

The snarling iron barricades choked off the streets. Only for those iron gates to crack open in the dead hours before dawn, when the embers had not yet fully died out and the acrid stench of smoke still lingered on ruined, crumbling walls, as crowds swarmed back on their motorbikes... merely to "beg for lottery numbers."

The following morning, the moment the winning numbers were announced, people slapped their thighs with a sharp, resounding thwack, cheering with grotesque jubilation: "Damn, the spirits are real!"

Thus it goes! In this supremely satirical society, life and death, the agonistic suffering of fellow human beings, and the fleeting luck of gambling are separated by nothing more than the slap of a hand against a thigh!

Right at this sharp cut of contemporary crisis, the arrival of Carole Berger’s book, Ho'oponopono: Live Like a Hawaiian - Acceptance, Gratitude, and Forgiveness, is no superficial market therapy. It emerges like a quiet aesthetic white space, a soft rest note showering upon souls rapidly running out of spiritual oxygen.

Carole Berger—a bodywork specialist and an exquisitely sensitive writer—does not approach the native philosophy as a casual tourist skimming the surface. This book is the crystallized essence of Berger’s immersion, exploration, discovery, and ultimate passion derived from living directly alongside local inhabitants for four full months to truly experience local Hawaiian culture.

Though core terminology had been scattered throughout her linguistic wanderings, it is only with this book, in reading it, that one truly comprehends the primal living customs of the Hawaiian people: how intimately, harmoniously, and reverently they cherish Mother Nature. A way of life that leaves anyone trapped inside a skyscraper's concrete box (cái hộp) yearning, contemplating, and treasuring every passing day—from the moment their eyes open to greet the dawn until night descends to welcome a deep slumber.

Ho'oponopono—literally "to make right" or "to correct an error"—was originally an ancient Hawaiian ritual aimed at reconciliation and restoring balance. Carole Berger surgically reshapes that conceptual framework into a modern, applied philosophy through four pristine mantras: I am sorry. Please forgive me. Thank you. I love you.

"The journey to gaining clear insight may be painful... Trust (Hilina'i) allows us to understand and accept the truth that we are never alone in this life."

That quotation from the book strikes the mind of the public servant (gã công bộc) like a cool, refreshing breeze. Berger anatomizes every layer of healing:

  • Acceptance and the Renunciation of Arrogance (Arrogance): Unlike the arrogance of "toxic bosses" who perpetually shift blame onto circumstances or subordinates, Ho'oponopono forces the individual to turn inward, courageously accepting 100% responsibility for every experience in life.

  • Connection to Nature and Gratitude (Mahalo): Recognizing every blade of grass, every branch, every gust of wind as living entities imbued with spirit. When humans learn to bow before Mother Nature, the meaningless pride of the efficiency machine is shattered completely.

  • Trust (Hilina'i) and Mutual Empathy (Omoiyari): Trust liberates humans from the paralyzing fear of isolation. We are not solitary beings in the vast jungle or within the glass-walled city; we are an integral part of a boundless cosmic whole.

Nó involuntarily sighs, then silently turns each page of Carole Berger's book.

The moment its fingertips lightly graze the yellowed paper edges, the office computer screen abruptly shuts off, returning a vast, stifling void. The high-performance coffee sitting on the elevated table has turned cold, leaving a dark, bitter residue at the bottom. Yet strangely, its inner soul no longer vibrates with resentment or the withered, dry (khô khốc) desolation of days spent imprisoned in that claustrophobic box.

Leveled. Peaceful. Composed.

For the public servant this afternoon, reading about Ho'oponopono is not an attempt to escape reality into a distant, foreign dream. It is about learning to live a life of deep love (yêu thương) for everything around oneself—not just human beings, those cramped cogs of the urban sprawl, but also the vast, boundless nature bestowed upon us. Isn't this life inherently precious?

Thứ Bảy, 17 tháng 7, 2021

[Review Sách] Quản trị Marketing - Kotler & Keller

Quản Trị Marketing Philip Kotler - Phiên Bản Lần Thứ 15 - Năm 2020 |  Lazada.vn 

Vốn dĩ đã là thích Marketing nên khi bắt gặp quyển sách cùng chủ đề của mình thích thì nhất thiết không thể bỏ qua nhưng cái sự na ná của các quyển sách ngập tràn trên thị trường luôn là điều khiến nó phải đắn đo trong lựa chọn.

Nếu nói về tác giả Kotler thì hàng tá quyển sách được viết dưới dạng công tác, Kotler đã làm đúng như cái cách mình giới thiệu với tất cả độc giả về chủ đề"tiếp thị". Liệu chúng ta có lắng nghe một người chia sẻ ác kinh nghiệm mà bản thân họ chưa từng thử qua? Câu trả lời quá rõ ràng đúng không?

