Chiến Phan

Hiển thị các bài đăng có nhãn văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2026

[Sách] Truyện hư cấu - Jorge Luis Borges


Phú Quốc ngày trở lại đón nó bằng những vết thương chằng chịt trên da thịt của đất. Mặt đất dọc ngang những đại công trường, những chiếc xe chuyên dụng cày xới mọi lối đi, biến một mảnh đất từng hoang vu thành những khối bê tông chực chờ lộ diện. Nơi đây, gần hai năm mươi trước, những mảnh đời xê dịch như nó từng quăng mình lên chiếc giường lạ, ở một khách sạn xa nhà, để thưởng thức bầu không khí trong lành của biển trời, ở một tâm thế "Life for Rent" cùng tiếng hát của Dido. Tự do. Tù tùng. Xa lạ đầy háo hức với tâm tư.

Sau làn sóng đầu tư vội vã, tự phát và chẳng cần quy hoạch của loài Sapiens, giờ đây, để chuẩn bị cho một hội nghị quốc tế lớn, hòn đảo lại bị lật tung lên một lần nữa. Mảng xanh thưa dần, nhường chỗ cho những nét vẽ chằng chịt như một mê cung. Đó cũng chính là thời điểm nó kết thúc chuyến đi dạo cùng Ficciones (Truyện hư cấu) của Jorge Luis Borges. Bản quy hoạch của hòn đảo và thế giới của Borges trùng lập đến lạ kỳ: cả hai đều được xây dựng từ những mảnh ghép hữu hạn nhưng lại có khả năng tạo ra những tổ hợp vô tận của sự hỗn mang.

Nhưng nếu những khối Lego mang lại sự rực rỡ, những đứa trẻ sống lâu bắt đầu tự lắp ráp trên mãnh đất thật, đó là lúc nó chuyện trò lời cuối cùng Borges, sau khi đã ném nó vào một sự hoang mang tột độ. Ông không phải là một người kể chuyện thông thường; ông là một nhà kiến trúc sư của tâm linh, một gã quyền lực của vương quốc tư tưởng. Với tư cách là một nhà bình luận, nó thấy ở Borges một sự thấu cảm nghiệt ngã—ông không xoa dịu nỗi đau nhân sinh bằng những lời đường mật, ông ấp ôm nó bằng sự vô tận của thời gian và không gian.

Khi vũ trụ là một thư viện

Kiệt tác Ficciones (gồm hai phần: Khu vườn của những lối đi rẽ đôiArtificios) tập trung vào những biểu tượng mang tính triết học tối cao: mê cung, thư viện, chiếc gương, và những cuốn sách vô tận.

Trong truyện ngắn kinh điển "Thư viện Babylon", Borges đã dựng lên một vũ trụ dưới hình hài một thư viện lục lăng khổng lồ, chứa đựng tất cả các cuốn sách có thể được viết ra từ sự kết hợp của 25 ký tự. Đó là một "Tài khoản uy tín" của tri thức nhân loại, nhưng cũng là một cái lồng sắt nghẹt thở. Các thủ thư dành cả đời để đi tìm cuốn sách tối cao—cuốn sách giải thích toàn bộ vũ trụ—nhưng họ chỉ tìm thấy sự điên cuồng và quấy rối tinh thần từ những dãy hành lang bất tận.

"Thư viện là vô tận và có chu kỳ. Nếu có một khách lữ hành vĩnh cửu bước qua nó theo bất kỳ hướng nào, ông ta sẽ chứng thực qua các thế kỷ rằng những khối bách khoa toàn thư giống nhau sẽ lặp lại cùng một sự hỗn loạn (mà khi lặp lại, sẽ trở thành một trật tự: một Trật Tự Tối Cao)."

Nhát chạm này khiến nó lạnh người. Đời công bộc hay đời xê dịch của chúng ta chẳng phải cũng là một cuộc tìm kiếm vô vọng trong một thư viện Babylon thu nhỏ đó sao? Chúng ta mải mê đi tìm những mật mã thành công, những hư danh chức sắc, để rồi nhận ra mình chỉ đang lặp lại những lối đi đã được đúc sẵn từ trước, trong một mê cung chằng chịt y hệt các đại công trường ngoài kia.

 "Ts'ui Pên" 

Đến với "Khu vườn của những lối đi rẽ đôi", Borges giới thiệu một cấu trúc thời gian không tuyến tính. Nhân vật Ts'ui Pên đã dành cả đời để làm hai việc: viết một cuốn tiểu thuyết khổng lồ và xây dựng một mê cung vô tận. Cuối cùng, người ta nhận ra cuốn tiểu thuyết và mê cung chính là một. Trong mê cung thời gian của Ts'ui Pên, mọi kết cục đều xảy ra đồng thời. Ở một dòng thời gian này, anh và tôi là kẻ thù; ở một dòng thời gian khác, chúng ta là tri kỷ.

"Không giống như trong các cuốn sách hư cấu thông thường, nơi mỗi khi một người đối mặt với các lựa chọn, anh ta sẽ chọn một và bỏ qua những cái khác; trong cuốn sách của Ts'ui Pên, anh ta chọn—đồng thời—tất cả chúng. Do đó, anh ta tạo ra những tương lai khác nhau, những thời gian khác nhau, chúng cũng phân nhánh và lặp lại."

Đây là một sự gắn kết mang tính vũ trụ. Tư duy phân nhánh này của Borges đã trở thành ngọn nguồn cảm hứng vĩ đại cho rất nhiều bậc thầy nghệ thuật hiện đại. Ta thấy bóng dáng mê cung thời gian của ông trong cấu trúc điện ảnh phức hợp của Christopher Nolan (với InceptionInterstellar), trong những trang viết siêu thực của Haruki Murakami, hay những thước phim đầy ám ảnh của David Lynch.

Borges làm phẳng lại nỗi sợ hãi về sự lựa chọn của con người. Giống như những nhân vật của Kawaguchi phải chấp nhận thực tại bất biến khi tách cà phê nguội đi, thì nhân vật của Borges lại phải học cách chấp nhận sự hiện diện của mình ở mọi phiên bản. Nó tự hỏi: Trên trang giấy nhàu của cuộc đời nó, có bao nhiêu lối đi đã rẽ đôi mà nó đã bỏ lỡ? Và ở một "vùng lạ" nào đó của vũ trụ, liệu nó có đang là một người thầy từ tốn hơn, một gã công bộc chính trực hơn?

Funes Kẻ Nhớ Dai: Bi Kịch Của Một con người có Ký Ức Quá Tải

Nếu trong tập hai của Kawaguchi, ông Fusagi đau đớn vì sự lãng quên của căn bệnh Alzheimer, thì trong truyện ngắn "Funes kẻ nhớ dai", Borges dắt ta đến một cực đoan đối lập: một gã Sapiens không thể lãng quên bất cứ điều gì. Sau một tai nạn, Ireneo Funes có khả năng ghi nhớ từng hình dáng của những đám mây từng trôi qua ba trăm năm trước, từng thớ thịt trên khuôn mặt của một người lạ lướt qua trong một giây.

Nhưng đó không phải là một món quà; đó là sự tiêu trừ nhân tính thầm lặng nhất. Funes bị chôn vùi dưới rác thải của chính ký ức mình. Anh ta không thể tư duy, bởi vì "tư duy là quên đi những khác biệt, là khái quát hóa, là trừu tượng hóa."

"Tôi nghi ngờ liệu anh ta có khả năng tư duy hay không. Trong thế giới quá tải của Funes, không có gì ngoài những chi tiết, những chi tiết gần như trực diện."

Borges soi tỏ một thực tế cay đắng trong "Hình tròn tàn phế" (The Circular Ruins), nơi một pháp sư dành cả đời ở một ngôi đền hoang phế để "mơ" ra một con người. Ông mơ từng thớ thịt, từng nhịp tim, từng lỗ chân lông của đứa con tinh thần, rồi đưa nó vào thế giới thực. Nhưng cuối cùng, khi ngôi đền bị thiêu rụi bởi lửa, ông bước vào ngọn lửa mà không hề bốc cháy. Khoảnh khắc đó, ông vỡ òa nhận ra: chính ông cũng chỉ là một giấc mơ của một kẻ khác.

"Với sự nhẹ nhõm, với sự sỉ nhục, với sự khiếp sợ, ông hiểu rằng ông cũng là một ảo ảnh, rằng một kẻ khác đang mơ về ông."

Phú Quốc của những ngày tháng Năm này, khi cơn gió Tây Nam (gió gió mùa tràn về mang theo những cơn mưa đầu mùa đổ xuống đảo ngọc) bắt đầu thổi, sóng vỗ mạnh vào bờ như muốn đánh tan hồn người bay đi vào cõi hư ảo. 

Thứ gì ở lại thì ở lại. Thường. Như trong mê cung vô tận của Borges hay giữa những công trường ngổn ngang của Phú Quốc, thứ duy nhất có thể định vị một gã Sapiens vốn dĩ phải bàn mãi một căn nguyên.

