Chiến Phan

Hiển thị các bài đăng có nhãn nhật bản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhật bản. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2026

[Sách] Phong trào Đông du miền Nam

 

"Đông du miền Nam không phải là một ảo ảnh thần thoại tuyến tính. Đó là cuộc sinh tồn khốc liệt, là cách những nhà ái quốc Lục tỉnh vạch đất tìm đường, bấu víu vào niềm tin trinh nguyên để giữ lại một khoảng trắng tự chủ trước sự phong tỏa tàn nhẫn của ngoại bang."

Từ mảnh đất miền Trung nắng cháy, rời bỏ những bờ tre rập rờn gió lượn, bỏ lại chiếc bàn trà cùng các chí sĩ, trí thức sĩ phu thời đầu—nơi sinh ra những con người như cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Chu Trinh, nó lặn lội bối rối bước chân vào mảnh đất Nam Kỳ thuộc địa những năm 1903–1904. Cuộc khảo sát miền Nam ấy không phải là một hành trình tham quan ngợi ca. Đó là một cuộc tiếp xúc lịch sử giữa tư tưởng quân chủ Duy Tân và dòng máu thực tiễn, phóng khoáng của những đại phú gia, nhà báo, sĩ phu phương Nam.

Dòng thủy lộ rọc ngang xẻ dọc Lục tỉnh năm ấy—từ sông Tiền, sông Hậu, qua Mỹ Tho, Sa Đéc, Rạch Giá, đến vùng Bảy Núi Châu Đốc—đã chứng kiến những cuộc gặp gỡ lịch sử. Cụ Phan Bội Châu đã gặp Nguyễn Thần Hiến, gặp Gilbert Trần Chánh Chiếu (Gilbert Chiếu)—gã tư sản mang quốc tịch Pháp nhưng trái tim cuồn cuộn máu nóng đồng bào. Dòng sông Tiền vang lên tiếng sóng xô mạn thuyền, gánh vác không chỉ nông sản thương hồ, mà gánh vác cả những tệp Lục Tỉnh Tân Văn, Nông Cổ Mín Đàm cùng hàng trăm nghìn đồng bạc Đông Dương được quyên góp bí mật để gửi thanh niên Nam Kỳ xuất dương du học Nhật Bản.

Những vần thơ thi ca từ đó mà ngút ngàn cất lên giữa dạt dào sông nước:

"Người dân ta, của dân ta

Dân là dân nước, nước là nước dân..."

Ngày cũng như đêm, lắng nghe và nhìn nhận một cấu trúc tinh thần của một thế hệ sĩ phu Nam Bộ,  sự liên kết giữa cụ Phan Bội Châu và những đại phú gia, trí thức yêu nước như Gilbert Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Thần Hiến, Trương Duy Toản, Nguyễn Quang diêu...bởi non sông.

Sự chuyển dịch tư duy từ "cầu viện" (xin ngoại bang đánh hộ) sang "cầu học" (tự lực khai dân trí, phát triển kinh tế thương hội):

"Du học Đông du không phải là sự ban phát giáo điều, mà là trao cho thế hệ trẻ một chiếc bàn cao để đứng thẳng, đối thoại sòng phẳng với văn minh thế giới ngoài thực tại."

Lặn lội về miệt thứ qua từng trang nghiên cứu, nó nhận ra chí sĩ miền Nam chẳng hề thua kém gì những con người ở mảnh đất Trung Kỳ hay Bắc Kỳ. Tất cả cùng hướng về một non sông đang khắc khoải ngóng chờ một thời đổi thay.

Nhưng nó chợt lặng người trước một quy luật rứt rách của nhân thế. Lạ. Thời nào con người ta cũng mong muốn một sự đổi thay, nhưng khi sự thay đổi thực sự ập đến, nó lại khiến con người ta sợ hãi, co cụm và phòng thủ. Ngược ngạo. 

Nó nhìn qua khung kính văn phòng. Ráng chiều muộn rớt dần. Bản tin thời sự trên tivi vừa chuyển sang hình ảnh những cơn mưa đầu mùa năm 2026 đang trút xuống khắp các tỉnh miền Tây. Nước tràn qua những triền đê, xóa tan đi cái oi nồng khô khốc của những ngày nắng hạn.

Nó chào tạm biệt những con người của một thời Đông Du rực lửa năm nào, ngắm nhìn những hạt mưa đầu mùa hạ thả mình dồn dập trên vách kính.

Cái cảm giác man mát của gió chiều đưa nhẹ, ươn ướt vệt sương mai trên đầu cỏ, hệt như mùi sình non sau mưa giông quê nhà bỗng chốc ùa về tưới tắm cho cõi lòng nó.

Mưa ngoài hiên đã chuyển thành những vệt rỉ rả chiều muộn. Cõi lòng phẳng lại. Yên lành. Điềm tĩnh. Tạm biệt một thời, những con người có hẹn với núi sông.

***

"Southern Dong Du was no linear mythical illusion. It was a brutal fight for survival—the desperate clearing of land by patriotic intellectuals from the Six Provinces, clinging to a pristine faith to safeguard a white space of sovereignty against the merciless blockade of foreign aggressors."

From the sun-scorched earth of the Central Region, leaving behind swaying bamboo groves along the whispering wind, abandoning the tea tables set with early-era scholars and intellectuals—the birthplace of figures like Phan Bội Châu and Phan Chu Trinh—nó trudged, bewildered, into the colonized land of Cochin-China during the years 1903–1904. That Southern survey was no celebratory sightseeing tour. It was a momentous historical encounter between the monarchist Duy Tân ideology and the pragmatic, free-spirited blood of Southern magnates, journalists, and scholars.

The sprawling network of waterways crisscrossing the Six Provinces that year—from the Tiền and Hậu rivers, through Mỹ Tho, Sa Đéc, Rạch Giá, to the Seven Mountains of Châu Đốc—bore witness to historic meetings. Phan Bội Châu met Nguyễn Thần Hiến; he met Gilbert Trần Chánh Chiếu (Gilbert Chiếu)—a capitalist holding French citizenship whose heart nevertheless surged with the boiling blood of his compatriots. The Tiền River echoed with waves slamming against boat hulls, carrying not merely the agricultural produce of river traders, but whole stacks of Lục Tỉnh Tân Văn and Nông Cổ Mín Đàm, alongside hundreds of thousands of Indochinese piastres secretly donated to send Southern youth abroad to study in Japan.

Soaring poetic verses erupted amid the boundless, swelling waters:

"Our people belong to our people,

The people form the nation, the nation belongs to the people..."

Day and night, listening to and absorbing the spiritual framework of a generation of Southern scholars, nó observed the profound bond linking Phan Bội Châu to patriotic magnates and intellectuals like Gilbert Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Thần Hiến, Trương Duy Toản, and Nguyễn Quang Diêu... all bound by the homeland.

The fundamental shift in mindset moved from "seeking foreign aid" (begging foreign powers to fight on our behalf) to "seeking education" (self-reliantly enlightening the populace and developing commercial societies):

"Study abroad through Dong Du was no distribution of dogmatic doctrine; it was handing the younger generation a high table upon which to stand tall, engaging in fair-and-square dialogue with global civilization out in stark reality."

Trudging into the deep delta (miệt thứ) through every page of research, nó realized that Southern patriots were in no way inferior to those hailing from the Central or Northern regions. All were gazing toward a single homeland, aching and waiting for an era of transformation.

Yet nó suddenly fell silent before a deeply fractured law of human nature. Strange. In every era, humanity craves change; yet when true change actually arrives, it strikes fear into their hearts, driving them into withdrawal and defense. Paradoxical.