Ở đây, điều thu hút nó ngoài việc cùng một lúc hai tác giả Kotler và Keller; đó chính là độ dày của quyển sách và tên cảu tác giả là "tập thể giảng viên khoa kinh doanh Quốc tế - Marketing, đại học Kinh Tế TP.HCM (phiên bản được in lần thứ 15), chẳng hiểu sao cảm giác nó cứ như mình vừa trúng mánh khi tìm được trog tầng tầng lớp lớp những sách cùng thể lọa có một quyển sách giúp nó có cái nhìn tổng quát nhất về marketig được cập nhật đầy đủ của một thời hiện đại với ba phần được chia thành 23 chương cho tất cả.

Thứ Tư, 7 tháng 7, 2021

[Sách] Những sai lầm đắt giá trong Marketing - Jack Trout

 

Những Sai Lầm Đắt Giá Trong Marketing

"Bạn tin vào điều mà mình muốn tin. Bạn nếm thứ mà bạn muốn nếm. Marketing là cuộc chiến của những ý niệm, không phải hương vị."

Thương trường. Nháo nhác. Cuồng quay.

Sách trên kệ. Nhan nhản. Toàn dạy thành công. Những công thức rập khuôn. Những ảo ảnh lộng lẫy. Chúng vẽ ra con đường trải hồng. Chúng ru ngủ người ta trong sự ngây thơ vĩ cuồng.

Nhưng nó thì khác.

Nó chỉ thèm đọc về sai lầm.

Bởi nó hiểu. Qua một đời phong sương bám đầy bụi đường kiếm tiền, thành công nào mà chẳng đúc kết từ gãy đổ? Học về thành công thường chỉ là bắt chước một mô hình ngụy tạo. Còn học về thất bại? Đó là nhát cắt trần trụi nhất. Đó là tự tay giải phẫu những vết thương hoắm. Bóc tách từng mảng ký ức kiêu ngạo để tránh bước xuống vực thẳm. Để không bị vồ vập bởi sự đào thải khốc liệt ngoài kia.

Giữa cái hộp văn phòng tù túng. Chiều giông bão vần vũ. Nó lật mở từng trang sách "Những sai lầm đắt giá trong Marketing" (In Search of Arrogance / Big Brands, Big Trouble) của Jack Trout. 

Jack Trout—bậc thầy về chiến lược định vị— bằng văn phong phong sương, dứt khoát và nặng như một khối chì, ông bóc tách căn bệnh cốt lõi của những gã Sapiens kiêu ngạo: sự u mê trong ảo tưởng của chính mình, thường lầm lỡ tin rằng: chỉ cần sản phẩm ngon hơn, chất lượng tốt hơn, cỗ máy vận hành hoàn hảo hơn thì sẽ chiến thắng. Nhưng Trout lạnh lùng chứng minh điều ngược lại. Trực giác con người vốn dĩ bị thao túng bởi ý niệm. Khi các thương hiệu khổng lồ bắt đầu nảy sinh tâm lý thượng đẳng, họ tưởng mình là kẻ vô địch. Sự ngạo ngược (Arrogance) chính là khởi đầu của mọi thảm họa.

Jack Trout đã điểm mặt chỉ tên những "di sản" sai lầm đắt giá nhất lịch sử thương trường:

  • Bẫy mở rộng thương hiệu vô độ (Line Extension): Khi một cái tên đã định hình trong tâm trí khách hàng, việc tham lam gán nó lên vô số sản phẩm không liên quan chính là cách nhanh nhất để làm loãng và hủy diệt ý niệm nguyên bản.

  • Sự ngây thơ trước đối thủ: Đứng yên trên đỉnh cao, coi thường sự dịch chuyển của thị trường và phớt lờ những bước đi tinh ranh bên lề phố của các thương hiệu mới nổi.

  • Thao túng dữ liệu để ngụy tạo sự tăng trưởng: Những dự báo thu lời mong xé lẻ, những con số kế toán bị bóp méo chỉ để thỏa mãn lòng tham ngắn hạn.

"Những dự đoán mong manh về khả năng thu lời, tăng trưởng thường dẫn tới việc các mục tiêu bị bỏ lỡ, vốn bị xé lẻ và thậm chí số liệu kế toán cũng phải làm giả."

Đọc đến đây, tim nó nhói lên một nhịp rứt rách. Cụm từ "số liệu kế toán bị làm giả" dội vào tâm trí nó hệt như tiếng máy in dồn dập chốn công sở. Đó chẳng phải là những chỉ số phù phiếm (Vanity Metrics) mà đám trẻ và những gã thích la lối vẫn mải mê đuổi theo sao? Hệt như cảnh báo của Spencer Johnson trong Ai đã lấy miếng pho mát của tôi, hay bài học số hóa vô cảm của Joe Wheeler: khi người ta mải mê làm giả con số để đổi chát lấy sự an toàn giả tạo, chối bỏ hiện thực phơi bày. Để rồi khi cơn khủng hoảng trút xuống, miếng pho mát thị phần lập tức biến mất, chiếc mặt nạ vị lợi rơi rụng, chỉ còn lại sự vỡ vụn khô khốc.

