Chiến Phan

Hiển thị các bài đăng có nhãn van chuong han. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn van chuong han. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2026

[Sách] Bài học tiếng Hy Lạp - Han Kang

 

Nó lật mở những trang sách của Han Kang vào một buổi chiều bảng lảng, khi những tảng nắng cuối ngày rớt qua khe lá như những mảnh vụn của thời gian. Đây là quyển thứ ba nó đọc của bà, sau khi đã đi qua sự khước từ cực đoan của Người ăn chay và nỗi đau tập thể của Bản chất của người.

https://chienphan.blogspot.com/2025/09/sach-nguoi-chay-han-kang.html

https://chienphan.blogspot.com/2025/04/sach-ban-chat-cua-nguoi-han-kang.html

Ở lần này, nó tìm thấy một sự thú vị nhiều hơn. Han Kang viết về ngôn từ, về cấu trúc của tiếng Hy Lạp cổ bằng một sự chi tiết và cụ thể đến lạ kỳ. Nó thấy mình trong đó—một kẻ đam mê con chữ, luôn đi tìm sự "soi tỏ" trong từng thanh âm và nét gạch.

"Ngôn từ không chỉ là công cụ; chúng là những sinh thể mang theo ký ức và cả những vết sẹo của lịch sử."

Nhưng rồi, nó thấy tiếc. Những cảm xúc mê mải về con chữ đó dường như chỉ là một sự vùng vẫy cuối cùng của một con người đang ngập ngụa trong đầm "bi kịch" của cuộc sống. Càng về sau, cái đam mê tinh khôi ấy cứ đuối dần qua từng chương sách. Han Kang dường như đã nhường chỗ lại cho những nhân vật, những tình huống và những cốt truyện rầm rầm kéo đến để lấp đầy khoảng trống của sự im lặng.

Cuộc sống vẫn tiếp diễn, như cuộc sống đang tiếp diễn.

"Mọi tình yêu đều được chạm khắc từ mất mát... Chúng ta học sống trong tình yêu ấy."

Có lẽ Han Kang muốn nói rằng: Ngay cả khi con chữ trở nên đuối sức trước bi kịch, thì sự hiện diện của con người bên cạnh nhau mới là "nhát chạm" cuối cùng để cứu rỗi tất cả. Một nỗi buồn có ích để ta biết trân trọng hơn những tảng nắng đang rớt qua khe lá lúc này.

Đọc Han Kang là một cuộc hành trình đi sâu vào tâm kén của sự tồn tại.

Để hiểu Bài học tiếng Hy Lạp, phải hiểu người đàn bà đã viết ra nó. Han Kang sinh ra tại Gwangju, một mảnh đất mang theo vết sẹo lịch sử của những cuộc thảm sát. Tuổi thơ bà là những câu chuyện về cái chết, về sự tàn bạo của con người đối với con người.

"Tôi luôn tự hỏi: Con người là gì? Tại sao con người lại có thể tàn ác đến thế, và đồng thời, tại sao họ lại có thể đẹp đẽ đến thế?"

Chính sự ám ảnh về thân phận con người đã nhào nặn nên một văn phong tiết chế đến mức tối giản, nhưng mỗi con chữ lại mang sức nặng của một "nhát chạm" rướm máu. Khác với sự "gồng mình" cấu trúc của Foer, Han Kang viết như thể bà đang trút hơi thở cuối cùng vào trang giấy, nhẹ tênh mà nghẹt thở.

Bài học tiếng Hy Lạp (Greek Lessons) ra đời trong một giai đoạn Han Kang rơi vào sự im lặng tuyệt đối. Bà chia sẻ rằng có những lúc bà không thể đọc, cũng không thể viết, như thể ngôn từ đã phản bội bà. Tác phẩm này chính là sự "rửa tội" cho chính tác giả, một nỗ lực để tìm lại sợi dây liên kết với thế giới thông qua một ngôn ngữ "đã chết"—tiếng Hy Lạp cổ.

Câu chuyện xoay quanh hai con người: một người phụ nữ mất đi tiếng nói sau những biến cố gia đình và một người đàn ông dạy tiếng Hy Lạp đang mất dần thị lực. Họ gặp nhau tại điểm giao thoa của bóng tối và sự câm lặng.

"Bởi vì không thể cất lời, nên trong tâm trí cô, những dòng suy nghĩ cuồn cuộn chảy như những con sóng ngầm. Ngôn từ giờ đây là những chiếc gai sắc nhọn đâm vào cổ họng."

Người đàn ông mù và người phụ nữ câm, họ không thể giao tiếp bằng những phương thức thông thường. Họ kết nối bằng những "bài học" về một ngôn ngữ cổ xưa, nơi mà mỗi từ ngữ đều mang một linh hồn riêng.