Nó looked through the office glass. The late twilight dropped away. The TV news broadcast shifted to images of early-season rains in 2026 pouring across the Western provinces. Water overflowed the river dykes, washing away the suffocating, dry heat of drought-ridden days.

Nó bade farewell to the figures of that fiery Dong Du era of old, watching the early summer raindrops release themselves in rapid succession against the windowpane.

The cool gentle touch of the afternoon breeze, the damp trace of morning dew resting atop grass blades—so like the unrefined smell of mud (mùi sình non) after a countryside thunderstorm—suddenly flooded back to drench its inner soul.

The rain outside the eaves softened into the gentle pitter-patter of late afternoon. Its inner world leveled out. Peaceful. Composed. Farewell to an era, to the human beings who kept an appointment with the mountains and rivers.


Thứ Hai, 15 tháng 6, 2026

[Sách] Khi ký ức còn chưa phai nhạt - Toshikazu Kawaguchi


"Người ta không thể thay đổi được thực tại đã xảy ra. Nhưng khi quay trở lại, điều duy nhất thay đổi chính là trái tim của người ở lại."

Thành phố vẫn còn chưa tỉnh ngủ, nó ngồi lặng yên nơi góc phòng, nhìn nắng lên trong tiếng nhạc jazz day dứt. Một ngày bận rộn của đời công bộc sắp mở ra, đón chào với những con số tài chính nhảy múa và những văn bản hành chính khô khốc. Trong khoảnh khắc tâm tưởng cần một nguồn oxy trinh nguyên để tự chữa lành, nó lật mở những trang sách của Toshikazu Kawaguchi.

Bối cảnh sách không vĩ cuồng như những bản quy hoạch triệu đô, nó chỉ là một quán cà phê nhỏ mang tên Donna Donna ở Hakodate. Ở đó, có một chiếc ghế độc nhất và một quy tắc lạnh lùng, nghiêm cẩn hệt như một quy luật nhân–quả của tạo hóa: Bạn có thể quay về quá khứ để gặp người mình yêu thương, nhưng dù bạn có làm gì đi chăng nữa, thực tại vẫn sẽ không hề thay đổi. Và điều quan trọng nhất: Bạn phải uống cạn tách cà phê trước khi nó nguội ngắt, nếu không muốn biến thành một hồn ma bị giam cầm vĩnh viễn trong khoảng không câm lặng.

Kawaguchi đã dắt tay người đọc đi qua bốn câu chuyện của bốn con người lầm lụi mang theo những vết thương rách nát: một người con gái hận cha mình vì đã bỏ rơi cô, một diễn viên hài không kịp từ biệt người bạn tri kỷ, một người chị ngập tràn tội lỗi sau cái chết của em gái, và một người trẻ đối diện với căn bệnh nan y.

Cách viết của Kawaguchi từ tốn, tối giản nhưng chứa đựng sức mạnh thấu cảm khổng lồ. Cuốn sách không có những cao trào khốc liệt, nó hệt như một tách cà phê phin, nhỏ từng giọt đều đặn vào lòng người đọc.

Nhịp điệu ấy dắt nó nghĩ về gia đình, về đám trẻ. Nó tự vấn: Liệu nó có đang quá bận rộn với thế giới vị lợi ngoài kia mà quên mất việc lắng nghe hơi thở của các con? Ký ức của con người, hệt như mùi sình non ươn ướt sau mưa giông, có thể phai nhạt theo thời gian nếu không được tưới tắm bằng sự tử tế mỗi ngày. Liệu đám trẻ ở quê nhà đó, có lắng nghe được hơi thở của thiên nhiên lúc này không? Ký ức đó mang theo hay phai nhạt theo năm tháng sau này?

Nó khép lại cuốn sách của Kawaguchi khi màn đêm đã bao phủ thành phố. Đám trẻ trong văn phòng đã về hết, chỉ còn lại nó với khoảng lặng suy tư của riêng mình.

Đọc "Khi ký ức còn chưa phai nhạt" không làm nó chìm đắm vào sự bi lụy, mà ngược lại, lòng thấy phẳng lại. Nó hiểu rằng không cần phải đợi đến khi mất đi mới tìm đường quay lại một cách đột ngột. Nó phải hành động ngay lúc này, ở thực tại này. Nó sẽ về, từ tốn ngồi xuống bên mâm cơm tối, uống cạn tách cà phê của thực tại và sưởi ấm cho những người nó yêu thương khi ráng chiều đời vẫn còn chưa quá muộn.

***


"People cannot change the reality that has already occurred. But when you return, the only thing that changes is the heart of the person who stayed behind."

The city was still half-asleep. Nó sat in absolute stillness in the corner of the room, watching the morning light creep in against the agonizing strains of a jazz melody. A frantic day of đời công bộc (the public servant's life) was about to unfold, waiting to greet it with dancing financial figures and the dry, sterile texture of administrative documents. In this fleeting moment, when its consciousness desperately craved a source of pristine oxygen to heal itself, nó peeled open the pages of Toshikazu Kawaguchi.

The setting of the book is never grandiose like those million-dollar master plans; it is merely a tiny café named Donna Donna nestled in Hakodate. There, sits a solitary chair governed by a cold, uncompromising rule, acting as rigid as the cosmic law of cause and effect: you may journey back to the past to meet the one you love, but no matter what you do, reality will absolutely never change. And the most critical directive of all: you must drink your cup of coffee to the very last drop before it grows cold, unless you wish to morph into a phantom, forever imprisoned within the hollow, silent void.

Kawaguchi gently guides the reader through four distinct narratives of four weary souls dragging their tattered, broken wounds behind them: a daughter harboring deep resentment for the father who abandoned her, a comedian denied a final farewell to his kindred spirit, a older sister drowning in guilt following her sibling's demise, and a youth staring down the barrel of a terminal illness.

Kawaguchi’s prose is deliberate and minimalist, yet it harbors a colossal reservoir of empathy (Omoiyari). The book features no violent, engineered climaxes; it behaves exactly like a drip-filter coffee, dropping steadily, bead by bead, into the deepest recesses of the reader’s heart.

That exact rhythm dragged its thoughts back to its family, back to the children. Nó cross-examined itself: was it becoming far too consumed by the predatory, utilitarian world out there to even listen to the heartbeat of its own children? Human memory, much like the damp, raw smell of young mud after a summer monsoon, can easily dissolve across time if it is not nourished daily by genuine kindness. Were those children back in the homeland capable of listening to the breath of nature at this very second? Would that sacred memory be carried along, or would it fade entirely with the rolling years ahead?

Nó closed Kawaguchi’s book just as the shroud of night completely consumed the city. The youth in the office had all departed, leaving nó entirely alone with its own quiet pocket of contemplation.

Reading “Before Your Memory Fades” does not drown nó in pathetic melancholy; on the contrary, it flattens the turbulence within its chest. Nó comprehends that one does not need to wait until everything is lost to abruptly scramble for a path backward. Nó must act right now, in this raw reality. Nó will return home, deliberately sit down by the dinner table, drain the coffee cup of the present moment, and warm the souls of the ones it holds dear, while the crepuscular glow (ráng chiều) of life is still not yet too late.

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2026

[Sách] Khi lời tạ từ còn chưa kịp nói - Toshikazu Kawaguchi

 

"Rồi mọi chuyện cũng sẽ qua, để em nhận ra mình rực rỡ"

Nó ngắm nhìn lại, những nhân vật của Kawaguchi, một nhà biên kịch, đang chìm đắm trong các câu chuyện của mình trong quán cafe nhỏ ở một góc Tokyo.

Mỗi câu chuyện là một màn kịch nhỏ, nơi các nhân vật phải đối diện với "Hợp đồng tâm lý" của chính mình trước khi tách cà phê nguội.