Không chỉ dừng lại ở việc lên án, Jack Trout trang bị cho đọc giả một bộ lọc tư duy tối giản nhưng mang tính sống còn. 70% dung lượng cuốn sách là những ca phẫu thuật thực tế, bóc tách tại sao những gã khổng lồ lại ngã ngựa:

  1. Chấp nhận sự hữu hạn của thương hiệu: Một thương hiệu không thể đại diện cho tất cả mọi thứ. Càng cố ôm đồm, ý niệm càng mờ nhạt.

  2. Tôn trọng thực tại trần trụi: Khách hàng không mua sản phẩm, họ mua ý niệm nằm trong tâm trí họ. Muốn thay đổi ý niệm, không thể dùng mệnh lệnh hành chính khắt khe hay những chiến dịch quảng cáo la lối, mà phải bắt đầu từ sự thấu suốt hành vi.

  3. Điềm tĩnh đối diện với thất bại: Cắt lỗ kịp thời khi nhận ra sai lầm, thay vì tiếp tục đổ hàng triệu đô-la vào một chiến lược mục nát chỉ để bảo vệ cái tôi ngạo ngược của ban lãnh đạo.

Một thương hiệu bền vững không thể xây trên những số liệu ngụy tạo. 

Nó khép lại cuốn sách của Jack Trout. Mưa ngoài hiên đập từng vệt dài. Tách cà phê hiệu suất trên chiếc bàn cao đã nguội ngắt từ lâu. Nhưng cõi lòng nó phẳng lại. Yên lành. Điềm tĩnh.

***


THE ANATOMY OF ARROGANCE: WHEN ILLUSIONS COLLAPSE IN THE MARKETPLACE

"You believe what you want to believe. You taste what you want to taste. Marketing is a battle of perceptions, not taste."

The marketplace. Frantic. Whirlwind.

Books lined upon shelves. Ubiquitous. All preaching success. Rigid, cookie-cutter formulas. Splendid illusions. They paint a rose-tinted path. They lull people to sleep in a state of grandiose innocence.

But nó is different.

Nó only craves to read about failure.

Because nó understands. Through a lifetime weathered by dust along the roads of chasing money, what success isn’t forged from collapse? Learning about success is usually merely imitating a fabricated blueprint. But learning about failure? That is the most naked cut. That is surgically dissecting gaping wounds with one's own hands. Peeling back each layer of arrogant memory to avoid stepping off the precipice. To avoid being violently consumed by the fierce elimination out there.

Inside the suffocating box of the office. An afternoon heavy with swirling storms. Nó turns each page of Jack Trout's “In Search of Arrogance / Big Brands, Big Trouble.”

Jack Trout—a master of positioning strategy—utilizes a prose weathered, decisive, and heavy as a block of lead to anatomize the core affliction of arrogant Sapiens: the intoxication within their own illusions. They often mistakenly believe that as long as a product tastes better, possesses superior quality, or operates as a more perfect machine, it will triumph. But Trout coldly proves the exact opposite. Human intuition is intrinsically manipulated by perception. When giant brands begin to nurture a mentality of superiority, they imagine themselves invincible. Arrogance is the precise origin of every catastrophe.

Jack Trout pinpoints and names the most expensive "legacies" of failure in market history:

  • The Trap of Unbridled Line Extension: When a name has already crystallized in the customer's mind, greedily slapping it onto countless unrelated products is the fastest way to dilute and annihilate the original perception.

  • Naive Complacency Toward Rivals: Standing idle upon the peak, scorning market shifts, and ignoring the shrewd moves made on street corners by emerging brands.

  • Manipulating Data to Fabricate Growth: Fragile profit forecasts sliced thin, twisted accounting figures designed solely to satisfy short-term greed.

"Fragile predictions regarding profitability and growth often lead to missed targets, fragmented capital, and even falsified accounting metrics."

Reading to this point, its heart throbbed with a sharp, fractured ache (rứt rách). The phrase "falsified accounting metrics" reverberated through its mind like the relentless clatter of an office printer. Were those not the exact vanity metrics that the young staff and the shouting men endlessly chased? Just like the warning from Spencer Johnson in Who Moved My Cheese?, or Joe Wheeler’s lesson on cold digitization: when people obsess over fabricating numbers to barter for a false sense of safety, they deny the exposed reality. Only for the crisis to crash down, causing the market-share cheese to instantly vanish, the utilitarian mask to fall away, leaving behind nothing but a dry, shattered ruin (vỡ vụn khô khốc).