"Họ chạm vào nhau bằng những rung cảm của tâm hồn. Tiếng Hy Lạp cổ trở thành nhịp cầu duy nhất để họ nhận ra mình vẫn còn đang sống."

Đọc xong cuốn sách, nó thấy mình chậm lại, từ tốn hơn với những dấu yêu hiện tại. Sự mất mát trong văn của Han Kang không đẩy người ta xuống hố sâu, mà nâng người ta dậy bằng một "nỗi buồn có ích".

"Mọi tình yêu đều được chạm khắc từ mất mát... Chúng ta học sống trong tình yêu ấy."

Cơn đau của họ không biến mất, nhưng họ đã tìm thấy cách để "cười lại được" trong bóng tối. Nó nhìn nhóc Julie, thấy mộng mơ tưởng cạn giờ lại ùa về ngút ngàn. Có lẽ, lời hứa quan trọng nhất không phải là nói ra, mà là sự hiện diện tỉnh thức bên nhau.

"Bài học tiếng Hy Lạp" là minh chứng cho việc: Ngay cả khi thế giới này rơi vào bóng tối và sự lặng câm, chúng ta vẫn có thể tìm thấy nhau, miễn là ta còn đủ lòng trắc ẩn để vươn tay ra cho một "nhát chạm" của sự tin tưởng.

***



It flipped open the pages of Han Kang on a shimmering afternoon, as the day’s final patches of sunlight filtered through the leaves like fragments of time. This was the third book of hers it had read, following the radical renunciation in The Vegetarian and the collective agony of Human Acts.

This time, it found a greater sense of intrigue. Han Kang writes about words and the structure of Ancient Greek with an uncanny level of detail. It saw itself reflected there—a lover of words, always seeking "illumination" in every sound and stroke.

"Words are not just tools; they are living entities carrying memories and even the scars of history."

But then, it felt a sense of regret. That intoxicating obsession with words seemed merely a final struggle of a person drowning in a "swamp of tragedy." As the chapters progressed, that pristine passion gradually weakened. Han Kang appeared to yield the stage to characters, situations, and a roaring plot that rushed in to fill the void of silence.

Life goes on, as life is going on.

"All love is carved from loss... We learn to live within that love."

Perhaps Han Kang wanted to say: Even when words grow weary before tragedy, the presence of humans by each other’s side is the final "touch" that redeems all. A useful sadness to make us cherish more the patches of sunlight falling through the leaves right now.

Reading Han Kang is a journey into the heart of the cocoon of existence. To understand Greek Lessons, one must understand the woman who wrote it. Han Kang was born in Gwangju, a land bearing the historical scars of massacres. Her childhood was filled with stories of death, of human cruelty toward fellow humans.

"I always wonder: What is a human being? Why can humans be so cruel, and yet, at the same time, why can they be so beautiful?"

It is this obsession with the human condition that shaped a prose style so restrained it is minimalist, yet every word carries the weight of a bloodied "touch." Unlike the structural "straining" of Foer, Han Kang writes as if she is exhaling her final breath onto the page—weightless yet suffocating.

Greek Lessons was born during a period when Han Kang fell into absolute silence. She shared that there were times she could neither read nor write, as if language itself had betrayed her. This work is a "purgation" for the author, an effort to find a link back to the world through a "dead" language—Ancient Greek.

The story revolves around two people: a woman who lost her voice following family tragedies and a man teaching Greek who is gradually losing his sight. They meet at the intersection of darkness and silence.

"Because she cannot speak, within her mind, thoughts surge like underwater currents. Words are now sharp thorns piercing her throat."

The blind man and the mute woman cannot communicate through conventional means. They connect through "lessons" of an ancient language, where every word possesses its own soul.

"They touch each other through the vibrations of the soul. Ancient Greek becomes the only bridge for them to realize they are still alive."

Having finished the book, it found itself slowing down, more patient with its current loved ones. The loss in Han Kang’s writing does not push one into a deep abyss; instead, it lifts one up with a "useful sadness."

"All love is carved from loss... We learn to live within that love."

Their pain does not vanish, but they have found a way to "laugh again" in the darkness. It looks at little Julie, seeing dreams once thought dried up now rushing back with overwhelming affection. Perhaps, the most important promise is not the one spoken, but the mindful presence with one another.

Greek Lessons is a testament to the fact that even when the world falls into darkness and silence, we can still find each other, as long as we have enough compassion to reach out for a "touch" of trust.

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2015

[Sách] Hãy chăm sóc mẹ - Shin Kyung Sook

photo Hatildey-Chm-Soacutec-M_zpskbgdffos.jpg 
"Hệt như hàn quang gặp nắng gắt". Tuyệt nhiên không hề là một tiểu thuyết văn học về tình yêu đôi lứa, "Hãy chăm sóc mẹ" là một tình mẫu tử gần như một chiều, như giọt nước mắt chảy xuôi cho đến khi thấm vào đất rồi tan biến đi.  