***



Phú Quốc, upon it's (the character's) return, greets it with crisscrossing wounds on the flesh of the earth. The ground is cut horizontally and vertically by massive construction sites, specialized vehicles plowing through every pathway, transforming a once desolate land into concrete blocks waiting to manifest. Here, nearly two decades ago, wandering souls like it used to throw themselves onto an unfamiliar bed in a hotel far from home, just to savor the fresh atmosphere of the sea and sky, in a "Life for Rent" state of mind accompanied by the vocals of Dido. Freedom. Seclusion. An unfamiliarity filled with eager introspection.

Following the rushed, spontaneous, and unmapped wave of investment by the Sapiens species, the island is now being turned upside down once more to prepare for a major international summit. The green patches thin out, giving way to the intricate lines of a labyrinth. This is also the exact moment it concludes its stroll alongside Ficciones (Fictions) by Jorge Luis Borges. The master plan of the island and the world of Borges overlap with an uncanny resemblance: both are constructed from finite pieces yet possess the capacity to generate infinite combinations of chaos.

But while Lego blocks bring brilliance, and grown-up children begin assembling them on real soil, that is the moment it has its final conversation with Borges, after he has thrown it into a state of utter bewilderment. He is no ordinary storyteller; he is an architect of the soul, a figure of authority in the kingdom of thought. As a commentator, it discerns in Borges a ruthless empathy—he does not soothe human suffering with sweet words; he embraces it with the infinity of time and space.

When the Universe Is a Library The masterpiece Ficciones (comprising two parts: The Garden of Forking Paths and Artificios) focuses on supreme philosophical symbols: the labyrinth, the library, the mirror, and infinite books.

In the classic short story "The Library of Babel," Borges conjures a universe in the shape of a colossal hexagonal library, containing every possible book that can be written from the combination of twenty-five characters. It is a "trusted account" of human knowledge, yet also a suffocating iron cage. The librarians spend their entire lives searching for the total book—the one that explains the whole universe—only to find madness and moral harassment from the endless corridors.

"The Library is unlimited and cyclical. If an eternal traveler were to cross it in any direction, he would look back after centuries to confirm that the same volumes were repeated in the same disorder (which, when repeated, would become an order: the Absolute Order)."

This touch sends a chill down its spine. Is our life as a public servant or a traveler not just a futile search within a miniature Library of Babel? We are preoccupied with seeking the passcodes of success and empty official titles, only to realize we are merely repeating paths that have already been molded before, inside a labyrinth as tangled as the massive construction sites out there.

"Ts'ui Pên" Coming to "The Garden of Forking Paths," Borges introduces a non-linear temporal structure. The character Ts'ui Pên dedicated his entire life to two tasks: writing a vast novel and constructing an infinite labyrinth. Ultimately, it is revealed that the novel and the labyrinth are one and the same. Within Ts'ui Pên’s labyrinth of time, all outcomes occur simultaneously. In one timeline, you and I are enemies; in another, we are soulmates.

"In contrast to those of easily imaginable fiction, whenever a man is faced with alternatives, he chooses one and eliminates the others; in the fiction of Ts'ui Pên, he chooses—simultaneously—all of them. He creates, in this way, diverse futures, diverse times which themselves also proliferate and fork."

This is a cosmic bond. This branching mindset of Borges became the great wellspring of inspiration for many modern masters of art. We see the shadow of his temporal labyrinth in the complex cinematic structures of Christopher Nolan (with Inception and Interstellar), in the surreal writings of Haruki Murakami, or the haunting films of David Lynch.

Borges flattens the human fear of choice. Much like Kawaguchi’s characters must accept the immutable present once the coffee grows cold, Borges’ characters must learn to accept their presence in every version. It asks itself: On the crumpled pages of its own life, how many forking paths has it missed? And in some "strange zone" of the universe, is it perhaps a more deliberate teacher, a more righteous public servant?

Funes the Memorious: The Tragedy of a Man with an Overloaded Memory If in Kawaguchi’s second volume, Mr. Fusagi suffers from the forgetfulness of Alzheimer’s disease, then in the short story "Funes the Memorious," Borges leads us to the opposite extreme: a Sapiens who cannot forget anything. Following an accident, Ireneo Funes is capable of remembering the exact shape of the clouds that drifted by three hundred years ago, every line on the face of a stranger who brushed past for a single second.

Yet, this is no gift; it is the most silent diminishment of humanity. Funes is buried beneath the garbage of his own memory. He cannot think, because "to think is to forget differences, to generalize, to abstract."

"I suspect that he was not very capable of thought. In the overly replete world of Funes, there were nothing but details, almost immediate details."

Borges illuminates a bitter reality in "The Circular Ruins," where a wizard spends his entire life in a ruined temple to "dream" a man into existence. He dreams every fiber of flesh, every heartbeat, every pore of his spiritual child, and then brings him into the real world. But in the end, when the temple is consumed by fire, he walks into the flames without burning. In that instant, it dawns on him with absolute shock: he too is merely someone else’s dream.

"With relief, with humiliation, with terror, he understood that he too was a mere appearance, that another man was dreaming him."

In these days of May in Phú Quốc, as the Southwest wind (the monsoon sweeping in, bringing the first rains of the season down upon the pearl island) begins to blow, the waves crash violently against the shore as if trying to scatter the human soul into the illusory realm.

Whatever stays, stays. As usual. Whether within the infinite labyrinth of Borges or amidst the messy construction sites of Phú Quốc, the only thing that can locate a Sapiens is something whose root cause must be discussed forever.


Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

[Sách] Tuần trăng mật - Patrick Modiano

 


"Sự biến mất đôi khi không phải là một sự kết thúc, mà là cách duy nhất để ta tìm thấy sự thật hiện diện ngay trong những gì đã mất."

Nó bước chân lên đường phố Paris, lắng nghe tâm sự của Patrick Modiano—người được mệnh danh là "nhà khảo cổ ký ức", như cách giúp ông đạt được giải Nobel (thứ vốn dĩ chẳng phải là đích đến cuối cùng của giới nghiên cứu và sáng tạo).

Có những kẻ lại khao khát được biến mất. Nếu Sang Young Park dùng ánh đèn neon Seoul để soi rọi sự cô độc, thì Modiano lại dùng làn sương mù của Paris để che giấu những linh hồn đang đi tìm một bến đỗ không tên.

Một cuộc đời bị ám ảnh bởi sự chiếm đóng của Pháp. Patrick Modiano khắc ghi những cái tên bị gạch xóa trong lịch sử, và về những người đã ra đi không để lại dấu vết. Văn phong của ông được gọi là "petite musique" (khúc nhạc nhỏ)—vừa mơ hồ, vừa dìu dặt, nhưng lại có sức công phá mãnh liệt vào tâm trí kẻ lữ hành. Mỉa mai. Ngôn ngữ của ông lại phảng phất của nét đẹp của ngôn từ Pháp. 

Ông dẫn nó đi qua những địa chỉ cũ, những khách sạn rẻ tiền, những tờ báo vàng ố, rồi thả nó ở đó tự mình cảm nhận sự khắc nghiệt của thời gian. 

"Chúng ta đều là những linh hồn lưu vong đang đi tìm một bến đỗ không có trên bản đồ, trong những tuần trăng mật kéo dài suốt cả một kiếp người cô độc."

Nó nghe lời tâm sự của Jean B, một người đàn ông quyết định rời bỏ cuộc đời mình. Giữa lúc đáng lẽ phải bay sang Brazil để làm phim, anh lại chọn cách thu mình vào một khách sạn ở ngoại ô Paris dưới một cái tên giả. 

Jean B kể việc mình bị thu hút. Anh bị ám ảnh bởi câu chuyện của Ingrid và Rigaud—một cặp đôi mà anh đã gặp hai mươi năm trước, những người cũng từng trốn chạy trong một "tuần trăng mật" giả tạo vào năm 1942 để thoát khỏi vòng vây của phát xít. Jean B. không chỉ đi tìm Ingrid; anh đang đi tìm lại "tuần trăng mật" của chính mình, tìm lại cái thuở thanh xuân mà anh đã "phó mặc" cho dòng chảy vô tình của sự nghiệp và danh vọng.

"Có những lúc tôi có cảm giác như mình đang bước đi trong một thị trấn bị bỏ hoang, nơi mà mỗi góc phố đều lưu giữ hơi thở của một người đã biến mất."

Ingrid và Rigaud hiện lên như những "con chim nhại" (như trong sách của Harper Lee) hót giữa bóng tối của chiến tranh. 

Ingrid cũng là một đứa trẻ bị lịch sử bỏ quên, một linh hồn không có giấy tờ, lẩn khuất trong những hành lang khách sạn. Sự thấu cảm mà Jean B. dành cho Ingrid chính là sợi dây duy nhất kết nối anh với nhân tính. Anh dành cả những ngày "ẩn dật" của mình để chắp vá lại cuộc đời của một người đàn bà đã tự sát, để chắc chắn rằng cô không bị "bỏ quên" thêm một lần nữa trong hố đen của lịch sử.