Quyển 1: Khi Tách Cà Phê Còn Chưa Nguội

Đây là chương mở đầu của lòng trắc ẩn, nơi các nhân vật học cách làm phẳng trang giấy đời mình.

  • Fumiko và Goro: Fumiko quay về để ngỏ lời với chàng trai Goro trước khi anh đi Mỹ. Cô nhận ra sự "ngông nghênh" đã ngăn mình nói lời yêu thương chân thật.

  • Kotake và Fusagi: Người vợ y tá Kotake quay về gặp chồng mình, ông Fusagi, để nhận lá thư ông viết trước khi căn bệnh Alzheimer xóa sạch hình bóng bà trong tâm trí ông.

  • Hirai và Kumi: Hirai, cô gái ham chơi bỏ nhà đi, quay về gặp em gái Kumi—người đã qua đời trong một tai nạn—để xin lỗi vì đã để em gánh vác việc gia đình một mình.

  • Kei và Miki: Kei, chủ quán có trái tim yếu ớt, đã du hành đến tương lai để gặp con gái Miki, người mà cô biết mình sẽ phải hy sinh tính mạng để sinh ra.

Quyển 2: Khi Yêu Thương Còn Chưa Quên Lãng

Tập này soi tỏ về sự "thấu thị", nơi những người đàn ông cũng bắt đầu bộc lộ sự yếu mềm và chân thành.

  • Gotalo: Một người đàn ông quay về để gặp người bạn quá cố đã chăm sóc con gái mình.

  • Katsuki: Chàng trai quay về để gặp người mẹ đã khuất, mong tìm lại sự cứu rỗi cho tâm hồn đang chất đầy hối tiếc.

  • Kurasuda: Một người đàn ông muốn gặp lại người vợ đã mất để nói một lời cảm ơn mà khi xưa sự im lặng đã tiêu trừ mất cơ hội.

  • Kiyoshi: Người con quay về để nói lời tri ân với người cha nghiêm khắc của mình.

Quyển 3: Khi Tình Yêu Còn Chưa Ngỏ Lời

Tập này tập trung vào sự trì hoãn, nơi những người xa lạ trong cùng một ký ức tìm cách chạm vào nhau.

  • Yayoi: Cô gái muốn gặp lại cha mẹ đã qua đời để hỏi về một sự thật mà cô hằng thắc mắc.

  • Todoroki: Chàng trai không dám ngỏ lời với người bạn đời tiềm năng của mình, để rồi phải nhờ đến chiếc ghế thần kỳ để phá vỡ sự hèn nhát.

  • Reiko: Người phụ nữ muốn quay về gặp lại chị gái để hóa giải những đứt gãy tình cảm đã kéo dài nhiều năm.

  • Reiji: Chàng trai trẻ quay về gặp cô gái mình thầm yêu để ngỏ lời trước khi quá muộn.

"Dẫu thế giới chẳng dành cho tình yêu thương, thì lời tạ từ chính là cách chúng ta tự tạo ra nó, để người ra đi được nhẹ lòng và người ở lại được bình an."

Quyển 4: Khi Lời Tạ Từ Còn Chưa Kịp Nói

Như một lời kết của một series, tập phim về sự vĩnh hằng, nơi lời tạ từ trở thành sức mạnh để người ở lại tiếp tục xê dịch trên sóng nước cuộc đời. Họ cần phải sống ở hiện tại và tiến về phía trước.

  • Kadokura: Người chồng muốn quay về nói lời cảm ơn vợ vì đã bên mình đến phút cuối.

  • Sunao: Một người đàn ông muốn quay về gặp lại chú chó cưng của mình để nói lời tạ từ

  • Hikari: Người phụ nữ muốn quay về gặp lại người cầu hôn mình năm xưa để nói một lời khước từ nhưng đầy trân trọng.

  • Michiko: Người con gái quay về để nghe lời tạ từ của người cha trước khi ông nhắm mắt.

Kawaguchi chia sẻ rằng ông tạo ra quán cà phê Funiculi Funicula không phải để cổ xúy cho việc thay đổi quá khứ. Ngược lại, quy tắc "Thực tại không đổi" là cốt lõi của tác phẩm. Ông muốn gửi gắm rằng:

"Dù bạn có quay về quá khứ và nói hàng ngàn lời, người chết không sống lại, người đi không quay về. Nhưng khi bạn bước ra khỏi chiếc ghế, tâm hồn bạn đã được 'ủi phẳng'. Bạn không còn là nạn nhân của quá khứ, mà là chủ nhân của hiện tại."

Nó cảm giác như, Ông xây dựng nhân vật Người đàn bà mặc váy trắng (Hồn ma) ngồi trên chiếc ghế cố định như để đưa mình vào đấy, ngồi cạnh nó và gửi một lời cảnh báo: Nếu cứ mải mê sống trong hối tiếc (không uống hết cà phê trước khi nguội), bạn sẽ trở thành một bóng ma vật vờ, không thể hiện diện tỉnh thức cho những người dấu yêu. 

Nhìn vào danh sách những Fumiko, Kotake, hay Kadokura, nó thấy đó là bản đồ của những nỗi đau Sapiens. Nhưng nhờ có tách cà phê của Kawaguchi, những nỗi đau ấy đã được "soi tỏ".

Nó rời quán, mang theo lời nhắn của Kawaguchi về một cuộc sống cần được yêu thương, cứ mạnh dạn nói ra những điều mình muốn nói. Nó sẽ không để chúng trở thành những cái tên trong danh sách hối tiếc của Kawaguchi. Lời ngỏ lời hay lời tạ từ, đều cần được thốt ra khi tách cà phê đời người vẫn còn đang bốc khói.

***



It (the character) gazes back once more at the characters of Kawaguchi, a playwright, as they immerse themselves in their stories within that tiny café at a corner of Tokyo. Each story is a miniature play where the characters must confront their own "Psychological Contract" before the coffee gets cold.

Book 1: Before the Coffee Gets Cold This is the opening chapter of compassion, where characters learn to smooth out the crumpled pages of their lives.

  • Fumiko and Goro: Fumiko returns to speak her heart to Goro before he leaves for America. She realizes her "brashness" had prevented her from expressing true love.

  • Kotake and Fusagi: Kotake, a nurse, returns to meet her husband, Mr. Fusagi, to receive the letter he wrote before Alzheimer’s erased her image from his mind.

  • Hirai and Kumi: Hirai, the free-spirited girl who ran away, returns to meet her sister Kumi—who died in an accident—to apologize for leaving her to shoulder the family burdens alone.

  • Kei and Miki: Kei, the proprietor with a frail heart, travels to the future to meet her daughter Miki, whom she knows she will sacrifice her life to bring into the world.

Book 2: Tales from the Cafe This volume illuminates "clairvoyance," where men also begin to reveal their vulnerability and sincerity.

  • Gotalo: A man returns to meet a deceased friend who had cared for his daughter.

  • Katsuki: A young man returns to meet his late mother, hoping to find salvation for a soul burdened with regret.

  • Kurasuda: A man wishes to see his deceased wife to say a word of thanks that silence had once diminished the opportunity to say.

  • Kiyoshi: A son returns to offer words of gratitude to his stern father.

Book 3: Before Your Memory Fades This volume focuses on procrastination, where strangers within the same memory seek to touch one another.

  • Yayoi: A girl wishes to see her deceased parents to ask about a truth she has long wondered about.

  • Todoroki: A young man who lacked the courage to confess to his potential partner, finally using the magical chair to shatter his cowardice.

  • Reiko: A woman wishes to return to meet her sister to heal the emotional ruptures that have lasted for years.

