Chiến Phan

Hiển thị các bài đăng có nhãn hè đỏ lửa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hè đỏ lửa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2025

[Sách] Hồi ức Quảng Trị - Nguyễn Thụy Kha

“Mùa hè đỏ lửa năm ấy đã kết thúc bằng những mất mát không thể đong đếm. Nhưng điều vĩ đại nhất không phải là thắng hay bại, mà là cách những người lính từng ở hai bờ chiến tuyến, sau tất cả, có thể gặp lại, bắt tay nhau và gọi nhau là đồng bào. Hồi ức này là minh chứng rằng, dù bom đạn có tàn khốc đến đâu, trái tim con người vẫn luôn có chỗ cho tình thương và sự bao dung.”

Nó lướt qua Thành cổ, đặt chân mình lên bờ cát thoai thoải, ngồi dựa xuống một góc bụi tre nhìn về phía con sông Thạch Hãn , nơi con sông này, đã chôn vùi bao xác chết, nơi chia cắt hai miền đất nước.

Bà—người tình tóc bạc, người phụ nữ của nhiều năm xa xứ tìm về, lặng người, ôm rồi bật khóc một người chị đã cách trở bao năm. Bà kể về một thời lửa khói, kể về dòng sông nhuộm sắc đỏ từ máu người chảy, ôm con chạy giữa hai làn đạn đó. "Anh còn nhớ không?"—Câu hỏi day dứt ấy như vọng về từ quá khứ, là minh chứng cho nỗi đau dai dẳng của những người sống sót. Cuốn sách này, cũng như câu chuyện của họ, là sự đối diện với nỗi mất mát mà chiến tranh để lại.

Nhớ. Vẹn nguyên. Lần đầu được người tình tóc bạc, cùng người anh đã khuất dẫn về nơi quê cha, đất tổ; nơi chôn cất ôn mệ đang nằm. Cuộc hành hương ấy, giờ đây, nó tiếp nối: dẫn dắt những đứa nhóc của mình về lại mảnh đất ấy. Thật ra là quê mạ, nơi người tình tóc bạc đã từng băng mình dưới làn đạn của một thời mưa đỏ, và giờ đây, ký ức bi tráng đó lại đang rực rỡ trên màn ảnh.

https://chienphan.blogspot.com/2012/07/he-o-lua.html

Bút lực của một ngày tuổi trẻ, viết kiếm tiền, "Hè đỏ lửa" viết theo một văn phong chấp cố, thỏa một sự ngông nghênh của trẻ tuổi. Giờ đây gặp lại. 

Hồi ức Quảng Trị, do nhà thơ – nhà báo Nguyễn Thụy Kha sưu tầm và biên soạn, không chỉ là một cuốn sách lịch sử mà còn là một tượng đài văn học về lòng bao dung và tinh thần hòa giải dân tộc. Công trình này tái hiện lại 81 ngày đêm khốc liệt của trận chiến Thành cổ Quảng Trị (mùa hè năm 1972) thông qua góc nhìn trực diện, chân thực của hai người lính ở hai chiến tuyến đối lập.

“Ở Thành cổ, mỗi mét vuông đất là một thước đo của sự sống và cái chết. Đất đã ngấm quá nhiều máu, đến mức mỗi bước chân đều như đạp lên quá khứ. Nhưng chính nơi ấy, người lính phải vượt qua nỗi sợ hãi lớn nhất, chỉ để làm tròn bổn phận. Họ chiến đấu không phải vì khẩu hiệu, mà vì đồng đội bên cạnh và vì một niềm tin giản dị về ngày mai.”

1. Cấu trúc độc đáo: Hai chiến tuyến – Một nỗi đau chung

Sức nặng và giá trị của cuốn sách nằm ở cấu trúc đối chiếu hiếm có:

  1. Phần một: Là nhật ký chiến trường của người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đào Chí Thành – Ra đi từ giảng đường.

  2. Phần hai: Là hồi ký của người lính Thủy quân Lục chiến Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Thanh Quang – Quảng Trị trong tôi.