"Ký ức là một thứ ánh sáng yếu ớt, chỉ đủ để ta thấy được những vết nứt, nhưng chính ở đó, ta thấy được vẻ đẹp của sự tồn tại."

Tuần trăng mật – Không chỉ là một câu chuyện tình buồn, đó là bản hướng dẫn để ta tìm thấy "thiên thần" ngay trong những làn sương mờ của quá khứ. 

***


"Disappearance is sometimes not an end, but the only way for us to find the truth present within what has been lost."

Saigon at the year's end, mackerel clouds still wander overhead. It takes a sip of bitter coffee; the "Winter" of Vivaldi lingers in its ears. Outside, the stream of vehicles "roars by with a dizzying rush," a reminder of a frantic reality where humans always fear being forgotten. Yet, there are those who long to disappear.

It walks the streets of Paris, listening to the confessions of Patrick Modiano—the man dubbed the "archaeologist of memory," a title that helped him secure the Nobel Prize (an accolade that, in itself, was never the ultimate destination for true researchers and creators).

If Sang Young Park uses the neon lights of Seoul to illuminate loneliness, Modiano uses the fog of Paris to hide souls searching for a nameless harbor. His is a life haunted by the French Occupation. Modiano meticulously records the names erased from history and the people who departed without leaving a trace. His writing style is known as "petite musique" (a little music)—vague, rhythmic, yet possessing a fierce impact on the traveler's mind. Ironically, his language still carries the profound beauty of French prose. He leads it through old addresses, cheap hotels, and yellowed newspapers, dropping it there to feel the cruelty of time for itself.

"We are all exiled souls searching for a harbor that is not on the map, in honeymoons that last a whole lifetime of loneliness."

It listens to the confessions of Jean B., a man who decides to abandon his own life. While he was supposed to fly to Brazil to make a film, he chooses instead to withdraw into a hotel in the suburbs of Paris under a pseudonym. Jean B. speaks of his attraction to a certain mystery. He is haunted by the story of Ingrid and Rigaud—a couple he met twenty years prior, who also fled in a fake "honeymoon" in 1942 to escape the Nazi dragnet. Jean B. is not just looking for Ingrid; he is looking for his own "honeymoon," rediscovering the youth he had "abandoned" to the indifferent current of career and fame.

"There are times when I have the feeling of walking in a deserted town, where every street corner preserves the breath of someone who has disappeared."

Ingrid and Rigaud appear like "mockingbirds" (as in Harper Lee's writing) singing amidst the darkness of war. Ingrid is also a child forgotten by history, a soul without papers, lurking in hotel corridors. The empathy that Jean B. feels for Ingrid is the only thread connecting him to humanity. It observes how he spends his secluded days piecing together the life of a woman who committed suicide, to ensure she is not "forgotten" once more in the black hole of history.

"Memory is a faint light, only enough for us to see the cracks, but it is precisely there that we find the beauty of existence."

Honeymoon – Not just a sad love story, but a guide to finding the "angel" within the misty fogs of the past.

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

[Book] Tình yêu ở thành phố lớn - Sang Young Park


"Seoul là một thành phố rộng lớn, nơi bạn có thể gặp hàng nghìn người mỗi ngày nhưng vẫn thấy mình như một linh hồn lưu vong đang đi tìm một bến đỗ không có trên bản đồ."

Có con đường chẳng ai đi lại lần hai. Tìm hiểu và tìm lại một tuổi trẻ cho người đọc qua từng trang sách. Nó gõ cửa bước vào căn phòng thuê chật hẹp của Jaehee và Young, ngồi xuống và lắng nghe đôi bạn trẻ nói về cuộc sống thanh xuân hiện tại của mình. Một thanh xuân cô đơn, điên rồ và đầy rối lòng trong sự nghi ngờ chính cả bản thân. Tội.

Nếu Chung Bora dùng kinh dị để lột tả sự nghẹt thở, thì Sang Young Park lại dùng sự thành thật đến đau lòng để bốc trần một "Tình yêu ở thành phố lớn" – nơi những linh hồn trẻ tuổi đang cố gắng tìm thấy sự hiện diện của mình giữa lòng Seoul rực rỡ.

Sang Young Park không chỉ là một nhà văn; anh là tiếng nói đại diện cho một thế hệ đang sống trong sự giằng xé giữa những chuẩn mực Nho giáo khắt khe và khát vọng tự do cá nhân. Sinh năm 1988, Park mang vào văn chương cái nhìn sắc sảo về đời sống đô thị. Tác phẩm của anh, đặc biệt là cuốn sách này (từng lọt danh sách rút gọn giải International Booker), là bản cáo trạng về sự cô độc nhưng cũng là lời tự tình dành trái tim mình.

Anh không chọn cách lãng mạn hóa tình yêu. 

Cuốn sách là chuỗi những câu chuyện liên kết xoay quanh nhân vật Young,  lãng du trong những quán bar ở khu Itaewon. Nhưng điểm chạm lớn nhất khiến nó bùi ngùi chính là tình bạn giữa Young và Jaehee. Họ giống như hai mảnh vỡ của nghệ thuật Kintsugi, nương tựa vào nhau để hàn gắn những vết nứt mà xã hội đã gây ra.

Jaehee và Young cùng chia sẻ một căn hộ chật hẹp, cùng uống rượu, cùng yêu, và cùng thất bại. Họ hiện diện trong cuộc đời nhau không phải bằng những lời hứa vĩ đại, mà bằng sự thấu cảm lặng lẽ nhất. Khi cô gái Jaehee rời đi để kết hôn, Young rơi vào một sự nghẹt thở mới: sự cô độc của một người bị ở lại trong "thành phố lớn" của những sự tình cờ.

"Chúng ta dành cả thanh xuân để chạy trốn khỏi sự cô độc, để rồi nhận ra rằng cô độc chính là căn tính thật nhất của mỗi kẻ lữ hành dưới ánh đèn huỳnh quang của thành phố này."

Young rơi vào giữa hai con đường chẳng biết đích đến. Một bên là thế giới rực rỡ của những cuộc tình chóng vánh và ánh đèn disco; một bên là thực tại khắc nghiệt khi anh phải chăm sóc người mẹ bị ung thư.

Dù mẹ anh chối bỏ căn tính của con trai, Young vẫn chọn cách hiện diện bên giường bệnh. Đó là nỗ lực đạo đức lớn nhất – sự tận hiến âm thầm mà M. Scott Peck từng nhắc đến. Young không lười biếng tâm linh; anh rút cạn năng lượng của mình để làm một "con chim nhại" hót giữa bóng tối của căn bệnh và sự kỳ thị. Anh chấp nhận sự dơ dáy của những túi dịch, sự mệt mỏi của những ca trực đêm để giữ lấy một chút hơi ấm tình thân.

"Hãy cứ đi, dù là đi vào bóng tối hay đi về phía ánh sáng neon rực rỡ. Miễn là bạn đừng để mình bị bỏ quên trong sự vô cảm của chính mình."

Tình yêu ở thành phố lớn – Không chỉ là một cuốn tiểu thuyết Queer, đó là tấm gương soi chiếu sự hiện diện của mỗi chúng ta trong kỷ nguyên của những "chiếc hộp" bê tông vô hồn. Với nó, đó là một sự thanh tẩy cần thiết để biết trân trọng hơn những ân tình dọc đường di cư.

***


"Seoul is a vast city where you can meet thousands of people every day but still find yourself like an exiled soul searching for a harbor that isn't on the map."

There is a road that no one travels twice. Through every page, the reader is invited to find and reclaim a piece of youth. He knocks and enters the cramped rented room of Jaehee and Young, sitting down to listen to the two young friends speak of their current youthful lives—a youth that is lonely, crazy, and profoundly troubled by self-doubt. Pity.

If Chung Bora uses horror to depict suffocation, Sang Young Park uses heartbreaking honesty to strip bare a "Love in the Big City"—a place where young souls strive to find their presence amidst the brilliant heart of Seoul.

Sang Young Park is not just a writer; he is the voice representing a generation caught in the tension between strict Confucian norms and the desire for individual freedom. Born in 1988, Park brings to literature a sharp perspective on urban life. His work, especially this book (which was shortlisted for the International Booker Prize), is an indictment of loneliness but also a self-confession for his own heart. He does not choose to romanticize love; instead, he presents it in its rawest form.

The book is a series of interconnected stories revolving around the character Young, wandering through bars in the Itaewon district. But the most profound touchpoint that makes him sentimental is the friendship between Young and Jaehee. They are like two fragments of Kintsugi art, leaning on each other to mend the cracks that society has inflicted upon them.

Jaehee and Young share a cramped apartment, drink together, love together, and fail together. They are present in each other's lives not through grand promises, but through the quietest empathy. When Jaehee leaves to get married, Young falls into a new kind of suffocation: the loneliness of one left behind in the "big city" of coincidences.

"We spend our whole youth running away from loneliness, only to realize that loneliness is the truest identity of every traveler under the fluorescent lights of this city."