  • Reiji: A young man returns to the girl he secretly loves to speak his heart before it’s too late.

Book 4: Say Goodbye Before the Coffee Gets Cold Like the finale of a series, this volume is about eternity, where a farewell becomes the strength for those left behind to continue drifting upon the waves of life. They must live in the present and move forward.

  • Kadokura: A husband wishes to return to thank his wife for staying by his side until the very end.

  • Sunao: A man wishes to return to see his beloved dog to say a final farewell.

  • Hikari: A woman wishes to meet her former suitor to offer a refusal, but one filled with respect.

  • Michiko: A daughter returns to hear her father’s final farewell before he closes his eyes.

Kawaguchi shared that he created the Funiculi Funicula café not to advocate for changing the past. On the contrary, the rule "Reality does not change" is the core of the work. He wants to convey that:

"Even if you return to the past and say a thousand words, the dead do not come back to life, and those who left do not return. But when you step off that chair, your soul has been 'ironed flat.' You are no longer a victim of the past, but the master of your present."

It feels as though he built the character of the Woman in the White Dress (the Ghost) sitting in that fixed chair to place itself there, sitting right beside it, sending a warning: If you are too preoccupied with living in regret (not finishing the coffee before it gets cold), you will become a wandering ghost, unable to be mindfully present for your loved ones.

Looking at the list of people like Fumiko, Kotake, or Kadokura, it sees a map of Sapiens' pain. But thanks to Kawaguchi’s cup of coffee, those pains have been "illuminated."

It leaves the café, carrying Kawaguchi’s message about a life that needs to be loved—to boldly say the things one wishes to say. It will not let its loved ones become names on Kawaguchi's list of regrets. Whether an opening word or a final farewell, both must be uttered while the coffee of one’s life is still steaming

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2026

[Sách] Khi tình yêu còn chưa ngỏ lời - Toshikazu Kawaguchi


"Sự ngông nghênh của chúng ta đôi khi không nằm ở sự kiêu ngạo, mà nằm ở việc ta tưởng mình có thể kiểm soát được thời gian để trì hoãn sự chân thật."

Nó tiếp tục ngồi lại quán cafe. Lắng nghe nhân vật đầu tiên dắt nó vào chuỗi sự kiện này là một gã Sapiens đầy mâu thuẫn. Anh ta yêu cô bạn thân nhất của mình suốt bao nhiêu năm, nhưng lại chọn cách trú ẩn trong một "vùng trắng" của tình bạn để tránh khỏi rủi ro bị từ chối. Anh ta đứng nhìn cô bước vào những mối quan hệ khác, nhìn cô hạnh phúc rồi đau khổ, mà vẫn giữ cho mình một bộ mặt "vô can".

Khi cô gái quyết định rời đi mãi mãi, gã mới hốt hoảng tìm đến chiếc ghế của quán Funiculi Funicula. Anh quay về không phải để cầu xin một đám cưới, mà để phá vỡ cái "lồng kính" của sự hèn nhát.

Như Louki trong quán cafe của tuổi trẻ lạc lối. Chúng ta thường yêu cái "phần bí ẩn" của người khác nhưng lại quá sợ hãi để phô bày phần bí ẩn của chính mình. Khi chàng trai ngỏ lời lúc tách cà phê còn bốc khói, dù thực tại không đổi, anh đã cứu rỗi chính mình khỏi kiếp sống của một "hồn ma" hối tiếc.

Lắng nghe câu chuyện thứ hai về tình phụ tử. Một người cha luôn tỏ ra nghiêm khắc, đã qua đời mà không kịp để lại một lời nhắn nhủ nào cho đứa con trai vốn luôn xa cách. Người con quay về quá khứ, ngồi vào chiếc ghế cũ để tìm kiếm lại yêu thương. Vỡ ào.

Tại quán, anh nhận ra cha mình đã từng ngồi đúng chiếc ghế đó, chuẩn bị một lời ngỏ mà ông đã trì hoãn suốt cả đời. 

Một nhân vật khác là người phụ nữ luôn sống trong mặc cảm lỗi lầm với một người bạn cũ—người mà cô đã vô tình làm tổn thương bởi một sự ngông nghênh thời trẻ. Cô quay về quá khứ không phải để thay đổi sự kiện, mà để "ngỏ lời" xin lỗi.

Kawaguchi soi tỏ một thực tế cay đắng: Chúng ta thường dễ dàng ngỏ lời với người lạ, nhưng lại vô cùng khó khăn để chân thật với những người từng thân thuộc. Sự tách biệt khiến họ trở thành "người lạ" chung một ký ức nhưng khác một hành trình.

"Mọi tình yêu, và cả sự tự trọng, đều được chạm khắc từ những mất mát... nhưng sự tha thứ chỉ đến khi ta can đảm đối diện với thớ giấy đã rách của chính mình."

Tập truyện "Khi tình yêu còn chưa ngỏ lời" của Toshikazu Kawaguchi là một điểm chạm lạnh lẽo về sự trì hoãn. Các nhân vật sau khi rời khỏi chiếc ghế, dù thực tại vẫn nghiệt ngã, nhưng bước chân họ đã phẳng lại. Họ không còn là những bóng hình đơn độc trên dòng sông đời.

"Dẫu thế giới chẳng dành cho tình yêu thương, thì ta vẫn phải tự tạo ra nó bằng cách không bao giờ để lời ngỏ bị lãng quên trong tách cà phê đã nguội."


 "Our brashness sometimes lies not in arrogance, but in the illusion that we can control time to delay our own truthfulness."

It (the character) continues to sit in the café. It listens to the first character who leads it into this sequence of events—a Sapiens full of contradictions. He has loved his best friend for so many years, yet chose to take refuge in a "white space" of friendship to avoid the risk of rejection. He stood by, watching her enter other relationships, seeing her happy and then suffering, while maintaining a facade of "indifference."

Only when the girl decides to leave forever does he frantically seek the chair at Funiculi Funicula. He returns not to beg for a wedding, but to shatter the "glass cage" of his own cowardice.

Like Louki in the Café of Lost Youth. We often love the "mysterious part" of others but are too terrified to reveal our own mystery. When the young man finally speaks his heart while the coffee is still steaming, even though reality remains unchanged, he has redeemed himself from the life of a "ghost" haunted by regret.

It listens to the second story about paternal love. A father, who always appeared stern, passed away without having the chance to leave a single message for his son, from whom he was always distant. The son returns to the past, sitting in that old chair to search for love once more. A sudden outburst of emotion.

At the café, he realizes his father had once sat in that very chair, preparing an opening word that he had delayed for an entire lifetime.

Another character is a woman living in the guilt of a mistake made with an old friend—someone she unintentionally hurt through the brashness of her youth. She returns to the past not to change the event, but to "speak" her apology.

Kawaguchi illuminates a bitter reality: We often find it easy to open our hearts to strangers, yet find it incredibly difficult to be truthful with those once familiar. The separation turns them into "strangers" sharing a memory but traveling on different journeys.

"All love, and all self-respect, are carved from losses... but forgiveness only comes when we are brave enough to face the torn fibers of our own paper."

Toshikazu Kawaguchi’s collection, "When Love Has Not Yet Been Spoken," is a cold point of contact regarding procrastination. After leaving the chair, though reality remains harsh, the footsteps of the characters have flattened out. They are no longer solitary shadows on the river of life.

"Even if the world is not meant for love, we must still create it ourselves by never letting our words be forgotten in a cup of coffee that has already gone cold."

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2026

[Sách] Xứ Tuyết - Kawabata Yasunari


"Tàu ra khỏi đường hầm dài, đã tới Xứ Tuyết. Đêm bắt đầu trở nên trắng xóa."