Cách kể cực kỳ mượt mà như lụa là đan thành chữ. Nó đọc hết một lèo trong vòng một ngày. Hãy chăm sóc mẹ - một tác phẩm của Hàn quốc, sự lựa chọn đầu tiên khi nó muốn tìm hiểu về văn học Hàn; nhà văn Hàn ở thời hiện đại thế nào. Đâu đó muốn tìm hiểu xã hội dưới bóng văn chương, hiện lên qua những con chữ.
Hãy chăm sóc mẹ. Câu chuyện hoàn toàn không có gì lên gân. Mở đầu là sự mất tích của người mẹ trên chuyến tàu điện ở Seoul để rồi từ đấy mở ra từng trang ký ức của những đứa con, đôi khi cảm giác là những dòng tâm trạng, tự sự của ngòi viết nữ thường thấy.
Lạ lùng. Đồng cảm vì đâu đó thấy cuộc sống mình bên trong. Từ kết cấu nhân vật. Một gia đình có sáu anh em, một người đã mất từ nhỏ. 
Chương ký ức mở ra theo tâm trạng từng thành viên, day dắt và lắt lay như lụa là cần được nâng niu vì đẹp và dễ hỏng. 
Ký ức tìm về có hạnh phúc và đau thương. Sự giằng xé của nhân vật trên con đường khơi lại ký ức, trong đó có người đi tìm lại vợ mình, người tình, tìm mẹ để đến cuối cùng là tìm lại ...chính mình. 
Mãnh lụa ký ức tưởng phôi phai theo năm tháng, ai ngờ theo thời gian, sức sống vẫn vẹn nguyên và ánh lên màu tháng năm đẹp lộng lẫy. Hồi ức tìm lại. Từng con người bắt đầu vớt lại từng sợi ký ức tàn; tưởng chừng đã quên, để gom lại, đan cài vá víu lại tức tưởi một lần. Rồi thôi.

Phơi bày một xã hội Hàn Quốc ở giai đoạn giao thời, thấp thoáng đâu đó thấy của xã hội Việt Nam hiện tại. Con người miệt mài với cuộc sống vật chất lên ngôi, quên đi mất gia đình những giá trị cần giữ gìn
Tự huyễn hoặc mình ngày tháng luôn trôi, nên có một tiếng nói khác xúi giục rằng mất mát đã trở thành bình thường từ lâu. Thôi miên. Đâu chẳng thấy, ai chẳng vậy. Bận rộn nên những lá thư không còn viết, những cuộc điện thoại thưa dần, những câu nói hay dặn dò trở nên thừa thải với những đứa con đã lớn. Muốn giải phóng mình, tìm đến tự do tự nhận.
Những giấc mơ bị từ bỏ. Lớn lên với đồng tiền được đặt lên đầu, quên mất luôn giấc mơ ấu thơ đâu đó trôi mất, nhiều người nói lắm kẻ dạy phải chuẩn bị gì cho tương lai nhiều cách. Giấc mơ con chồng lên giấc mơ mẹ. Mất biệt.
Một tác phẩm đáng để đọc để tìm hiểu về văn chương Hàn. Đề tài không mới, cũng xoay quanh là tình mẹ con, vợ chồng, tình yêu. Câu chuyện của những kẻ yêu thầm không đến được với nhau. Câu chuyện của người phụ nữ của xã hội cũ cam chịu để những bất hạnh từ gia đình đổ lên đầu mình vì con. Câu chuyện của những con người sống trong xã hội hiện đại bán mình với thời gian kiếm tìm vật chất, quên mất luôn cả giấc mơ ấu thơ nuôi dưỡng đến trưởng thành bên trang sách rồi rách mất tờ quyết tâm. Con đường rẽ sang một ngã khác. Đường về mất lối.
Một tác phẩm phơi bày ra hiện thực xã hội với những con đường thăng tiếng không đi trực tiếp bằng học vấn mà bằng sự khôn lanh đặt sự quan hệ lèo lái lên hàng đầu.
Đôi dòng về tác giả Shin Kyung Sook, thuộc thế hệ nhà văn 6x, sinh ra tại tỉnh Jeolla, Hàn Quốc, là con thứ tư trong một gia đình làm nghề nông, tuổi thơ vất vả với việc học bị gián đoạn chỉ học hết cấp 2 để chuyển lên Seoul làm việc đã cung cấp cho nhà văn những chất liệu sống phong phú để làm nên một tác phẩm thành công khi đặc tả được một cuộc sống người nông dân Hàn quốc đầy màu sắc đến như vậy.

Tóm lại, “Hãy chăm sóc mẹ” là một cuốn sách đáng xem với những giá trị nhân văn mà tác phẩm mang đến và hơn hết là hợp thời ở xã hội Việt Nam hiện tại.

[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...