Young falls between two paths with no known destination. On one side is the brilliant world of fleeting affairs and disco lights; on the other is the harsh reality of caring for his mother who is battling cancer.

Even though his mother rejects her son's identity, Young still chooses to be present by her hospital bed. That is the greatest moral effort—the silent dedication that M. Scott Peck once mentioned. Young is not "spiritually lazy"; he drains his energy to be a "mockingbird" singing amidst the darkness of illness and stigma. He accepts the filth of fluid bags and the exhaustion of night shifts to hold onto a small bit of familial warmth.

"Keep going, whether into the darkness or toward the brilliant neon lights. As long as you don't let yourself be forgotten in your own indifference."

Love in the Big City is not just a Queer novel; it is a mirror reflecting the presence of each of us in the era of soulless concrete "boxes." For him, it is a necessary cleansing to better appreciate the affections found along the migration route.

It reminds us to stay awake and present. Whether we are in the bustling year-end of Saigon or the cold neon of Seoul, do not let "abandonment" become your fate. Keep your Shoshin (Beginner’s Mind) and cherish the "Kintsugi" of your own life. For him, that is enough.

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2026

[Book] Thời gian biểu ca đêm - Chung Bora

 

"Thế giới này không vận hành bằng lòng tốt, nó vận hành bằng những món nợ mà người ta luôn tìm cách lẩn tránh cho đến khi chúng gõ cửa vào lúc nửa đêm."

Để hiểu "Thời gian biểu ca đêm", ta không thể chỉ đọc cốt truyện; ta phải hiểu về người đàn bà đã sử dụng quy luật nhân quả và những yếu tố tâm linh, kinh dị như một thứ "mực đen" để vẽ nên những ẩn dụ tàn nhẫn nhất về xã hội hiện đại.

"Người ta thường nghĩ rằng nếu mình không nhìn thấy nỗi đau, thì nỗi đau đó không tồn tại. Nhưng trong vũ trụ của sự vay trả, mọi sự thờ ơ đều được tính lãi theo thời gian."

Chất liệu của cuộc sống là lợi thế của Chung Bora; khi tận dụng chất liệu từ công việc là nhà hoạt động xã hội am tường về văn học Nga và Đông Âu. Sự am tường này đã giúp bà nhào nặn nên một thế giới nơi quy luật nhân quả không hiện lên qua những lời răn dạy đạo đức giáo điều, mà qua những tình tiết kinh dị dồn dập.

Không chọn cách lãng mạn hóa nổi đau, thay vào đó phơi bày hết bằng ẩn dụ. Trong thế giới của Chung Bora, cái ác hay sự bất hạnh không tự nhiên sinh ra. Chúng là "quả" của những "nhân" dối trá, vô cảm và bóc lột. Bà sử dụng thể loại Speculative Fiction (Văn chương suy tưởng) để đặt ra một câu hỏi nhức nhối: Nếu chúng ta phó mặc nhân tính cho guồng máy, thì bóng ma nào sẽ thức tỉnh để đòi lại món nợ đó? 

"Đôi khi, những con quái vật đáng sợ nhất lại là những kẻ mang trong mình trái tim khao khát được làm người nhất, giữa một đám đông đã từ bỏ quyền làm người từ lâu."

Tên tác phẩm gợi nhắc về một sự trật tự, kỷ luật (Thời gian biểu), nhưng đối tượng lại là Ca đêm—khoảng thời gian của những gì bị che giấu và những yếu tố tâm linh huyền bí.

Nếu trong sách của Shelley Tanaka, chiếc hộp là căn hộ chật hẹp, thì ở đây, chiếc hộp là thời gian ca đêm. Những người làm ca đêm là những kẻ bị gạt ra lề, những "con tốt thí" hiện diện trong sự vô hình. Chung Bora lột tả họ qua những ẩn dụ về sự biến dạng: con người dần biến thành máy móc, hoặc bị nuốt chửng bởi những bóng ma do chính hệ thống tạo ra. Đây chính là quy luật nhân quả: khi một xã hội vận hành bằng sự bóc lột thầm lặng, nó sẽ sản sinh ra những "quái vật" tâm linh từ chính sự nghẹt thở đó.

Những nhân vật trong ca đêm phải học cách nhìn thế giới lại từ đầu, nơi những quy luật ban ngày không còn giá trị, chỉ còn lại sự đối diện trần trụi với bản ngã và những "nghiệp báo" từ công việc.

Điểm sâu sắc nhất là cách Chung Bora tìm thấy "linh hồn" trong những thực thể quái dị. Các yếu tố kinh dị không dùng để hù dọa rẻ tiền, mà là ẩn dụ cho những nỗi đau bị kìm nén. 

Những nhân vật của bà đều là những mảnh vỡ nhân quả. 

Kết nối với Hãng luật hay Tính bản ác, cuốn sách của Chung Bora là bản cáo trạng về sự dối trá của hệ thống:

  • Cái ác vô hình: Cái ác thường là một quy trình, một thời gian biểu vô hồn. Quy luật nhân quả vận hành khi con người chấp nhận làm một mắt xích trong quy trình đó mà không đặt câu hỏi.

  • Sự lười biếng đạo đức: Xã hội ban ngày "phó mặc" mọi trách nhiệm cho những người làm ca đêm. Sự "vô tình" này chính là cội rễ của những hiện tượng tâm linh đáng sợ, khi những linh hồn bị bỏ quên quay lại tìm sự hiện diện của mình.

Hành trình của các nhân vật chính là cuộc đấu tranh để giữ lấy "mùi người" giữa sự vây hãm của những ẩn dụ kinh dị công nghiệp. 

Thời gian biểu ca đêm – Một tấm gương soi chiếu sự cô độc và quy luật nhân quả nghiệt ngã trong kỷ nguyên máy móc. Với nó, đó là sự thanh tẩy cần thiết để tỉnh táo trước những dối trá nhân danh sự trật tự.

***


"This world does not operate on kindness; it operates on debts that people always seek to evade until they knock on the door at midnight."

To understand "Your Night Shift," we cannot simply read the plot; we must understand the woman who used the law of cause and effect and spiritual, horror elements as a kind of "black ink" to paint the most ruthless metaphors of modern society.

1. Author Chung Bora: The Law of Cause and Effect and the Ghosts of Reality

Chung Bora is not just a writer; she is a social activist well-versed in Russian and Eastern European literature. This mastery helped her mold a world where the law of cause and effect appears not through dogmatic moral teachings, but through frantic horror episodes.

In Chung Bora’s world, evil or misfortune is not born naturally. They are the "fruits" of the "seeds" of lies, apathy, and exploitation. She uses the genre of Speculative Fiction to pose a haunting question: If we abandon our humanity to the machine, what ghost will wake up to reclaim that debt? She chooses not to romanticize pain; instead, she exposes it all through metaphors, forcing us to look directly at the law of cause and effect that we are often too lazy to acknowledge.

"People often think that if they don't see pain, then that pain does not exist. But in the universe of borrowing and repaying, all indifference is charged with interest over time."

The title of the work evokes a sense of order and discipline (Time Schedule), but the subject is the Night Shift—the time of the hidden and the mystical spiritual elements.

If in Shelley Tanaka's book, the box is a cramped apartment, here, the box is the night shift time. Night shift workers are the marginalized, the "pawns" present in invisibility. Chung Bora portrays them through metaphors of distortion: humans gradually turning into machines, or being swallowed by ghosts created by the system itself. This is the law of cause and effect: when a society operates by silent exploitation, it will produce spiritual "monsters" from that very suffocation.

The characters in the night shift must learn to look at the world anew (Shoshin), where daylight rules no longer hold value, leaving only the raw confrontation with the ego and the "karmic consequences" of work.

The deepest point is how Chung Bora finds the "soul" in grotesque entities. Horror elements are not used for cheap scares but are metaphors for suppressed pain.

"Sometimes, the most terrifying monsters are those who carry in them a heart that yearns for humanity the most, amidst a crowd that has long surrendered the right to be human."

Her characters are all karmic fragments. She uses horror as the "liquid gold" of Kintsugi to mend them, highlighting the cracks of existence. "Trương Tử" (the one who stands in the middle) will see that horror is the most authentic way to depict a reality that is already inherently terrifying.

Connecting with The Firm or People of the Lie, Chung Bora's book is an indictment of the system's deceit:

  • Invisible Evil: Evil is often a process, a soulless time schedule. The law of cause and effect operates when humans accept being a link in that process without asking questions.

  • Moral Laziness: Daylight society "abandons" all responsibility to those on the night shift. This "indifference" is the root of terrifying spiritual phenomena, when forgotten souls return to reclaim their presence.

The journey of the protagonists is the struggle to preserve the "human scent" amidst the siege of industrial horror metaphors. Chung Bora reminds us: To avoid being "forgotten," we must dare to look at the consequences we have created.

Your Night Shift – A mirror reflecting the loneliness and the harsh law of cause and effect in the machine age. For him, it is a necessary purification to stay awake before lies in the name of order. It is enough.