Nó bước xuống sân ga, cảm nhận cái không khí lạnh toát của tuyết lùa vào phổi, nhìn những cành cây trơ lá vì bị tuyết phủ dày một màu trắng lịm. Trong cái nền tĩnh mịch và giá băng ấy, đôi má ửng hồng của Komako hiện lên như một đốm lửa đơn độc. Cô nở một nụ cười bí hiểm, run rẩy và nồng cháy, một nụ cười như thể đang giấu giếm điều gì đó, sợ ai đó nhìn thấy cái khao khát mãnh liệt đang cuộn chảy bên dưới lớp băng tuyết của thân phận Geisha.

Cái nồng nàn của Komako và cái hư ảo lạnh lẽo của Xứ Tuyết tạo nên một sự nghẹt thở kỳ lạ. Một bên là sự sống đang gào thét đòi được yêu thương, một bên là sự hư vô đang sẵn sàng nuốt chửng mọi nỗ lực

Nó lật mở những trang viết của Kawabata vào một đêm Sài Gòn vẫn còn vương chút hơi lạnh của những ngày đầu năm. Bước qua "đường hầm dài" trong tâm tưởng, nó bỗng thấy mình đứng giữa một vùng trắng xóa của vùng Echigo. Ở đó, cái đẹp không rực rỡ như nắng xuân Cao thành, mà buốt giá và thanh khiết đến nao lòng.

Kawabata không kể một câu chuyện tình yêu thông thường; ông vẽ một bức tranh bằng cảm giác. Nhân vật Shimamura—một gã phong lưu trí thức—đến Xứ Tuyết để tìm kiếm một sự giải vây cho tâm hồn. Ở đó, gã gặp Komako, một nàng Geisha nồng cháy, và Yoko, một cô gái mang vẻ đẹp u sầu như tiếng vọng từ hư không.

"Cái đẹp là một thứ gì đó vô ích, nhưng chính sự vô ích ấy lại làm cho cuộc đời đáng sống hơn."

Nó ngồi nghe đàn. Kawabata đã đẩy cái đẹp đến tận cùng của sự vô ích. Mọi nỗ lực của Komako, từ việc tập đàn shamisen hàng giờ giữa đêm lạnh đến việc yêu Shimamura một cách dại khờ, đều bị Shimamura coi là "toàn bộ nỗ lực uổng công". Nhưng chính trong sự uổng công ấy, phẩm giá của cái đẹp mới thực sự tỏa sáng.

Cái đẹp ở đây mang đậm sắc thái Yūgen (U huyền)—một vẻ đẹp sâu thẳm, mong manh và ẩn ức. Nó không phải là vẻ đẹp phô trương dưới ánh nắng, mà là vẻ đẹp hiện lên trong ánh sáng mờ ảo của tấm gương phản chiếu gương mặt Yoko trên cửa sổ tàu hỏa. Một vẻ đẹp khiến người ta phải nín thở vì sợ rằng chỉ cần một ý niệm thực dụng nhỏ nhoi thôi cũng đủ làm nó tan biến.

Hình ảnh đôi mắt của Yoko hiện lên trên tấm kính cửa sổ tàu hỏa, hòa lẫn với phong cảnh tuyết trôi qua ngoài kia, là một trong những ẩn dụ đắt giá nhất về sự "phiêu lãng".

"Cảnh vật chuyển động ở phía xa, còn đôi mắt ấy dường như đứng yên, tạo nên một vẻ đẹp buồn bã đến nghẹt thở."

Đứng giữa Xứ Tuyết, người ta không còn tìm cách "giải quyết" nỗi buồn. Họ học cách chiêm ngưỡng nó. Nỗi buồn ở đây sạch sẽ và tinh khiết như tuyết đầu mùa. Nó giúp con người ta tách biệt khỏi những thuật toán của cuộc đời để trở về với bản ngã nguyên sơ nhất.

Nó nhìn dòng người ngoài kia, rồi lại nhìn vào trang sách, nhận ra rằng đôi khi chúng ta cần một "đường hầm dài" cho riêng mình. Để thấy rằng, dù đời là uổng công, dù tuyết rồi sẽ tan, thì khoảnh khắc đôi má ai đó ửng hồng giữa trời đông vẫn là một sự hiện diện không thể chối từ.

Đọc Xứ Tuyết là để học cách chấp nhận rằng cái đẹp nhất chính là cái sắp biến mất. Sự tàn phai không phải là bi kịch, mà là bản chất của sự tồn tại.

"Khi tuyết tan, mặt đất sẽ lộ ra sự trần trụi, nhưng chính những ngày tuyết phủ đã nuôi dưỡng một tâm hồn biết rung động trước cái mong manh."

"Xứ Tuyết" không chỉ là một tác phẩm văn chương; nó là một nghi lễ của thị giác và cảm xúc. Kawabata nhắc nhở chúng ta rằng: Giữa một thế giới rầm rầm tiếng máy móc, việc giữ cho mình một "Xứ Tuyết" trong lòng—nơi cái đẹp và sự tử tế vẫn lặng lẽ nở hoa—là điều vô cùng cần thiết.

***

"The train came out of the long tunnel into the snow country. The earth lay white under the night sky."

It (the character) stepped down onto the station platform, feeling the biting cold of the snow rushing into its lungs, watching the leafless branches buried under a deathly white shroud of snow. Against that backdrop of stillness and ice, Komako’s flushed cheeks appeared like a solitary flame. She offered a mysterious smile, one that was both trembling and passionate—a smile that seemed to be hiding something, fearful that someone might glimpse the intense longing flowing beneath the icy surface of her life as a Geisha.

Komako’s fervor and the frigid illusion of the Snow Country created a strange sense of suffocation. On one side was life screaming to be loved; on the other was a void ready to swallow every effort.

It flipped through Kawabata’s pages on a Saigon night still lingering with the slight chill of the year’s early days. Passing through the "long tunnel" of its mind, it suddenly found itself standing in the vast whiteness of the Echigo region. There, beauty was not radiant like the spring sun of Cao Thanh, but freezing and pure enough to ache the heart. Kawabata does not tell a conventional love story; he paints a picture with sensations. Shimamura—a dandyish intellectual—comes to the Snow Country seeking a release for his soul. There, he encounters Komako, a passionate Geisha, and Yoko, a girl possessed of a melancholy beauty like an echo from the void.

"Beauty is something useless, but it is that very uselessness that makes life worth living."

It sat listening to the music. Kawabata pushed beauty to the absolute edge of futility. Every effort of Komako’s, from practicing the shamisen for hours in the freezing night to loving Shimamura so foolishly, was dismissed by him as "wasted effort." Yet, it is precisely within that futility that the dignity of beauty truly shines.

The beauty here is steeped in Yūgen (the Profound and Mysterious)—a beauty that is deep, fragile, and repressed. It is not a beauty that flaunts itself under the sun, but one that emerges in the dim light of a mirror reflecting Yoko’s face on the train window. A beauty that makes one hold their breath for fear that even the smallest pragmatic thought would cause it to vanish. The image of Yoko’s eyes appearing on the train window, merging with the snow-covered landscape passing by outside, is one of the most exquisite metaphors for "wandering."

"The mountains at the far end of the plain moved, but those eyes seemed to stand still, creating a beauty that was breathtakingly sad."

Standing in the midst of the Snow Country, people no longer seek to "resolve" their sadness. They learn to admire it. Sadness here is clean and pure like the season’s first snow. It helps one separate themselves from the algorithms of life to return to their most primitive self.

It looked at the crowd outside, then back at the book, realizing that sometimes we all need a "long tunnel" of our own. To see that even if life is a wasted effort, even if the snow will eventually melt, the moment of someone’s cheeks flushing crimson in the winter remains an undeniable presence. To read Snow Country is to learn to accept that the most beautiful things are those about to disappear. Decay is not a tragedy; it is the essence of existence.