Far from stopping at condemnation, Jack Trout equips the reader with a minimalist yet vital cognitive sieve. Fully 70% of the book consists of real-world autopsies, dissecting precisely why giants fell from grace:

  • Accepting the Finitude of a Brand: A brand cannot represent everything. The more it attempts to grasp, the fainter its core perception becomes.

  • Respecting Naked Reality: Customers do not buy products; they buy the perception lodged within their minds. To alter perception, one cannot employ harsh administrative commands or loud, shouting ad campaigns; one must begin with the deep comprehension of human behavior.

  • Calmly Confronting Failure: Cutting losses swiftly upon recognizing a mistake, rather than continuing to pour millions of dollars into a rotting strategy merely to protect the management's arrogant ego.

A sustainable brand cannot be erected upon fabricated metrics.

Nó closes Jack Trout’s book. Outside the window, rain strikes the glass in long, heavy streaks. The performance-driven coffee cup upon the high table has long gone cold. Yet its inner world levels out. Tranquil.

[Sách] Tái tạo doanh nghiệp - Aaron Dignan

Tái Tạo Doanh Nghiệp - Một Hành Trình Quả Cảm | Tiki

"Nghĩ và làm là hai điều tách biệt. Và suy nghĩ cũng khác với chứng nghiện dự đoán. Với hàng loạt mệnh lệnh. Với sự hội tụ tất cả những điều ấy dưới hình thức một ngân sách khắt khe. Giữa các lý thuyết và đóng góp của những bậc trí giả tạo, chúng ta hầu như không xây dựng được gì nhiều cho công việc hiện tại."

Gã CEO đời thứ tư gọi nó vào phòng, ngón tay gã chỉ thẳng vào một biểu đồ biến thiên của những con số và đường nét lên xuống. Màn hình chằng chịt những đồ thị của một bản báo cáo ngày, phác ra một bức tranh vĩ cuồng về hoạt động của công ty. Gã dường như muốn dạy nó—một đứa ngổ ngáo ngoài đường mới bước vào thế giới hành chính, kẻ mà trong mắt gã là chưa biết đường đọc dữ liệu. Gã đang say sưa nói về xu hướng. Nó chỉ cười, im lặng, gật đầu ngoan ngoãn như một đứa trẻ biết vâng lời trước người thầy vĩ đại. Nó đã quen dần với bộ mặt ấy trong một cơ chế toàn cầu, nặng chất dân tộc ấy đó. Nhưng sâu trong thâm tâm, có một sự đổi chát thầm lặng. Phản ứng công khai chẳng được gì, chỉ chuốc lấy tiếng ngạo ngược. Vậy mà đứa trẻ bướng bỉnh trong nó vẫn âm thầm lên tiếng, bật thành lời cay đắng: Chẳng có gì luôn luôn đúng, bản chất của xu hướng suy cho cùng vẫn chỉ là sự dự đoán.

Rồi cái ngày "luôn luôn đúng" ấy cũng sụp đổ. Hai tuần sau, Covid bùng phát và một lệnh giãn cách xã hội ngặt nghèo được triển khai. Nó quay cuồng trước màn hình máy tính chôn chân trong cái hộp nhà riêng, chứng kiến cái giá phải trả lớn hơn tất cả những gì từng dự đoán. Một vết thương sâu hoắm mà đến tận năm năm sau, thực tại vẫn chưa thể phục hồi.

Mỉa mai thay, chính trong những ngày tháng nhìn guồng máy trì trệ xung quanh tê liệt với những cuộc họp kéo dài vô tận làm nguội ngắt mọi ý tưởng, lại là lúc nó lật mở cuốn sách "Tái tạo doanh nghiệp" (Brave New Work) của Aaron Dignan.

Aaron Dignan là nhà sáng lập của The Ready—một tổ chức tư vấn phát triển hệ thống quản trị có tầm ảnh hưởng toàn cầu, từng tái cấu trúc thành công cho các tập đoàn khổng lồ trong danh sách Fortune 100 lẫn các định chế công quyền. Dignan viết tác phẩm này bằng văn phong đanh thép, trần trụi của một gã thực chiến, phẫu thuật căn bệnh vĩ cuồng của chủ nghĩa quan liêu để tìm lại khoảng trắng cho sự sáng tạo.

Tác giả chỉ ra một thực tế cay đắng: bi kịch của các tổ chức hiện đại là họ tự giam cầm mình trong những "Hệ điều hành" lỗi thời từ thế kỷ trước. Người lãnh đạo thích la lối, đập bàn tuyên bố những mục tiêu triệu đô hoành tráng từ các biểu đồ lý thuyết, rồi áp đặt một ngân sách khắt khe cùng hàng loạt mệnh lệnh khô khốc. Họ nghiện dự đoán tương lai thay vì dũng cảm nhìn nhận thực tại vô thường.