Thứ Hai, 19 tháng 1, 2026

[Sách] Sông Đà - Philippe Le Friller


"Sông Đà không chỉ là một dòng nước chảy qua núi rừng; nó là dòng máu nóng chảy trong huyết quản của Tây Bắc, mang theo cả ký ức của cha ông và hơi thở của tương lai." 

Sông Đà không chỉ đơn thuần là một cuốn sách ảnh; nó là một bài thơ bằng ánh sáng, một cuốn nhật ký hành trình xuyên thời gian và không gian của nhiếp ảnh gia người Pháp Philippe Le Friller. Qua hơn một thập kỷ gắn bó, Philippe đã khắc họa một dòng sông Đà không chỉ với tư cách là một thực thể địa lý, mà còn là một thực thể có linh hồn, có tính cách và có cả định mệnh gắn liền với con người Tây Bắc.

Nếu như trong văn học, Nguyễn Tuân đã bất tử hóa sông Đà bằng con chữ với sự hung bạo và trữ tình, thì Philippe Le Friller lại làm điều đó bằng ống kính. Cuốn sách dẫn dắt người xem đi từ những khúc sông thượng nguồn gập ghềnh, đầy ghềnh thác hiểm trở đến những công trường vĩ đại của các đập thủy điện.

Tác giả không chỉ chụp cảnh; ông chụp sự thay đổi. Sông Đà trong mắt Philippe là sự giằng co giữa vẻ đẹp thiên nhiên kỳ vĩ và nhịp sống công nghiệp hóa. Những bức ảnh về đại công trường thủy điện Sơn La, Hòa Bình hiện lên sừng sững, đối lập với sự tĩnh lặng của những bản làng chìm trong sương sớm.

"Tôi đi tìm sông Đà không phải để chinh phục nó, mà để học cách lắng nghe nó kể về những số phận người đã gắn bó với thác ghềnh suốt hàng nghìn năm qua."

Điểm chạm lớn nhất của cuốn sách chính là con người. Philippe dành một thời lượng lớn để ghi lại chân dung của những người dân tộc Thái, Mông, Dao... sống dọc hai bên bờ.

Chúng ta thấy những nụ cười trong veo của trẻ nhỏ, ánh mắt sâu thẳm của các cụ già và sự nhọc nhằn nhưng kiêu hãnh của những người lái đò. Những bức ảnh chân dung đen trắng của ông có một sức mạnh kỳ lạ, nó lột tả được vẻ đẹp mộc mạc, bền bỉ của con người trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên.

"Giữa những khối bê tông khổng lồ của đập thủy điện và những cánh rừng già, tôi nhận ra một điều: Con người có thể thay đổi dòng chảy của một con sông, nhưng không bao giờ có thể dập tắt được cái chất hoang dại, tự do của nó."

Đặt cuốn sách xuống, lòng người xem không khỏi bùi ngùi. Trước đây, nhắc đến Sông Đà, tâm tưởng ta thường chỉ đóng khung trong hình ảnh "Người lái đò" của Nguyễn Tuân – một cuộc chiến giữa cái tôi cá nhân và thiên nhiên dữ dội. Nhưng qua ống kính của Philippe, ta chợt nhận ra một dòng chảy lịch sử rộng lớn hơn thế.

Sự xuất hiện của những dòng họ như họ Đèo không chỉ là câu chuyện của một gia tộc, mà là một minh chứng lịch sử cho sự hình thành và ổn định của vùng đất này. Nó gợi nhắc về hành trình của Homo sapiens từ thuở di cư xa xưa, chọn những dòng sông làm mạch sống để định cư và xây dựng nên những nền văn minh lúa nước rực rỡ.

Sông Đà đã chứng kiến tất cả: từ thuở hồng hoang con người nương tựa vào nước để sinh tồn, cho đến khi dòng sông trở thành ranh giới cho những cuộc tranh giành, chém giết và cả những thăng trầm của quyền lực. Dòng nước ấy vừa là mẹ hiền nuôi dưỡng, vừa là chứng nhân lặng lẽ cho những phần tối sáng trong lịch sử nhân loại.

Phong cách của Philippe Le Friller trong "Sông Đà" là sự kết hợp giữa nhiếp ảnh tư liệu và nhiếp ảnh nghệ thuật. Ông sử dụng ánh sáng tự nhiên một cách tài tình để tạo ra độ tương phản, làm nổi bật sự gai góc của đá rừng và sự mềm mại của mặt nước. Mỗi khuôn hình đều được chăm chút kỹ lưỡng về bố cục, mang đến cảm giác vừa chân thực, vừa như một giấc mơ về một vùng đất huyền thoại.

"Ánh mắt của người già vùng cao nhìn về phía dòng sông giống như nhìn vào một người bạn cũ – có sự thấu hiểu, có nỗi buồn, nhưng trên hết là một sự chấp nhận thanh thản trước dòng chảy của thời gian."

Sông Đà - Philippe Le Friller là một cuốn sách dành cho những ai yêu nhiếp ảnh, yêu Tây Bắc và muốn tìm hiểu về một chương quan trọng trong sự phát triển của Việt Nam. 

Cuốn sách là một nốt lặng cần thiết để chúng ta dừng lại và chiêm ngưỡng vẻ đẹp của một vùng đất đang thay đổi từng ngày, đồng thời suy ngẫm về vị thế của con người trong dòng chảy bất tận của thời gian.

***


"The Da River is not just a flow of water through mountains and forests; it is the hot blood coursing through the veins of the Northwest, carrying the memories of our ancestors and the breath of the future."

Sông Đà (The Da River) is not merely a photo book; it is a poem composed of light, a travel diary through time and space by the French photographer Philippe Le Friller. Over a decade of connection, Philippe has portrayed the Da River not just as a geographical entity, but as a soulful being with a distinct personality and a destiny intertwined with the people of the Northwest.

If in literature, Nguyen Tuan immortalized the Da River through words of ferocity and lyricism, Philippe Le Friller achieves this through his lens. The book leads the viewer from the rugged, rapid-filled upper reaches to the monumental construction sites of hydroelectric dams.

The author does not just photograph scenery; he photographs change. In Philippe’s eyes, the Da River is a tug-of-war between majestic natural beauty and the pulse of industrialization. Photos of the massive Son La and Hoa Binh hydroelectric sites stand towering, in stark contrast to the silence of villages submerged in early morning mist.

"I went searching for the Da River not to conquer it, but to learn how to listen to it tell the stories of the human fates that have been bound to these rapids for thousands of years."

The strongest point of connection in this book is the people. Philippe dedicates a vast amount of space to capturing the portraits of the Thai, H’Mong, and Dao ethnic groups living along the banks. We see the crystal-clear smiles of children, the profound gaze of the elderly, and the arduous yet proud spirit of the boatmen. His black-and-white portraits possess a haunting power, stripping away the superfluous to reveal the rustic, resilient beauty of humanity in the face of nature’s harshness.

"Between the giant concrete blocks of the dams and the ancient forests, I realized one thing: Humans can change the course of a river, but they can never extinguish its wild, free essence."

Setting the book down, the viewer is left with a sense of poignant reflection. Previously, our perception of the Da River was often framed by Nguyen Tuan’s "The Boatman"—a battle between the individual ego and fierce nature. But through Philippe’s lens, we recognize a much vaster historical current.

The presence of lineages like the Deo family is not just a clan’s history, but historical evidence of the formation and stability of this land. It recalls the journey of Homo sapiens from ancient migrations, choosing rivers as their lifeblood to settle and build brilliant wet-rice civilizations.

The Da River has witnessed it all: from the dawn of humanity when we leaned on water for survival, to when the river became a boundary for conflict, power struggles, and the ebbs and flows of authority. That water is both a nurturing mother and a silent witness to the light and dark shades of human history.

Philippe Le Friller’s style in "Sông Đà" is a blend of documentary and fine art photography. He masterfully uses natural light to create contrast, highlighting the jaggedness of the forest rocks and the softness of the water's surface. Each frame is meticulously composed, offering a feeling that is both grounded in reality and akin to a dream of a legendary land.

"The gaze of the elderly in the highlands toward the river is like looking at an old friend—there is understanding, there is sadness, but above all, a serene acceptance of the passage of time."

Sông Đà - Philippe Le Friller is a book for those who love photography, love the Northwest, and wish to understand a crucial chapter in Vietnam’s development. It is a necessary pause, a moment of silence for us to stop and admire the beauty of a land changing day by day, while contemplating the position of humanity within the endless flow of time.

Thứ Năm, 8 tháng 1, 2026

[Sách] Gia đình ong - Anja Mugerli

"Tự do không phải là không có tổ, mà là biết mình có thể quay về hoặc bay đi bất cứ lúc nào mình muốn."
Nắng nhạt dần, tầng trời mây tạo hình như vảy cá, Nó trở lại vùng đất của vương quốc Nam Tư, để lắng nghe Anja Mugerli kể về một "Gia đình ong"  ở một sớm đầu năm. Thì thầm như tự sự, Anja Mugerli kể không ồn ào; nó như một dòng nước ngầm chảy qua những khe nứt của tâm hồn, nơi chứa đựng những phong tục nhuốm màu tâm linh của vùng biên thùy Slovenia.