"When the snow melts, the earth will be exposed in its nakedness, but it is the snow-covered days that have nurtured a soul capable of vibrating before the fragile."

"Snow Country" is not merely a work of literature; it is a ritual of vision and emotion. Kawabata reminds us that: amidst a world roaring with the sound of machinery, keeping a "Snow Country" within our hearts—where beauty and kindness still quietly bloom—is an absolute necessity.

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2026

[Sách] Những đứa trẻ bị bỏ quên - Nobody Knows - Shelley Tanaka

"Mẹ nói mẹ muốn tìm hạnh phúc. Vậy còn chúng con thì sao? Chẳng lẽ chúng con không nằm trong hạnh phúc của mẹ?"
Nghẹt thở. Cuốn sách không chỉ là một câu chuyện; nó là một trải nghiệm nghẹt thở. Đó là cảm giác xâm chiếm lấy tâm trí khi ta dõi theo bước chân của bốn đứa trẻ trong vỏn vẹn một căn hộ – nơi vốn dĩ phải là tổ ấm, nhưng lại biến thành một "chiếc hộp" chôn chặt những thiên thần sa xuống trần gian.

Nếu M. Scott Peck gọi sự lười biếng tâm linh là cội rễ của cái ác, thì "Những đứa trẻ bị bỏ quên" của Shelley Tanaka chính là bản cáo trạng sống động và đau đớn nhất cho lý thuyết đó. 

Căn hộ nhỏ giữa lòng Tokyo hoa lệ hiện lên như một quan tài cho sự sống. Tại đây, bốn anh em cùng mẹ khác cha bị giam lỏng, không phải bằng xiềng xích, mà bằng sự chối bỏ của người mẹ và sự vô cảm của xã hội. Chúng như những thiên thần bị đọa đày, sinh tồn trong một không gian chật hẹp, để rồi một trong số chúng cũng ra đi mãi mãi ngay trong chính chiếc hộp ấy.

Sự tồn tại của chúng bị gạt qua một lề của cuộc sống, bị tước đoạt quyền được nhìn thấy, được nghe thấy và được công nhận là "con người".

Khi con người bỏ quên "căn tính" dưới danh nghĩa sự vô tình

Cuốn sách phơi bày một trần gian biến đổi, nơi con người – dù vô tình hay cố tình – đã đánh mất đi căn tính (identity) và lòng trắc ẩn của mình. Người ta thường gán cho mọi sự bi thương hai chữ "vô tình" để vỗ về lương tâm, để cảm thấy bớt tội lỗi trước những số phận bị bỏ rơi.

Nhưng qua ống kính của sự phó mặc, ta thấy đó không phải là vô tình. Đó là sự lười biếng đạo đức khi chọn cách không nhìn, không nghe và không can thiệp. Người mẹ xinh đẹp luôn cười nói ấy đã "phó mặc" linh hồn các con mình cho định mệnh, để bà ta được tự do trong sự dối trá về một hạnh phúc riêng tư.

"Thế giới bên ngoài kia rộng lớn và ồn ào, nhưng trong căn phòng này, thời gian như ngừng trôi. Chúng nó học cách bước đi khẽ khàng, học cách cười không ra tiếng, học cách biến mất ngay cả khi đang tồn tại."

Một hành trình ngược: Từ hiện thực đến màn ảnh và trang sách

Khác với xu hướng thông thường, câu chuyện này đi một hành trình ngược đầy ám ảnh: từ một sự kiện có thật rúng động tại Nhật Bản, chuyển thể thành bộ phim kinh điển của Hirokazu Kore-eda, rồi mới được Shelley Tanaka viết lại thành sách.

Chính hành trình ngược này càng làm bóp nghẹt con tim rung động của người đọc. Sự thống khiết và khó thở trào dâng khi ta không còn là một độc giả đứng ngoài, mà như đang ngồi cạnh những đứa trẻ, quan sát cảnh anh em chúng đùm bọc, nương tựa vào nhau giữa cơn đói khát và sự cô độc cùng cực.

Akira - Sự trưởng thành giữa lằn ranh sinh tử

Trái ngược với sự lười biếng của người lớn, Akira (12 tuổi) hiện lên với một nỗ lực phi thường. Cậu bé gánh trên vai cả một nền văn minh nhỏ bé trong căn hộp chật hẹp. Hình ảnh Akira mẫn mê tính toán từng đồng yên lẻ hay dỗ dành các em gợi lên một sự bùi ngùi khó tả.

"Sự im lặng không phải lúc nào cũng là bình yên. Đôi khi, im lặng là tiếng thét của những đứa trẻ đã hiểu rằng sẽ chẳng có ai đến cứu mình."

Đọc cuốn sách này sau khi đi qua những trang viết của M. Scott Peck về "Tính bản ác", ta hiểu rằng cái ác không nhất thiết phải là bạo lực máu me. Cái ác đôi khi chỉ là sự "vắng mặt".

***



"Mom said she wanted to find happiness. But what about us? Are we not part of your happiness?"

Suffocating. This book is not just a story; it is a suffocating experience. It is the feeling that seizes the mind as we follow the footsteps of four children within the confines of a single apartment—a place that should have been a sanctuary, but instead turned into a "box" burying angels fallen to earth. If M. Scott Peck calls spiritual laziness the root of evil, then Shelley Tanaka’s "Nobody Knows" is the most vivid and agonizing indictment of that theory.

The small apartment in the heart of magnificent Tokyo emerges as a coffin for life. Here, four half-siblings are confined—not by chains, but by a mother’s rejection and society’s indifference. They are like tormented angels surviving in a cramped space, until one of them departs forever within that very box. Their existence is pushed to the margins of life, stripped of the right to be seen, heard, and recognized as "human."

When Humanity Forgets "Identity" Under the Guise of Carelessness The book exposes a transforming world where humans—whether accidentally or intentionally—have lost their identity and compassion. People often label every tragedy with the word "accidental" to soothe their conscience, to feel less guilty before those who have been abandoned.

But through the lens of negligence, we see it is not accidental. It is moral laziness choosing not to look, not to hear, and not to intervene. The beautiful, ever-smiling mother "delegated" her children's souls to destiny, so she could be free in the lie of her private happiness.

"The world outside is vast and noisy, but in this room, time seems to stand still. They learn to walk softly, learn to laugh without a sound, learn to disappear even while existing."

A Reverse Journey: From Reality to Screen and Page Unlike usual trends, this story follows a haunting reverse journey: from a shocking true event in Japan to Hirokazu Kore-eda’s classic film, and finally rewritten as a book by Shelley Tanaka. This reverse path only tightens the grip on the reader's heart. A surge of purity and breathlessness arises when we are no longer outside observers, but sitting beside these children, watching them protect and lean on one another amidst extreme hunger and loneliness.

Akira - Maturity at the Edge of Life and Death In contrast to the laziness of adults, 12-year-old Akira emerges with extraordinary effort. The boy carries a tiny civilization on his shoulders within that cramped box. The image of Akira meticulously calculating every small Yen or comforting his siblings evokes an indescribable poignancy.

"Silence is not always peace. Sometimes, silence is the scream of children who have realized that no one is coming to save them."

Reading this book after passing through M. Scott Peck’s writings on "People of the Lie," we understand that evil does not have to be bloody violence. Evil, sometimes, is simply "absence."

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

[Sách] Kanji + Kanji Hiện Đại - Sasahara Hiroyuki


  • “Lịch sử có thể thay đổi tên đường, con tàu có thể mang tên kẻ xâm lược, nhưng linh hồn của một dân tộc sẽ luôn trường tồn trong những nét chữ mà họ đã dùng cả nghìn năm để bồi đắp.”