"Tổ chức của bạn không phải là một cỗ máy cần được sửa chữa. Nó là một hệ sinh thái phức tạp cần được nuôi dưỡng."

Để hiện thực hóa công cuộc tái tạo, Aaron Dignan đã kiến tạo nên một bản đồ tư duy gồm 12 yếu tố cốt lõi. Trong đó, nó đặc biệt tâm đắc cách tác giả tái định hình sáu trụ cột: Chiến lược, nguồn lực, hội họp, thông tin, tư cách thành viên và lương bổng.

Dignan chứng minh rằng, để vận hành tinh gọn, chiến lược không phải là một văn bản hành chính rập khuôn, cố chấp, mà là một thực thể sống có khả năng tiến hóa theo từng nhịp đập thực tế. Thông tin phải được minh bạch tuyệt đối để loại bỏ những "tin đồn" quấy rối tinh thần và tiêu trừ nhân tính. Hội họp phải được thiết kế lại—con người đứng thẳng bên chiếc bàn cao để đối thoại sòng phẳng, ủi phẳng mọi sự trì trệ.

Đọc tác phẩm này giúp nó có được sự điềm tĩnh, lạnh lùng của một nhà khoa học như Angela Merkel trước bão tố dư luận, để nhận ra quy luật nhân–quả ẩn hiện trong mỗi quyết sách quản trị. Nó không còn bị đánh lừa bởi những đường nét vẽ sẵn của gã CEO đời thứ tư, bởi nó biết, hơi ấm yêu thương và sự tận tâm chân thật với thực tại mới là thứ duy nhất cứu rỗi một tổ chức.

***



"Thinking and doing are two separate things. And thinking is also different from the addiction to prediction. With a barrage of commands. With the convergence of all those things under the guise of a strict budget. Midst the theories and contributions of artificial intellectuals, we build almost nothing of substance for our current work."

The fourth-generation CEO summoned nó into his room, his finger pointing directly at a fluctuating chart of rising and falling lines and numbers. The screen was chằng chịt (densely tangled) with the graphs of a daily report, sketching out a grandiose picture of the company’s operations. He seemed intent on lecturing nó—a rebellious kid from the streets who had just entered the administrative world, someone who, in his eyes, had zero clue how to read data. He was talking passionately about trends. Nó merely smiled, remained silent, and nodded obediently like a well-behaved child before a grand master. Nó had grown accustomed to that face within a mechanism that was entirely global, yet heavily ethnocentric. But deep within its core, a silent exchange was taking place. Public retaliation achieves nothing, only inviting the label of arrogance. Yet, the stubborn child within nó still spoke up under its breath, breaking into a bitter truth: Nothing is always right; the essence of a trend, after all, is still just a prediction.

Then, the day of "always right" collapsed. Two weeks later, Covid erupted, and a draconian social distancing mandate was deployed. Nó spun wildly before a computer screen, anchored inside the box of its own home, witnessing a cost far greater than anything ever predicted. A deep, hollow wound that, even five years later, reality has still failed to recover from.

Ironically, it was precisely during those months of watching the stagnant machinery around it become paralyzed with endless meetings that left every spark of an idea cold, that nó reopened the pages of “Brave New Work” by Aaron Dignan.

Aaron Dignan is the founder of The Ready—a global organizational design and transformation firm that has successfully restructured giant Fortune 100 enterprises and public institutions alike. Dignan penned this work with the unyielding, naked voice of a practical warrior, dissecting the grandiose sickness of bureaucracy to reclaim the white space for creativity.

The author exposes a bitter reality: the tragedy of modern organizations is that they imprison themselves within obsolete "Operating Systems" from the previous century. Leaders enjoy shouting, banging on tables, and proclaiming massive million-dollar goals from theoretical charts, only to impose a strict budget alongside a barrage of dry commands. They are addicted to predicting the future instead of courageously confronting an impermanent (vô thường) reality.

"Your organization is not a machine to be fixed. It is a complex ecosystem to be nurtured."

To manifest this transformation, Aaron Dignan engineered a culture map consisting of 12 core elements. Among them, nó is particularly captivated by the author’s redefinition of six pillars: Strategy, Resources, Meetings, Information, Membership, and Compensation.

Dignan proves that to operate leanly, strategy is not a hard-molded, stubborn administrative document, but a living entity capable of evolving with every pulse of reality. Information must be absolutely transparent to eliminate the psychological harassment of "rumors" and the diminishment of humanity. Meetings must be redesigned—humans standing upright beside the high table to engage in transparent, sòng phẳng dialogue, flattening all stagnation.