Ấn tượng. Nghi lễ "báo tin cho bầy ong". Trong thế giới của Mugerli, khi một người chủ gia đình nằm xuống, người ta phải ra vườn, gõ vào tổ ong và thì thầm báo tin buồn. Nếu không, bầy ong – những linh hồn bảo hộ – cũng sẽ bỏ đi hoặc lụi tàn.

 

"Người ta nói rằng ong là sinh vật duy nhất biết đến sự thánh thiện của cái chết. Chúng không chỉ tạo ra mật, chúng còn lưu giữ những bí mật của chúng ta."

Nhớ. Đông tàn, sau ngày anh ra đi, dường như cả cây cỏ trong vườn cũng rũ lá. Có một sợi dây tâm linh vô hình nối kết con người với vạn vật. Đọc truyện, nó thấy mình như đứa trẻ đang đứng giữa vườn xưa, lắng nghe tiếng vo ve của ký ức.

Trong tập truyện, có những người đàn bà sống trong sự kìm kẹp của truyền thống, của thiên chức làm mẹ và những kỳ vọng nặng nề. Họ như những con ong thợ cần mẫn nhưng đầy tổn thương.

"Họ sống như thể hơi thở của họ thuộc về người khác, như thể cơ thể họ là một ngôi nhà mà chính họ không có chìa khóa để vào."

Mugerli không chỉ kể chuyện, bà còn dựng lên những biểu tượng về sự chuyển giao. Giữa thực tại trần trụi của những áp lực cơm áo và vẻ đẹp lãng mạn của những phong tục cũ, nhân vật trong truyện luôn phải lựa chọn: Tiếp tục vòng lặp hay bứt phá để tìm lại chính mình?

"Đừng sợ bóng tối của tổ ong. Chính ở nơi tối tăm nhất, mật ngọt mới được hình thành."

"Gia đình ong" không phải là một cuốn sách dễ đọc để giải trí. Nó đòi hỏi người ta phải chậm lại, để cảm nhận cái nhịp điệu dồn dập của những cơn đau và sự chậm rãi của sự chữa lành.

Nó gấp sách lại, chào tạm biệt Anja, tạm biệt những một phần của đế quốc La Mã, tạm biệt một Xã Hội Chủ Nghĩa đã từng, tạm biệt những mặt hồ thinh lặng lọt thỏm giữa những ngọn núi cao, con người sống nhỏ nhoi, thinh lặng và chậm đến yêu thương. 

***



"Freedom is not about being nestless, but about knowing you can return or fly away whenever you desire."

The sunlight was fading, the clouds overhead weaving into patterns like fish scales. It (the character) returned to the lands of the former Kingdom of Yugoslavia to listen to Anja Mugerli tell the story of a "Bee Family" on an early New Year’s morning. Whispering like a soliloquy, Mugerli’s storytelling is never loud; it is like an underground stream flowing through the fissures of the soul, harboring the spiritual customs of the Slovenian borderlands.

Striking. The ritual of "telling the bees." In Mugerli's world, when the head of a household passes away, one must go into the garden, knock on the hive, and whisper the somber news. Otherwise, the bees—the guardian spirits—will depart or perish.

"It is said that bees are the only creatures that know the holiness of death. They do not just create honey; they preserve our secrets."

Memory. As winter waned, following the day he left this world, it seemed even the plants in the garden wilted. There is an invisible spiritual thread connecting humans to all living things. Reading these stories, it felt like a child standing in an old garden, listening to the humming of memory. Within this collection, there are women living under the constraints of tradition, the burden of motherhood, and heavy expectations. They are like diligent yet wounded worker bees.

"They lived as if their breath belonged to someone else, as if their body were a house to which they themselves did not hold the key."

Mugerli does more than tell stories; she constructs symbols of transition. Between the raw reality of life's daily pressures and the romantic beauty of ancient customs, the characters must always choose: to continue the loop or to break free and find themselves.

"Do not fear the darkness of the hive. It is in the darkest places that the sweetest honey is formed."

"The Bee Family" is not an easy book for mere entertainment. It demands that one slows down to feel the frantic rhythm of pain and the slow, deliberate pace of healing.

It closed the book, saying goodbye to Anja, goodbye to a fragment of the Roman Empire, goodbye to a Socialism that once was, and goodbye to the silent lakes nestled between high mountains—where humans live small, quiet lives, slowing down until they reach the threshold of love.


Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2025

[Sách] Khi đàn sếu bay về phương Nam - Lisa Ridzén


  • "Bình yên không phải là điểm đến. Nó nằm ở khoảnh khắc ta chấp nhận tốc độ của đôi cánh mình, giữa một bầu trời rộng lớn." 

Nếu bạn hỏi nó có yêu tuổi già của mình không, hẳn rồi, yêu quá đi chứ! Vì đâu có được sự yêu thương đó, từ những con người đã tiếp xúc qua, họ bắt đầu đi qua ráng chiều đời, cất lên những giai điệu mới của cuộc sống, như ánh hoàng hôn rọi xuống dòng sông lấp lánh như ánh pha lê. Tuổi nào chẳng lạc lối, tuổi già cũng vậy thôi! Lửng lơ ở đa tầng cảm xúc, yêu thương, tiếc nuối trong cô độc, buồn bã với những sự chiêm nghiệm về cuộc sống—những sinh vật phù du dưới đáy nhìn ngắm những thứ bồng bềnh ở bên trên, để rồi tiếp tục với thương yêu, như nhân vật Bo của truyện.

 "Khi đàn sếu bay về phương Nam" không chỉ là một tác phẩm tự sự chữa lành về thiên nhiên, mà là một bản chân dung dịu dàng và chân thực về hành trình đối diện với tuổi già, sự cô đơn và những di sản gia đình chưa được giải quyết. Tác giả Lisa Ridzén sử dụng sự di cư kiên định của loài sếu làm bối cảnh, nhưng nội dung sâu xa là về hành trình nội tâm của nhân vật Bo—một người đàn ông Thụy Điển lớn tuổi đang tìm kiếm "phương Nam" của chính mình.

Cuốn sách nổi bật bởi giọng văn nhẹ nhàng, nhân văn, tập trung vào những thay đổi nhỏ nhặt nhưng đầy ý nghĩa trong cuộc sống đời thường và tâm hồn của Bo.

Bo: Sự Cô Đơn và Di sản của Quá khứ

Câu chuyện xoay quanh ông Bo, người đang đối mặt với những thách thức của tuổi già và sự cô đơn. Cuộc sống của ông được vẽ nên qua những mối quan hệ phức tạp và sâu sắc:

  1. Tình bạn và Sự kết nối: Mối quan hệ độc đáo với người đồng nghiệp Ture là điểm sáng, cho thấy ý nghĩa của sự kết nối con người, đặc biệt ở tuổi xế chiều.

  2. Di sản gia đình: Cuốn sách đào sâu vào mối quan hệ căng thẳng với con trai Hans, một sự căng thẳng bị ảnh hưởng nặng nề bởi chính mối quan hệ khắc nghiệt của Bo với người cha ruột. Sự buông bỏ và chữa lành cho thế hệ sau là một chủ đề mạnh mẽ.

  3. Đối diện với tuổi già: Hành trình chấp nhận sự yếu đuối của thể chất được thể hiện qua những ghi chép tỉ mỉ của đội ngũ chăm sóc tại nhà.

Cuốn sách truyền tải thông điệp về sự chấp nhận và buông bỏ—hai yếu tố cần thiết để tìm thấy bình yên. Giống như đàn sếu phải chấp nhận mùa đông để bay đi, Bo phải chấp nhận quá khứ và sự lão hóa để tìm thấy mục đích ở giai đoạn cuối đời.

Tác giả đặt ra câu hỏi cốt lõi: Nguồn gốc của sự lo âu không phải là thiếu thời gian, mà là thiếu mục đích và sự hiện diện.

 "Nếu bạn làm chậm lại, thế giới sẽ không bị bỏ lại phía sau. Chỉ là những điều bạn không thể thấy trước đó sẽ xuất hiện."

Sự chữa lành của Bo bắt đầu khi ông ngừng chạy đua với thời gian và những kỳ vọng của người cha, cho phép bản thân nhìn thấy những giá trị cốt lõi còn sót lại.

"Phương Nam" trong sách là một ẩn dụ tuyệt đẹp cho trạng thái tinh thần bình yên, là nơi mà Bo và mỗi người chúng ta cần được nghỉ ngơi và tái tạo.

"Mỗi người đều mang trong mình một phương Nam, một nơi mà ta biết mình phải trở về để được chữa lành."

Sự chấp nhận hành trình gian khổ của đàn sếu dạy chúng ta bài học về sự kiên định không màng đến sự hoàn hảo. Sự bình yên của Bo đến từ việc chấp nhận sự không hoàn hảo của gia đình và chính mình.