Hai bản tự sự song song này đã phá vỡ rào cản "ta – địch" thông thường, cho phép người đọc nhìn thấu sự tàn khốc của chiến tranh từ cả hai phía. Dù lý tưởng khác biệt, họ đều là những người trẻ bị cuốn vào cuộc chiến, phải đối mặt với thiếu thốn, gian khổ và cái chết chực chờ. Họ đều có những khoảnh khắc cô đơn, sợ hãi, và cả niềm kiêu hãnh của người lính. Cuốn sách giúp chúng ta nhận ra rằng, ở dưới lớp áo lính, họ đều là con người.

2. Thông điệp Hòa giải và Bao dung

Tác phẩm không đi sâu vào phân tích chiến thuật mà tập trung vào cảm xúc, tâm tư của những người trong cuộc. Nguyễn Thụy Kha đã khéo léo đặt ký ức của hai người lính cạnh nhau để tự thân người đọc cảm nhận và đối chiếu. Điểm chạm cảm xúc lớn nhất chính là sự gặp gỡ, trò chuyện và sẻ chia sau này giữa ông Thành và ông Quang, biến đối thủ thành tri âm, khép lại quá khứ bằng sự tôn trọng dành cho ký ức của nhau.

Hồi ức Quảng Trị là một lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng mạnh mẽ về giá trị của hòa bình và sự cần thiết phải bước qua hận thù để chung sống.

“Hôm nay, tôi thấy pháo sáng rực lên trời đêm Thạch Hãn. Ánh sáng ấy không phải của ngày, cũng chẳng phải của đêm, nó là ánh sáng của sự thật trần trụi. Nó soi rõ từng khuôn mặt bệ rạc, từng vết thương, và cả những ước mơ còn dang dở. Khi tiếng pháo vừa dứt, chúng tôi lại sống thêm một ngày, nhưng không ai biết ngày mai mình còn được thấy ánh sáng ấy nữa hay không.”

Hồi ức Quảng Trị là một tài liệu lịch sử đầy cảm xúc, là lời tri ân xúc động tới những người đã hy sinh tuổi trẻ nơi chiến trường. Quan trọng hơn, nó là một bài học sâu sắc về nhân tính và là chiếc chìa khóa nhỏ mở ra cánh cửa hòa giải, giúp thế hệ hôm nay hiểu được rằng: hòa bình không phải là điều hiển nhiên mà là một di sản quý giá được đổi bằng máu và nước mắt của cả hai phía.



***

"The summer of red fire concluded with unquantifiable loss. But the greatest thing was neither victory nor defeat; it was how the soldiers who once stood on opposing fronts could, after everything, meet again, shake hands, and call each other compatriots. This memoir is proof that no matter how devastating the bombs and bullets, the human heart always reserves a place for compassion and tolerance."

I skimmed across the Ancient Citadel, placed its feet on the gentle sand slope, and sat leaning against a clump of bamboo, gazing at the Thạch Hãn River, the river that entombed countless fallen, the dividing line between the two regions of the country.

She—the silver-haired lover, the woman who returned after many years abroad—stood silently, then embraced and wept with a sister separated for years. She spoke of a time of fire and smoke, spoke of the river stained red with human blood, carrying her child while running between two lines of fire. "Do you remember?"—That haunting question seems to echo from the past, proof of the long-lasting pain of the survivors. This book, like their story, is a confrontation with the loss left by war.

The memory is whole. Intact. The first time the silver-haired lover, along with the deceased brother, led me back to the ancestral homeland; the resting place where my ancestors lie. That pilgrimage, now, I continue: leading my own children back to that very land. In truth, it is the mother's homeland, where the silver-haired lover once traversed under the rain of fire during that time of red summer, and now, that tragic memory is shining brightly on the screen. (Reference: https://chienphan.blogspot.com/2012/07/he-o-lua.html). The force of a youthful pen, written for money, the "Red Summer" was penned in a defiant style, satisfying the arrogance of youth. Now, I encounter it again.

"Quảng Trị Memoirs", compiled and edited by the poet–journalist Nguyễn Thụy Kha, is not just a history book but a literary monument to tolerance and the spirit of national reconciliation. This work vividly reconstructs the 81 brutal days and nights of the Quảng Trị Citadel battle (the fiery summer of 1972) through the direct, authentic perspectives of two soldiers on opposite fronts.

"In the Ancient Citadel, every square meter of land was a measure of life and death. The earth was soaked with so much blood that every step felt like stepping on the past. But it was there that the soldier had to overcome the greatest fear, solely to fulfill his duty. They fought not for slogans, but for the comrade beside them and for a simple faith in tomorrow."