Reading this work endows nó with the exact composure and cold precision of a scientist like Angela Merkel standing before a political tempest, recognizing the law of cause and effect woven through every management decision. Nó is no longer deceived by the pre-drawn lines of the fourth-generation CEO, because nó knows that human warmth and an absolute devotion to the present reality are the only things capable of saving an organization.

Thứ Bảy, 3 tháng 7, 2021

Người tình tóc bạc - Vì lý do dịch nên về chắc trễ

 

Cao thành, chiều man mác với nắng bạc; con người đi lưa thưa sau một trận dịch càn qua trên những con đường bê tông hóa, dưới căn nhà cấp bốn, có một dáng người phụ nữ ngồi gối một chân lên ghế nhìn ra phía con đường lưa thưa người đi 


Ông nói: Bà thấy tui sao, còn ngon lành ha? 

Bà nhìn người đàn ông dáng dong dỏng cao; tóc chải gọn gàng theo nếp bảy, ba; đang vừa đi vừa cười từ ngoài ngỏ bước vào, vài hòn đá nhỏ lạo xạo dưới gót chân đang mỉm cười với bà rồi buông ra một câu hỏi: còn ngon lành ha? 

Bà trả lời: Ngon hay không ngon thì giờ cũng lạt miệng rồi! Hàng qua tay mấy bận; hàng quá lửa cũng chục lần. 

Người phụ nữ của mái đầu mang dấu vết của mây trời của tháng ngày bão giông, trắng, xám đan xen. Ngắm nghía. Người phụ nữ thủng thỉnh hạ giọng nói với người đàn ông còn giữ nguyên nụ cười sau câu trả lời đó: Thôi, ông tranh thủ ăn đi không kẻo nguội! Bữa nay, Tui làm đơn giản vài món thôi

Ông vừa bỏ áo khoác ra, vừa nói cười: Đơn giản của em cũng là ba món, một canh à! Em vẫn như ngày nào. Ông kéo chiếc ghế, ngồi đối diện bà. 

Bà nhìn ông; bắt đầu xỏa tóc ra, rồi quấn lại sau đâu, lâu lắm rồi mới nghe từ em. Lâu lắm của bà chắc cũng phải đến bốn mươi, năm mươi năm; từ cái thời tóc bà vẫn còn mượt mà như một tấm lụa đen, giờ thì tóc đi vào mùa giông bão - mây trắng, mây đen chen nhau quần vũ trên mái đầu.   

Bà nói: Thôi, ông tranh thủ ăn đi không kẻo nguội! Ăn cho khỏe để còn đi với gái!

Ông khẽ dừng đũa, rụt cổ về sau, nhíu mày: Em cứ vậy hoài! Tuổi này còn cơm, cháo gì nổi? 

Bà nói: Tôi sao biết được. Thằng hai chắc thấy ông nên nó kiếm chuyện đi rồi, chắc nó nghĩ để cho ba nó hâm nóng các kiểu; thằng rảnh thiệt. Bà đưa tay nhấp miếng nước trong lúc ông bắt đầu lùa đũa đầu tiên, món thịt bò xào với rau củ vừa đủ như thể trăm năm vẫn không quên một ngọn lửa thế nào cho mỗi món ông ăn. 

Ông nói: Con tôi mà, nó phải biết tính tôi chứ.

Bà đáp: Ừ, đúng rồi, cái thằng mà ông đá một phát văng lên bàn bi da đó. Thằng đó giờ trở tính, bắt đầu biết lo; nó chăm sóc tôi từng bữa ăn đấy. Con vợ nó nhìn mà phát ghen đến phát hơn; có thằng con giờ cũng đi theo đường của ông nội nó; làm cho công ty Mai Linh nghe đâu cũng dính dáng đến nhà nước, đến Đảng của ông đấy. 

Ông nói: Em cứ vậy, tính tôi nóng, dạy con nhiêu khi đụng tay đụng chân thôi chứ đứa nào mà chẳng thương. Mà em cứ chì chiết hoài, chuyện cũ mình bỏ qua đi em.


Cao thành, chiều man mác trôi theo cái nắng bạc, con người đi lưa thưa sau một trận dịch càn quét qua quê; đường đã vắng giờ lại càng vắng.


Ông ngắm nghía người phụ nữ của lúc quay người qua một bên, chiếc áo bà ba khẽ lắc lư vạt áo, nhìn về phía con đường bên ngoài. Nhà nhỏ, bàn ăn đặt trước ngay ở cửa bước vào, nên nhờ thế mà ông tìm lại khoảnh khắc tưởng rằng đã trôi vào một quá khứ êm đềm.

Ông nói; Anh thích mấy lúc em thế này? 

Bà trả lời chẳng thèm quay lại nhìn ông: Là mấy lúc nói đến con ông à?