Nếu xem ngôn ngữ là một cơ thể sống, thì Kanji (chữ Hán) chính là bộ xương và huyết mạch của văn hóa Nhật Bản. Sasahara Hiroyuki, vị giáo sư hàng đầu về Kanji, đã mang đến một "cuộc phẫu thuật" đầy tinh tế và sâu sắc qua bộ đôi tác phẩm này. Thay vì dạy bạn cách viết sao cho đúng, ông dạy bạn cách thấu hiểu tại sao một nét gạch lại mang trong mình cả một triết lý nhân sinh.

Nó tự nhận mình là một gã có phần "nghiện" ngôn ngữ. Với nó, sức hút mạnh mẽ nhất không đến từ những thuật toán khô khan, mà đến từ sự phát triển của con người thông qua những con chữ. Khi lần tìm về những vết tích xưa cũ trong những câu chuyện kể, nó thường tự hỏi: Nếu không có ngôn ngữ, liệu con người có thể dệt nên những giai thoại hay, truyền đời đến tận lúc này hay không? Hay tất cả sẽ chỉ là những khoảng lặng vô hình bị thời gian vùi lấp?

Trong tâm khảm, nó thấy mình cũng chỉ là kẻ nhặt nhạnh từng mảnh từ ngữ để chép lại. Nó giống như hành trình của một ông già lụm khụm, đi sau bóng dáng của những đứa "con" mình (những thế hệ sinh viên, những cô chú nhóc từng đi qua đời nó đến cả những thiên thần đến mái nhà con), lượm lặt những từ ngữ ngô nghê nhưng đầy sức sống của chúng để ghi và chép lại thành một cuốn nhật ký của sự tiếp nối.

  • “Kanji tại Nhật Bản không phải là một món đồ mượn tạm. Nó là một thực thể đã được tái sinh thông qua lăng kính của người Nhật, nơi mỗi nét chữ mới đều mang đậm dấu ấn của sự tự chủ và lòng tự tôn dân tộc.”

Một trong những điểm độc đáo nhất mà Sasahara Hiroyuki nhấn mạnh là sự sáng tạo của người Nhật qua Wasei Kanji (Hán tự do người Nhật tự tạo). Người Nhật không chỉ tiếp nhận văn hóa từ lục địa một cách thụ động, họ đã "Nhật hóa" nó, tạo ra những chữ như Tōge (Đèo), Hataraku (Làm việc) để phản ánh đúng tâm hồn và phong cảnh của xứ sở Phù Tang.

Trong cuốn "Kanji Hiện Đại", tác giả mổ xẻ một thực tại đầy thú vị: Cách chúng ta gõ phím đang thay đổi cách chúng ta nhớ chữ. Giống như nỗi sợ thất bại của nó khi đối mặt với công nghệ, Kanji cũng đang đứng trước ngưỡng rủi ro bị "phẳng hóa". Tuy nhiên, Sasahara lại mang đến một cái nhìn lạc quan. Ông chỉ ra rằng công nghệ không tiêu diệt Kanji, nó chỉ đang tạo ra một hình thái tồn tại mới—nơi các biểu tượng (Emoji) và Kanji cộng hưởng với nhau để tạo nên một ngôn ngữ biểu cảm mạnh mẽ hơn.

  • “Thế giới có thể thay đổi từ giấy bút sang màn hình điện tử, nhưng nhu cầu được biểu đạt cảm xúc thông qua hình ảnh và biểu tượng là bất biến. Kanji hiện đại không chết đi, nó chỉ đang chuyển mình để phù hợp với nhịp đập của thời đại mới.”

Kết nối với triết lý của Carl Jung về Thăm dò tiềm thức, mỗi chữ Kanji có thể coi là một "nguyên mẫu" (archetype). Khi ta nhìn vào chữ Nhân (Người), ta không chỉ thấy hai nét gạch, mà thấy sự nương tựa vào nhau. Khi ta học chữ Tâm (Tim), ta đang chạm vào phần sâu thẳm nhất của bản thể.

“Học Kanji là một hành trình đi ngược dòng thời gian để tìm về nguồn cội, đồng thời là một bước nhảy phi tuyến tính để thấu hiểu tương lai. Kẻ làm chủ được biểu tượng là kẻ làm chủ được dòng chảy của tư duy.”

Bộ đôi sách của Sasahara Hiroyuki là một tác phẩm tầm vóc và đầy cảm hứng. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, dù công nghệ AI có thể thay ta tính toán mọi khối lượng vật liệu hay viết code, thì "cảm giác" về vẻ đẹp của một nét chữ vẫn là đặc quyền duy nhất của con người.

***

"History may change street names, ships may bear the names of invaders, but the soul of a nation will forever endure within the characters they have spent a thousand years to cultivate."

If language is viewed as a living organism, then Kanji is the skeleton and lifeblood of Japanese culture. Sasahara Hiroyuki, a leading professor on Kanji, provides a subtle and profound "surgery" through this duo of works. Instead of merely teaching you how to write correctly, he teaches you how to understand why a single stroke carries an entire philosophy of life.

It (the character) admits to being somewhat of a "language addict." For it, the strongest attraction does not come from parched algorithms, but from human evolution through words. While tracing old vestiges in stories, it often wonders: without language, could humanity weave such grand legends that endure through generations? Or would everything just be invisible silences buried by time?

In its heart, it sees itself merely as a scavenger, picking up fragments of words to record them. It is like the journey of a hunched old man, walking behind the shadows of his "children"—the generations of students, the young souls who crossed his path, down to the angels in his own home—gathering their innocent yet vibrant words to write into a diary of continuity.

"Kanji in Japan is not a borrowed item. It is an entity reborn through the Japanese lens, where every new stroke bears the deep mark of autonomy and national pride."

One of the most unique points emphasized by Sasahara Hiroyuki is Japanese creativity through Wasei Kanji (Kanji made in Japan). The Japanese did not passively receive culture from the continent; they "Japanized" it, creating characters like Tōge (Mountain Pass) or Hataraku (To Work) to accurately reflect the soul and landscape of the Land of the Rising Sun.

In "Modern Kanji," the author dissects a fascinating reality: how our typing is changing how we remember characters. Much like its own fear of failure when facing technology, Kanji stands at the brink of being "flattened." However, Sasahara offers an optimistic view. He points out that technology does not destroy Kanji; it is merely creating a new form of existence—where symbols (Emoji) and Kanji resonate to create a more powerful language of expression.

"The world may shift from pen and paper to electronic screens, but the need to express emotions through images and symbols is immutable. Modern Kanji does not die; it is merely transforming to match the heartbeat of a new era."

Connecting with Carl Jung’s philosophy in "Man and His Symbols," each Kanji can be considered an "archetype." When we look at the character Ren (Person), we see more than two strokes; we see the act of leaning on one another. When we learn the character Shin (Heart/Mind), we are touching the deepest part of being.

"Learning Kanji is a journey upstream against time to find one’s roots, while simultaneously being a non-linear leap to understand the future. He who masters the symbol is he who masters the flow of thought."

Sasahara Hiroyuki’s duo of books is a stature-defining and inspiring work. It reminds us that while AI may calculate material volumes or write code for us, the "feeling" of the beauty within a stroke remains a uniquely human privilege.


Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2025

[Sách] Nhật Bản qua lăng kính của người Việt đầu thế kỷ XX - Nguyễn Mạnh Sơn

 

  • "Họ [người Nhật] đối đãi với ta như người bị mắc bệnh, cần được giúp đỡ, nhưng cuối cùng, lợi ích quốc gia của họ vẫn đặt trên hết." 