1. Unique Structure: Two Fronts – One Shared Pain

The gravity and value of the book lie in its rare contrasting structure:

  1. Part One: The battlefield diary of the People's Army of Vietnam soldier, Đào Chí Thành – Leaving the Lecture Hall.

  2. Part Two: The memoir of the Republic of Vietnam Marine Corps soldier, Nguyễn Thanh Quang – Quảng Trị in Me.

These two parallel narratives break down the conventional "us vs. them" barrier, allowing the reader to fully grasp the brutality of war from both sides. Despite different ideals, they were all young men swept into the conflict, facing scarcity, hardship, and imminent death. They all had moments of loneliness, fear, and the pride of a soldier. The book helps us realize that beneath the uniforms, they were all human.

2. The Message of Reconciliation and Tolerance

The work does not delve into tactical analysis but focuses on the emotions and inner thoughts of the participants. Nguyễn Thụy Kha skillfully placed the memories of the two soldiers side by side, allowing the reader to feel and contrast them naturally. The greatest emotional impact lies in the eventual meeting, conversation, and sharing between Mr. Thành and Mr. Quang, transforming adversaries into soulmates, closing the past with respect for each other's memories.

"Quảng Trị Memoirs" is a gentle yet powerful reminder of the value of peace and the necessity of moving beyond hatred for coexistence.

"Today, I see flares bursting across the Thạch Hãn night sky. That light is neither day nor night; it is the light of naked truth. It illuminates every ravaged face, every wound, and every unfinished dream. When the shelling ceased, we survived another day, but no one knew if they would see that light again tomorrow."

"Quảng Trị Memoirs" is a deeply emotional historical document, a moving tribute to those who sacrificed their youth on the battlefield. More importantly, it is a profound lesson in humanity and a small key that opens the door to reconciliation, helping the current generation understand that: peace is not self-evident but a precious heritage paid for with the blood and tears of both sides.

Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2012

HÈ ĐỎ LỬA - The Red Summer of '72

- Ngồi nói chuyện với bà trong cái hắt hiu của buổi chiều hè khi trời mấp mé những đám mây đen giăng kín. Vài sợi tóc hóa mây bay đang dạo chơi cùng cơn gió. Phất phơ. Ký ức về một đêm hè của gần bốn mươi năm về trước. Một đêm hè đỏ lửa.
Photobucket
Người phụ nữ. Bốn mươi năm về trước. Một gánh ba con sống giữa đất làng Lệ An, Phú Vang, Bình Trị Thiên khói lửa. Nhớ hoài một đêm hè 1972 ngày ấy. Giữa đêm, linh cảm đàn bà, bồng con chạy giặc.
Chạy giữa đêm sương. Đứa bồng, đứa chạy. Lấy dây buộc chặt những giọt máu đào ngang hông, sợ lạc mất những mãnh đời đói rách, có những cơn mơ bị đạn bom giày xéo một tuổi thơ. Hoảng hốt.
Chạy giữa đêm trường. Với những gia đình trong xóm. Đếm đi đếm lại cũng phải được chục nhà, chạy với nhau sợ lạc đường giữa đêm. Heo hút. Đường chạy giặc từ Phú Vang qua làng chài đến với Thuận An, nơi an toàn còn lại trong một trận đối đầu lịch sử của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam với quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Chạy giữa tang thương. Có những người rớt lại bởi đạn bom oanh tạc hay đạn lạc giữa đường, máu nhuộm ướt mỗi bước chân qua. Người phụ nữ ấy tay bồng, tay dắt con chạy giữa rừng dương bạt ngàn. Hy vọng. Giặc không thấy bóng người luồng lách dưới những hàng dương, oanh tạc những mãnh đời đã quá khổ đau bởi chiến tranh giày xéo. Bước chân chạy đi không ngừng nghĩ, trong cõi lòng lại không ngừng thầm cầu nguyện về một lối về không có thương đau. Chết thì có mẹ có con, sống thì có con có mẹ. Cứ thế hì hục chạy với tâm linh. Rừng dương đón gió từ cửa biển lùa vào xoa dịu chút thương đau, mệt nhọc bởi cát lún từng bước chân qua. Đến làng chài trời đã tờ mờ sáng. Sau vài lần nhảy hầm tránh bom dọc đường mỗi lần nghe tiếng pháo binh.
- Có cơn gió tạt vào mặt nó. Không biết. Có giống cơn gió của đêm hè từ biển thổi qua làn tóc của người phụ nữ ngồi trước nó giờ đã óng ánh màu của thời gian. Nhạt nhòa. Giờ đây vầng trán đầy những vết chân chim, đang hồi tưởng lại những dấu chân lặng thầm bế con ngày ấy. Gió lạc sang mặt hồ Khổng Tử làm gợn sóng lăn tăn. Một chiều hè không vương nắng.
Sóng xào xạt một bên, rừng thông xào xạt một bên. Cứ thế giữa đêm, vừa chạy vừa nhảy hầm tránh đạn. Chang vạng tìm trú tạm ở một ngôi nhà chủ đã bỏ đi, kiếm chút nước cho những đứa con thơ dại đang khát khô bởi mồ hôi thoát ra ngoài suốt đêm chạy. Miệt mài.
Chạy từ sáng tinh sương đến chiều vất vưởng nắng. Ghé lại một ngôi nhà không chủ, thấp lửa thổi cơm cho những đứa con no lòng bằng túi gạo mang theo. Khi ấy. Vừa thấp lửa vừa lo tro không kịp tàn, thấy khói lại có pháo binh dội đến.
Người phụ nữ ngồi trước nồi cơm lửa tàn. Lưng địu đứa con vừa tròn vài tháng. Hai đứa nhóc được vài tuổi đầu chạy sang nhà đối diện tìm phút vui chơi giữa trời lửa đỏ. Hồn nhiên. Không biết tương lai nào đợi chờ.
Ầm mmm. Một tiếng bom dội. Ngôi nhà đối diện tan hoang, chỉ còn khói lửa cháy lên. Người phụ nữ hoảng loạn giữa màu hoang lửa đỏ. Cuống cuồng. Tìm con.
Photobucket
Nó thấy vai bà khẽ rung lên xúc cảm của những ngày tháng hoang mang, cảnh đấy người đây mà như vừa thấy. Bàng hoàng. Thời gian bước qua không dừng lại trên thân thể đã đi qua chiến tranh. Đồi mồi điểm da.
Gào thét gọi tên con giữa hố bom, lửa đạn. Hai thằng nhóc gọi mẹ trong một bụi tre già. Hoảng loạng. Chạy ù đến mẹ. Lúc ấy. Có phải nhờ khôn lanh mà anh em chạy trốn khi nghe tiếng pháo binh, hay có phải vì chiến tranh đào tạo mà những đứa con thơ dại biết chạy giặc, tránh bom thế nào? Ôm vào lòng, nghẹn ngào hai dòng nước. Tưởng mẹ đã mất con.
Ăn chưa ấm lòng, mẹ con lại tiếp tục lên đường. Chay giặc. Thuận An mới là đích đến dù chưa một lần đến đó bao giờ, tính từ thuở ấu thơ đến khi vào đời trở thành mẹ của ba con. Người phụ nữ vừa đi, vừa hỏi trong những con người chạy giặc. Đồng hành. Gió, khói, máu và hào sâu. Người phụ nữ ấy cứ miệt mài suốt một ngày một đêm. Quãng đường hơn mười cây số. Chạy vòng. Một mẹ, ba con. Giữa trời hè đỏ lửa.
Photobucket
 - Người phụ nữ ấy giờ ngồi trước nó. Thả mắt nhìn trời đầy những áng mây bay. Có trắng, có đen. Có báo hiệu mưa giông tìm đến. Không còn sợ hãi bởi suốt cuộc đời nắng, mưa đã từng. Không còn sợ hải bởi nắng đạn, mưa bom nhưng hỏi nếu làm lại thì bà sợ hãi khi nghĩ về. Chiến tranh. Hai từ ám ảnh. Đến tận giữa thời bình.
( P/S: Tốc ký một trưa hè nắng đã đi hoang, chỉ còn có mây tàn lạc lối về một hồi ức xưa kinh hoàng )
( Ảnh : Sưu Tầm )


***

Sitting and talking with her in the wistful atmosphere of a summer afternoon, as the sky was hemmed in by gathering dark clouds. A few strands of her cloud-like white hair danced with the breeze, gently fluttering. A memory of a summer night from nearly forty years ago. A summer night of fire.