Ông cười: Không. Là mấy lúc em thả mắt nhìn, có cái gì đó xa thâm thẩm. Anh thấy cái nhìn đó không có gì khác so với cái nhìn trên dòng sông của cô gái ngồi ở một bên bờ chiến trận ngày ấy, hàng tre rì rào ngồi bên như muốn ôm ấp em vào lòng lúc ở cạnh một dòng sông. Anh thích ánh nhìn của một O nhỏ ngồi bán ở chợ chiều Đông Ba, em nhìn về một phía xa xôi như tự hỏi khi nào chiến tranh qua vậy. Anh giờ gặp lại cái nhìn đó của em như muốn hỏi bao giờ thì dịch qua, bao giờ thì chúng ta lại.. gặp nhau. 

Bà cười: Mắc mệt! Tôi nói với ông nhiều rồi, giờ tui chả có nghĩ gì đến ông đâu mà ham. Giờ tôi chả còn nghĩ gì nữa, chỉ giờ dịch thì lo cho mấy đứa nhỏ thôi! 

Ông hỏi: Em nói thằng ba, thằng tư, con năm hay thằng út?

Bà như tự nói với mình: Đứa nào cũng lo! Thằng ba vừa rồi chân nó sưng to quá; nhức đi không nổi, thiệt tình cái thằng có ăn nhậu gì đâu vậy mà bị cái bệnh gout đó. Thấy nó đi cà nhắc mà tôi thương. Cái thằng đó nó còn giận ông lắm đó; giận cái ngày nó đói xỉu trên đường về quê. Con tui cũng con ông, nó nói ông tui chỉ biết im.  

Thằng tư, con năm thì đợt rồi tui bệnh nằm viên; hai đứa cũng loắn xoắn lo thấy cũng thương. Thằng tư nhìn nó nằm dưới đất thấy thương! Tui kể thằng út nó nghe, thằng út nó nói sao bằng lúc nó chăm anh nó ở bệnh viện, nằm còn thảm hơn. Mấy anh em nó cứ như vậy, chả đứa nào chịu thua đứa nào. Mấy anh em năm nào cứ rôm rã như mưa rào mỗi đợt ông về. Giờ dịch; thằng tư với thằng út mắc kẹt ở Sài Gòn; tui lo cho mấy đứa cháu không biết thế nào. Nhà nhỏ, chật chội, nghĩ tội cháu tôi. 

Ông nhìn bà, mắc sáng lên, lặng im nghe theo từng câu nói: Em à! Tụi nhỏ nó lớn rồi, có gia đình hết, em lo cho mình đi 

Bà im lặng, quay hẳn lưng về phía ông rồi cất tiếng: Có gì ông phù hộ cho con cháu mình! 


Cao thành, chiều lặng thinh, nắng bạc bắt đầu chìm dần theo bóng hoàng hôn; chạy thật nhanh dưới ánh đèn lên.  

Gã đàn ông làn da đen rám nắng là thằng hai; vừa chạy chiếc xe vào trước sân hỏi: Sao rồi chị tư? Anh, chị tâm sự xong chưa; nhang tàn rồi để con đốt giấy tiền vàng bạc xuống cho ông ba kiếm thêm vài bà, xong rồi về nằm nghỉ. 

Đâu đó, trên màn hình zalo, thằng ba chụp hình mâm cơm cúng ông gửi thằng út ghi thêm caption: “vì lý do dịch nên về chắc trễ”


Thứ Ba, 29 tháng 6, 2021

[Sách] Ngôn ngữ phiêu lưu ký - Helen Russell


Tự thú. Ở một trưa trời nắng thiếu mây bay, nó thừa nhận rằng có những lúc bản thân đã vô tình đánh rơi con chữ… ngay bên lề phố. Một đoạn đường lướt qua, một từ ngữ thú vị lọt vào ánh mắt, dặn lòng phải ghi lại, để rồi… lại quên. Sự trôi dạt của câu chữ hệt như cách thực tại xô bồ cuốn phăng đi những khoảng trống để thở.

Thành phố ngoài kia những cơn mưa giao mùa dồn dập, nhưng bên trong góc phòng này, nó với tay, chọn bước theo Helen Russell. Một lần nữa. Theo chân tác giả đi qua hành trình khám phá ngôn từ của 30 quốc gia.

"Ngôn ngữ không chỉ là công cụ để giao tiếp; nó là chiếc la bàn định vị cho hạnh phúc. Khi một nền văn hóa sinh ra một từ ngữ độc nhất để gọi tên một trạng thái cảm xúc, đó là lúc họ đã tìm ra cách sống sót trước sự vô thường của số phận."

Helen Russell, một cựu biên tập viên kỳ cựu tại London, cô đã dũng cảm đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Người ta định nghĩa hạnh phúc ra sao? Trong cuốn sách, cô đưa ra những khái niệm chuẩn xác, những khám phá văn hóa đầy tinh tế để giải mã cấu trúc tinh thần của các dân tộc. Tất cả những ngôn ngữ được người địa phương sử dụng trong tác phẩm đều mang tầng nghĩa tích cực và vị nhân sinh.