  • "Cuộc sống là một hành trình đi tìm nơi chốn, không phải là nơi chốn đi tìm ta. Ta phải tự mình cất cánh." 

"Khi đàn sếu bay về phương Nam" là một cuốn sách chân thực, dịu dàng, khiến người đọc suy ngẫm về ý nghĩa của những khoảnh khắc quý giá trong đời. Nó là một lời mời gọi bạn dũng cảm buông bỏ những gánh nặng của quá khứ và trân trọng những người thân yêu, bởi chính sự kết nối ấy mới là "phương Nam" vĩnh cửu của mỗi người.



***

"Peace is not a destination. It lies in the moment we accept the speed of our own wings, amidst a vast sky."

"When the Cranes Fly South" is not just a work of healing self-narrative about nature; it is a gentle and authentic portrait of the journey of confronting old age, loneliness, and unresolved family legacies. Author Lisa Ridzén uses the crane's resolute migration as a backdrop, but the deeper content is about the internal journey of the character Bo—an elderly Swedish man searching for his own "South."

The book stands out for its gentle, humane voice, focusing on the subtle yet meaningful changes in Bo's everyday life and soul.

Bo: Solitude and the Legacy of the Past

If you ask me if I love my old age, yes, I love it too much! Because where else could one receive that affection, from the people I've encountered, who are beginning to pass through the twilight of life, raising new melodies, like the sunset light reflecting on the river, sparkling like crystal. Every age gets lost, and old age is no different! Wavering in multiple layers of emotion—love, regret, amidst solitude, sadness—with reflections on life—the plankton below gazing up at the things floating above. Then, continuing with love, just like the character Bo in the story.

The story revolves around Bo, who is confronting the challenges of old age and loneliness. His life is painted through complex and profound relationships:

  1. Friendship and Connection: The unique bond with his colleague Ture is a highlight, demonstrating the meaning of human connection, especially in the twilight years.

  2. Family Legacy: The book delves into the strained relationship with his son Hans, a tension heavily influenced by Bo's own harsh relationship with his father. Letting go and healing the next generation is a powerful theme.

  3. Confronting Old Age: The journey of accepting physical frailty is conveyed through the meticulous notes of the home care team.

The book conveys the message of acceptance and surrender—two essential elements for finding peace. Just as the cranes must accept winter to fly away, Bo must accept his past and aging to find purpose in his later years.

The author poses the core question: The source of anxiety is not a lack of time, but a lack of purpose and presence.

"If you slow down, the world won't be left behind. It's just that things you couldn't see before will appear."

Bo's healing begins when he stops racing against time and his father's expectations, allowing himself to see the remaining core values.

The South: The Soul's Sanctuary

"The South" in the book is a beautiful metaphor for inner peace, the state of mind where Bo and all of us need rest and rejuvenation.

"Everyone carries a South within them, a place where they know they must return to be healed."

The acceptance of the cranes' arduous journey teaches us a lesson in persistence, regardless of perfection. Bo's peace comes from accepting the imperfections of his family and himself.

  • "Life is a journey in search of a place, not a place in search of us. We must take flight ourselves." (On actively seeking purpose)

  • "When the Cranes Fly South" is an authentic, gentle book that prompts the reader to reflect on the meaning of precious moments in life. It is an invitation to bravely let go of the burdens of the past and cherish loved ones, because that connection itself is the eternal "South" for every person.

Thứ Ba, 30 tháng 9, 2025

[Sách] Nghề viết tiểu thuyết - Haruki Murakami


  • "Tôi không phải là một người đặc biệt thông minh, nhưng tôi có đủ sự kiên trì để viết hết những gì tôi đã quyết định viết." 

Chờ đợi áng văn mới The City and Its Uncertain Walls (Thành phố và bức tường không chắc chắn của nó) không thành. Nó tìm cách len lỏi qua các con phố nhỏ Tokyo, thập niên 80. Trời Sài Gòn nay lẫn khuất mây đen, nhưng Tokyo hôm đó cũng mờ mịt ánh sáng.

Nó ngồi. Nhấp một ngụm bia lạnh. Lắng nghe tiếng Jazz ngẫu hứng, tan vào những phút cuối cùng. Khói thuốc cuộn mình trên trần, đặc quánh. Đám trẻ bấy giờ, chúng trốn chạy những cái "cúi đầu vô lý" ở các công ty đa quốc gia đang nở rộ. Chúng chỉ cần âm nhạc. Cần khoảnh khắc.

Nó cứ chần chừ mở Lắng nghe gió hát. Nơi một gã trai trẻ gõ bên bàn phím, sau men cay, sau âm nhạc. Chỉ còn ngôn từ. Chỉ còn tiếng lạch cạch vô tận của bàn phím, hòa theo cảm xúc. Say đắm.

"Nghề viết tiểu thuyết" (Novelist as a Vocation) không phải là một cuốn tiểu thuyết; nó là một tuyên ngôn triết học cá nhân được gói gọn trong hình hài một tập tản văn. Đây là nơi hiếm hoi Haruki Murakami, nhà văn vĩ đại của những giấc mơ siêu thực, mời chúng ta bước vào căn phòng làm việc và tiết lộ những nguyên tắc, thói quen và sự cô đơn đã hun đúc nên sự nghiệp lừng lẫy của ông.

Cuốn sách nổi bật bởi sự minh bạch và thực tế đến bất ngờ, khác xa với sự mơ hồ, huyền ảo trong các tác phẩm hư cấu của ông. Murakami không nói về phép màu hay cảm hứng siêu nhiên, ông nói về kỷ luật, sự bền bỉ và tầm quan trọng của việc xây dựng một hệ thống sống đủ vững chắc để gánh vác sự nghiệp viết lách đầy cô đơn.

Chạy bộ, Kỷ luật, và Sức bền của người kể chuyện

Một trong những bài học quan trọng nhất mà Murakami chia sẻ là mối liên hệ không thể tách rời giữa cơ thể và trí óc. Ông khẳng định viết lách không chỉ là công việc của tinh thần mà còn là công việc thể chất:

"Nếu không chạy, tôi không thể viết. Chạy bộ là một điều cần thiết. Nó giúp tôi xây dựng nên sức bền cần thiết cho công việc sáng tạo."

Murakami ví việc viết tiểu thuyết dài hơi như một cuộc chạy marathon. Nó đòi hỏi sự kiên trì kinh khủng, khả năng tập trung kéo dài, và một hệ thống thể chất đủ tốt để chống chọi lại sự cô độc và áp lực tinh thần. Ông mô tả quá trình chuyển đổi từ một chủ quán bar Jazz sang một tiểu thuyết gia chuyên nghiệp, nhấn mạnh rằng sự thành công không đến từ một cú "flash" cảm hứng, mà từ việc thiết lập một thói quen không thể phá vỡ: thức dậy sớm, viết liên tục, và duy trì cơ thể khỏe mạnh.

Sức mạnh của sự Tự đối diện và Giọng văn độc đáo

Murakami đào sâu vào bản chất của công việc viết lách. Ông mô tả nghề này là một hành trình cô độc, nơi bạn phải học cách tự đối diện với chính mình và những góc khuất trong tâm hồn. Đó là một quá trình đau đớn, nhưng cần thiết để tìm ra "giọng văn" (voice) riêng biệt.

"Việc viết tiểu thuyết là một công việc rất cô đơn. Bạn phải học cách tự đối diện với chính mình, không có sự trợ giúp nào."

Ông khuyến khích người viết phải tự tìm ra "tính nguyên bản" (originality) trong giọng điệu của mình, không sao chép hay cố gắng trở thành người khác. Điều này liên quan đến việc đào sâu vào những trải nghiệm cá nhân, những ký ức vụn vặt và những cảm xúc khó gọi tên—những thứ đã làm nên cái "chất" rất riêng của Murakami, nơi ranh giới giữa thực và ảo luôn mờ nhạt.

  • "Nếu bạn có thể viết một cuốn sách khiến chính bạn phải kinh ngạc, thì bạn đã thành công rồi." (Về mục đích sáng tạo)

"Nghề viết tiểu thuyết" là một cuốn sách không chỉ dành cho những người mơ mộng trở thành nhà văn, mà còn cho bất kỳ ai đang theo đuổi một sự nghiệp đòi hỏi sự sáng tạo và kỷ luật. Nó là một bài học đắt giá về sự kiên trì, về việc lắng nghe cơ thể mình, và về cách biến sự cô đơn thành sức mạnh để tạo ra những tác phẩm có giá trị. Đọc xong, bạn sẽ không chỉ hiểu Haruki Murakami hơn, mà còn có một bản đồ chi tiết để tự xây dựng hệ thống sống và làm việc của chính mình.

***

"I'm not particularly smart, but I have enough persistence to write everything I've decided to write."

Waiting for the new novel The City and Its Uncertain Walls proved futile. Instead, it tried to weave its way through the small backstreets of 1980s Tokyo. The Saigon sky today might be mixed with dark clouds, but that Tokyo day was also muted light.