Ở một hiện tại, đám trẻ của nó đang cùng nhau diễn tập một tình huống giả định về một văn hóa giao tiếp, trong cái không khí se lạnh ngắn ngủi của Sài Gòn báo hiệu Giáng Sinh. Trong buổi hướng dẫn, đám trẻ và nó có dịp quay trở về lại với quá khứ để có thể gặp lại những con người của lịch sử từng tìm tòi đến đất nước mặt trời mọc trong một cuộc đời mong mỏi Đổi Mới – Duy Tân đó.

Cuộc hành trình tri thức này nhắc nhớ chúng ta về một hành trình của một đất nước, của những con người đã đấu tranh, tồn tại và dung hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa giữ gìn bản sắc và đổi mới từ tư duy cho đến những giá trị vật chất đến tinh thần.

"Nhật Bản qua lăng kính của người Việt đầu thế kỷ XX" không phải là một cuốn sách nghiên cứu lịch sử đơn thuần, mà là một tuyển tập độc đáo và quý giá, tập hợp các bài viết, ghi chép và hồi ký của các nhà Nho yêu nước và trí thức Việt Nam như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, và nhiều nhân vật khác. Giai đoạn đầu thế kỷ XX, Nhật Bản—với chiến thắng trước đế quốc Nga (1905) và công cuộc Minh Trị Duy Tân thần tốc—đã trở thành một hình mẫu ánh sáng và niềm hy vọng lớn lao cho những người Việt đang khao khát thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp.

Cuốn sách giúp người đọc tiếp cận tư duy thời đại, hiểu được lý do tại sao phong trào Đông Du lại phát triển mạnh mẽ, và giới tinh hoa Việt Nam đã nhìn nhận sự trỗi dậy của một cường quốc châu Á như thế nào.

Các bài viết trong sách phản ánh sự ngưỡng mộ sâu sắc của người Việt đối với Nhật Bản. Đó không chỉ là sự thán phục trước sức mạnh quân sự (ví dụ: chiến thắng Trận Tsushima), mà còn là sự tôn trọng đối với tinh thần dân tộc, kỷ luật, và khả năng tiếp thu văn minh phương Tây một cách có chọn lọc.

  • "Người Nhật Bản học phương Tây, nhưng không bắt chước thô thiển. Họ học cái tinh túy để làm giàu cho bản thân, chứ không phải để mất đi cái gốc của mình." 

Các nhà chí sĩ Việt Nam đã nhìn thấy ở Nhật Bản không chỉ là một quốc gia đồng văn hóa Á Đông, mà còn là một minh chứng sống cho thấy người da vàng hoàn toàn có thể đánh bại người da trắng, điều không tưởng dưới thời Pháp thuộc.

Cuốn sách trở nên có giá trị đặc biệt khi nó không chỉ dừng lại ở việc ca ngợi. Thay vào đó, nó là một sự đối chiếu đau đáu: Tại sao Nhật Bản thành công, còn Việt Nam lại suy yếu? .

Qua các ghi chép, người đọc thấy được sự tự vấn của các trí thức về những "căn bệnh" của dân tộc, như sự trì trệ của nền Nho học cũ, tâm lý an phận, và thiếu tinh thần đoàn kết. Những chuyến đi Nhật không chỉ là học hỏi kỹ thuật mà còn là tìm kiếm một phương thuốc cải cách chính trị và xã hội cho quê hương.

  • "Nhìn người Nhật hăng hái tiến lên, ta càng thấy hổ thẹn về sự chậm chạp, bạc nhược của giống nòi mình. Sự học không phải chỉ là để thi cử, mà là để cứu nước." 

Mặc dù chủ yếu là sự ngưỡng mộ, sách cũng không tránh khỏi những ghi chép về mặt trái và sự thất vọng. Khi Nhật Bản bắt đầu chịu áp lực từ Pháp và quay lưng lại với phong trào Đông Du (sau năm 1908), nhiều chí sĩ Việt Nam đã phải chứng kiến sự thay đổi thái độ của chính phủ và người dân Nhật.

"Nhật Bản qua lăng kính của người Việt đầu thế kỷ XX" là một cuốn sách cần thiết để hiểu rõ về tâm tư, hoài bão và bi kịch của tầng lớp trí thức Việt Nam trong giai đoạn giao thời phức tạp. Nó không chỉ cung cấp thông tin lịch sử mà còn là lời nhắc nhở về tinh thần tự lực, tự cường—bài học lớn nhất mà các chí sĩ đã mang về từ Nhật Bản. Đọc cuốn sách này là đọc lại chính mình trong lịch sử.

***



  • "They [the Japanese] treated us like sick people who needed help, but in the end, their national interest always came first."

In the present day, my students are collectively rehearsing a simulated scenario about communication culture, amidst the brief chill of Saigon signaling the arrival of Christmas. During this session, the students and I have the opportunity to travel back to the past, to encounter the historical figures who sought inspiration from the Land of the Rising Sun in a lifetime yearning for Renovation – Duy Tân.

This intellectual journey reminds us of the trajectory of a nation, of people who struggled, survived, and harmonized tradition and modernity, balancing the preservation of identity and innovation in both ideology and material and spiritual values.

"Japan through the Lens of Vietnamese Intellectuals in the Early 20th Century" is not a mere historical study; it is a unique and valuable anthology, compiling essays, notes, and memoirs by patriotic Confucian scholars and Vietnamese intellectuals such as Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, and many others. In the early 20th century, Japan—with its victory over Imperial Russia (1905) and its rapid Meiji Restoration—became a beacon of light and great hope for Vietnamese people yearning to escape French colonial rule.

The book helps readers access the mindset of the era, understanding why the Đông Du movement flourished and how the Vietnamese elite perceived the rise of an Asian power.

"They [the Japanese] treated us like sick people who needed help, but in the end, their national interest always came first." (Reflecting the bitter reality that international politics prioritized national interest, shattering the hope based on an "allied nation.")

The essays in the book reflect the deep admiration of the Vietnamese people for Japan. This was not just awe at military might (e.g., the Battle of Tsushima victory) but respect for their national spirit, discipline, and ability to selectively absorb Western civilization.

  • "The Japanese learned from the West, but did not crudely imitate. They learned the essence to enrich themselves, not to lose their own roots." 

Vietnamese patriots saw Japan not only as a fellow Asian nation with a shared culture but also as a living proof that "yellow people" could defeat "white people," an unthinkable notion under French rule.

The book gains particular value as it doesn't stop at mere praise. Instead, it offers a painful comparison: Why did Japan succeed while Vietnam was weakened?

Through the notes, readers observe the intellectuals' self-reflection on the nation's "illnesses," such as the stagnation of the old Confucian system, the mentality of settling for less, and the lack of solidarity. The trips to Japan were not just about technical learning but about finding a cure for political and social reform for the homeland.

  • "Seeing the Japanese eagerly forging ahead, we felt ashamed of the slowness and debility of our own race. Learning is not just for examinations, but for saving the country." 

Although admiration is the primary emotion, the book does not shy away from recording the dark side and disillusionment. When Japan started facing pressure from France and turned its back on the Đông Du movement (after 1908), many Vietnamese patriots witnessed the shift in attitude from the Japanese government and people.

"Japan through the Lens of Vietnamese Intellectuals in the Early 20th Century" is an essential book for understanding the feelings, aspirations, and tragedy of the Vietnamese intellectual class during a complex transitional period. It not only provides historical information but also serves as a reminder of the spirit of self-reliance and self-improvement—the greatest lesson the patriots brought back from Japan. Reading this book is reading ourselves back into history.

[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...