Từ tinh thần Hygge (ấm cúng từ những điều bình dị) của người Đan Mạch, Lagom (biết đủ, tinh gọn) của người Thụy Điển, cho đến Wabi-sabi (tìm thấy vẻ đẹp trong sự rạn nứt, không hoàn hảo) của người Nhật. Đọc Russell giúp nó tìm lại không cần vĩ cuồng, chỉ cần biết đủ.

"Hạnh phúc không phải là một biểu đồ tăng trưởng tuyến tính với những con số triệu đô. Hạnh phúc là khi bạn biết tắt đi màn hình chằng chịt dữ liệu để tận hưởng một khoảnh khắc câm lặng, nơi tâm hồn được thở và nhân tính được phục hồi."

Từ ngữ là khởi đầu dẫn đường sự thuộc về. Có những từ ngữ sinh ra chỉ để mô tả cảm giác khao khát được cuộn mình trong tư thế bào thai nguyên thủy để tìm về nguồn cội.

Điểm mạnh thu hút và đầy thuyết phục của quyển sách này còn đến từ hình thức: màu sắc, thiết kế mỹ thuật chỉn chu và kỹ thuật in ấn với loại giấy tốt hơn hẳn những tác phẩm cùng thể loại—một khoảng trắng thẩm mỹ trọn vẹn cả về nội dung lẫn thị giác.

"Có những nỗi buồn không thể dịch sang ngôn ngữ khác, giống như việc một đứa con viễn xứ luôn mang theo mùi khói lam chiều của quê mẹ trong tâm tưởng. Nhưng chính những khoảng trống không thể lấp đầy đó lại là bệ phóng để chúng ta tự tay thiết kế lại cuộc đời mình."

Đọc cuốn sách này không khiến nó mơ mộng viển vông về một xứ sở cờ hoa xa xôi, mà giúp nó trân trọng từng nhát chạm trần trụi của thực tại. Nó hiểu rằng không cần phải đi đến nửa vòng trái đất để tìm kiếm định nghĩa của hạnh phúc.

(updated: 24/06/2026)

***



Confession. On a midday baked in sun yet starved of drifting clouds, nó confesses that there are moments when it accidentally drops its words… right by the street curb. A passing stretch of road, a fascinating syllable catching its eye—it reminds itself to record it, only to… forget. This drifting of phrases behaves exactly like the frantic pace of external reality, violently sweeping away any white space to breathe.

The city outside is spiraling through the heavy, dồn dập downpours of transitional seasons, but inside this corner room, nó reaches out, choosing to walk alongside Helen Russell. Once again. Following the author’s footsteps through a journey discovering the native vocabularies of 30 nations.

"Language is not just a tool for communication; it is a compass for happiness. When a culture births a unique word to name an emotional state, that is when they have found a way to survive the impermanence (vô thường) of destiny."

Helen Russell, a veteran former editor in London, courageously set off to unearth the answer to a single question: How do people define happiness? Within the book, she delivers precise concepts and covertly subtle cultural discoveries to decode the psychological architecture of various nations. Every single word utilized by the locals within this piece of writing harbors a positive, humanistic definition.

From the Danish spirit of Hygge (warmth drawn from ordinary things) and the Swedish Lagom (the precise discipline of knowing what is enough), to the Japanese Wabi-sabi (locating aesthetic beauty within cracks and imperfections). Reading Russell restores its perspective—it has no demand for vĩ cuồng illusions; it merely needs to know what is enough.

"Happiness is not a linear growth chart packed with million-dollar figures. Happiness is when you know how to black out a screen chằng chịt with data to indulge in a pocket of absolute silence, where the soul can breathe and humanity is restored."

Words are the primitive origin guiding the path to belonging. There are specific words birthed solely to articulate that desperate yearning to curl oneself into a primal, fetal position to track the way back to one’s root identity.

The compelling and highly persuasive strength of this volume also dictates upon its physical form: the color palette, the meticulously disciplined graphic design, and an internal printing execution utilizing a paper stock far superior to any books within this genre—a pristine aesthetic white space achieved through both literary content and tactile vision.

"There are sorrows that cannot be translated into another tongue, much like how a diasporic child always carries the scent of their motherland's evening hearth smoke within their consciousness. Yet, it is precisely those unfillable voids that serve as the psychological launchpad to hand-draft and redesign our own lives."

Reading this book does not lure nó into romantic daydreaming about a distant land of stars and stripes; rather, it anchors its appreciation within every naked, trần trụi touch of immediate reality. Nó comprehends that it does not need to traverse half the globe to isolate the definition of happiness.

[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...