The woman. Forty years ago. With three children in tow, she lived in the village of Le An, Phu Vang, in the war-torn land of Binh Tri Thien. She would always remember a summer night in 1972. In the middle of the night, a woman's intuition told her to grab her child and run from the war.

Running through the night's mist. One child in her arms, another running alongside. She used a cloth rope to tightly bind her children to her waist, fearing she would lose those hungry, ragged lives, their childhood dreams trampled by bombs and bullets. Terrified.

Running through the long night. With families from the neighborhood. She counted at least ten households, running together so as not to get lost in the dark. The road was desolate. The escape route from Phu Vang went through a fishing village to Thuan An, the only remaining safe place in a historical standoff between the People's Army of Vietnam and the Army of the Republic of Vietnam.

Running amidst devastation. Some people fell behind, victims of bomb raids or stray bullets, their blood staining every step. The woman, with one child in her arms and another by the hand, ran through an immense forest of casuarina trees. Hope. The enemy didn't see people weaving beneath the trees, bombarding lives already tormented by war. Her steps were relentless, and in her heart, she ceaselessly prayed for a way back without sorrow. If we die, at least mother and children will be together; if we live, at least mother and children will be together. She ran on, guided by this spiritual thought. The forest of casuarina trees welcomed the wind from the estuary, soothing some of the pain and fatigue from the sinking sand with every step. They reached the fishing village at dawn, after several times of jumping into trenches to avoid bombs along the way whenever they heard the sound of artillery.

A gust of wind brushed against its face. I wondered if I was the same wind from that summer night, blowing from the sea through the hair of the woman now sitting before me, her hair shimmering with the colors of time. Faded. Now, her forehead is etched with crow's feet, as she recalls the silent footprints she made carrying her children that day. The wind strayed and rippled the surface of Khong Tu Lake. A summer afternoon without a trace of sunshine.

The waves rustled on one side, the pine forest rustled on the other. So they ran through the night, dodging bullets and jumping into trenches. At dusk, they found temporary shelter in an abandoned house, looking for some water for their thirsty children, their throats parched from sweating all night. Exhausted.

They ran from the crack of dawn to the late afternoon. They stopped at another ownerless house, lighting a small fire to cook some rice for her children with the rice she had carried. Back then, she worried that the fire's smoke would attract artillery fire.

The woman sat before the pot of rice, the fire embers dying. Her baby was slung on her back. Her two young sons ran to the opposite house to play for a moment in the fiery red sky. Innocent. Unaware of the future that awaited them.

Thud. A bomb exploded. The house across the street was left in ruins, only fire and smoke rising. The woman panicked amidst the desolate, fiery landscape. Frantically. Searching for her children.

I saw her shoulders tremble, the emotion of those days of panic, the scene as vivid as if I had just happened. Stunned. Time didn't stop on a body that had endured war. Age spots dotted her skin.

Screaming her children's names between bomb craters and gunfire. The two boys called out for their mother from a thicket of old bamboo. Panicked. Running wildly to their mother. At that moment, it was I because of their cleverness that they had fled when they heard the artillery, or was I because the war had trained them that the children knew how to run from the enemy and take cover from bombs? She hugged them, tears flowing. She thought she had lost her children.

With their stomachs barely full, mother and children continued on their way. Fleeing from the enemy. Thuan An was the destination, though she had never been there before, not since childhood, until she became a mother of three. The woman walked, asking others for directions as they fled the war. They journeyed together. Wind, smoke, blood, and deep trenches. The woman ran tirelessly for an entire day and night. A distance of more than ten kilometers. Running in circles. One mother, three children. Under a summer sky of fire.

The woman now sits before me. Her eyes gaze at a sky full of flying clouds. Some white, some black. Some portend a coming storm. She is no longer afraid, for her life has known both sun and rain. She is no longer afraid of the rain of bullets and bombs, but if asked to do it all over again, she is terrified to even think about it. War. The two words haunted her. Even now, in peacetime.

(P/S: A hurried note on a summer afternoon, when the sun had gone astray, leaving only a scattered cloud on its way back to a horrifying old memory.)


[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...