It sat. Took a cold sip of beer. Listened to the spontaneous Jazz fade into its final minutes. The smoke curled thickly against the ceiling. The youth of that era were running from the "meaningless bows" required by the burgeoning multinational corporations. They only needed music. They needed the moment.

It hesitated to open Hear the Wind Sing. The place where a young man types at his keyboard, after the alcohol, after the music. There were only words left. Only the relentless click-clack of the keys, harmonizing with the emotion. Utterly captivated.

"Novelist as a Vocation" is not a novel; it is a personal philosophical manifesto encapsulated in a collection of essays. This is the rare space where Haruki Murakami, the great writer of surreal dreams, invites us into his office and reveals the principles, habits, and solitude that forged his illustrious career.

The book stands out for its surprising clarity and realism, far removed from the ambiguity and fantasy in his fictional works. Murakami doesn't speak of magic or supernatural inspiration; he speaks of discipline, persistence, and the importance of building a system of living strong enough to bear the burden of a lonely writing career.

Running, Discipline, and the Stamina of a Storyteller

One of the most crucial lessons Murakami shares is the inseparable link between body and mind. He asserts that writing is not just a job of the spirit but also a physical task:

"If I don’t run, I can’t write. Running is essential. It helps me build the stamina necessary for creative work."

Murakami compares writing a long novel to running a marathon. It demands incredible patience, sustained concentration, and a physical system robust enough to withstand the solitude and mental pressure. He describes his transition from a Jazz bar owner to a professional novelist, emphasizing that success doesn't come from a flash of inspiration, but from establishing an unbreakable routine: waking up early, writing consistently, and maintaining physical health.

The Power of Self-Confrontation and a Unique Voice

Murakami delves deep into the nature of writing. He describes the profession as a solitary journey, where you must learn to confront yourself and the hidden corners of your soul. It is a painful but necessary process to find your unique "voice."

"Writing novels is a very lonely job. You have to learn how to confront yourself, without any assistance."

He encourages writers to find their "originality" in their tone, not to copy or try to be someone else. This involves delving into personal experiences, fragmented memories, and emotions difficult to name—the very things that constitute Murakami's distinctive "essence," where the line between reality and the surreal is always blurred.

  • "If you can write a book that surprises even yourself, then you have succeeded." (On the 

"Novelist as a Vocation" is a book not only for aspiring writers but also for anyone pursuing a career that demands creativity and discipline. It is a valuable lesson on persistence, on listening to one's body, and on how to transform solitude into strength to create works of value. After reading it, you will not only understand Haruki Murakami better but also have a detailed map to build your own system of living and working.

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2025

[Book] Ngôi thứ nhất số ít - Haruki Murakami



"Nhớ lại quá khứ, có những khoảnh khắc tưởng chừng mơ hồ nhưng lại in sâu trong lòng ta như những vết khắc trên đá."

Phản phất chất Kafka và hơi thở của thập niên 70,80. Haruki Murakami luôn là một giọng văn lạ kỳ. Những câu chuyện của ông tưởng như đơn giản, đôi khi như những mảnh ghép ngẫu nhiên của ký ức, nhưng lại chạm đến những góc sâu nhất trong tâm hồn. Ngôi Thứ Nhất Số Ít là tập truyện ngắn mà ở đó, Murakami viết với chính giọng của mình – đầy hoài niệm, cô độc, và có chút gì đó huyễn hoặc như lớp sương mờ trên những ký ức xa xăm.

Giữa thực và mộng – đâu là ranh giới?

Tập truyện gồm tám truyện ngắn, mỗi câu chuyện là một lát cắt ký ức của người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, mở ra những trải nghiệm mang màu sắc riêng biệt của Murakami: một mối tình tuổi trẻ, một bản nhạc jazz, một trận đấu bóng chày, hay một bài thơ đọc giữa đêm khuya.

"Khi tôi cố gắng nhớ lại khuôn mặt cô ấy, hình ảnh dường như rất rõ ràng, nhưng khi tôi cố chạm vào, nó lại tan biến như khói."

Điều đặc biệt là các câu chuyện trong sách không đi theo cấu trúc thông thường. Đôi khi, chúng giống như một đoạn ký ức rời rạc, đôi khi lại như một giấc mơ không rõ thực hay hư. Nhân vật chính – thường không có tên – giống như một bản thể của chính Murakami, nhưng cũng có thể là bất kỳ ai trong chúng ta.

Âm nhạc, nỗi cô đơn, và những điều không thể lý giải

Như mọi tác phẩm khác của Murakami, âm nhạc vẫn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt. Jazz, cổ điển, The Beatles – những giai điệu vang lên trong tâm trí nhân vật như một cách để neo giữ ký ức. Nhưng quan trọng hơn cả, âm nhạc trong Ngôi Thứ Nhất Số Ít còn là cách để tác giả kể về nỗi cô đơn.

"Có những đêm, tôi chỉ ngồi đó, lắng nghe bản nhạc mình yêu thích, và cảm giác như cả thế giới chỉ còn lại một mình tôi."

Ngoài nỗi cô đơn, Murakami cũng dẫn dắt người đọc đến với những khoảnh khắc khó lý giải. Như một cô gái với giọng đọc thơ ám ảnh, như một lần gặp gỡ mà không ai biết có thực hay không. Những chi tiết phi lý ấy không quá rõ ràng như trong Kafka bên bờ biển hay Rừng Na Uy, nhưng vẫn đủ để khiến người đọc băn khoăn: điều gì là thật, điều gì là tưởng tượng?

Một Murakami rất Murakami

Nếu bạn đã từng yêu thích Rừng Na Uy, Tazaki Tsukuru không màu, hay bất kỳ tác phẩm nào của Murakami, thì Ngôi Thứ Nhất Số Ít sẽ là một sự trở lại đầy thân thuộc. Nhưng nếu bạn chưa từng đọc Murakami, có lẽ đây không phải là một cuốn sách dễ tiếp cận – vì nó không có cao trào, không có hồi kết rõ ràng, mà chỉ có những cảm xúc lặng lẽ len lỏi vào lòng.

"Cuộc sống đôi khi chỉ là những khoảnh khắc nhỏ bé, trôi qua, nhưng mãi mãi không biến mất."

Murakami viết như thể ông đang ngồi trước mặt bạn, kể về những mẩu chuyện nhỏ trong đời mình. Và rồi, khi gấp sách lại, có lẽ bạn cũng sẽ bất giác nhìn lại cuộc đời mình, nhớ về một bản nhạc, một cái tên, một gương mặt đã lâu không gặp.

Vì đôi khi, những gì nhỏ bé nhất lại là những thứ ở lại lâu nhất.

***

"Looking back at the past, there are moments that seem vague but are deeply etched in our hearts, like carvings on stone."

Echoing a Kafkaesque essence and the spirit of the ’70s and ’80s, Haruki Murakami remains a uniquely enigmatic voice. His stories appear simple, at times like scattered fragments of memory, yet they reach into the deepest corners of the soul. First Person Singular is a collection of short stories where Murakami writes in his own voice—filled with nostalgia, solitude, and a touch of the surreal, like a misty veil over distant memories.

Between Reality and Dreams—Where Is the Boundary?

The collection comprises eight short stories, each offering a slice of the narrator's past, revealing experiences uniquely tinged with Murakami’s signature style: a youthful romance, a jazz tune, a baseball game, or a poem read in the middle of the night.

"When I try to recall her face, the image appears vividly clear. But the moment I try to reach for it, it dissolves like smoke."

What sets these stories apart is their unconventional structure. At times, they resemble fragmented recollections; at others, they feel like dreams suspended between reality and illusion. The protagonist—often unnamed—feels like an extension of Murakami himself, yet could just as easily be any one of us.

Music, Loneliness, and the Unexplainable

As with all of Murakami’s works, music is the thread weaving through these stories. Jazz, classical music, The Beatles—melodies surface in the characters' minds, anchoring their memories. But more than that, music in First Person Singular becomes a medium through which Murakami explores solitude.

"There are nights when I just sit there, listening to my favorite song, feeling as if the entire world has vanished, leaving only me behind."

Beyond loneliness, Murakami guides readers into moments that defy explanation—a girl with an eerily captivating voice reading poetry, an encounter that no one can quite confirm as real or imagined. These surreal elements aren’t as pronounced as in Kafka on the Shore or Norwegian Wood, yet they are enough to make readers wonder: what is real, and what is a dream?

A Murakami as Murakami as Ever

If you’ve loved Norwegian Wood, Colorless Tsukuru Tazaki and His Years of Pilgrimage, or any of Murakami’s previous works, First Person Singular will feel like a familiar return. But if you’re new to Murakami, this might not be the easiest book to start with—there are no grand climaxes, no clear resolutions, just quiet emotions that seep in and linger.

"Life is often just a series of small moments that pass by but never truly disappear."

Murakami writes as if he’s sitting across from you, recounting fragments of his life. And when you close the book, you may find yourself looking back at your own life—recalling a song, a name, a face long unseen.

Because sometimes, the smallest things are the ones that stay with us the longest.

[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...