Chiến Phan

Hiển thị các bài đăng có nhãn vivaldi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vivaldi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

[Sách] Jazz ở Hà Nội - Tan - Tangbau


 "Jazz không nằm ở những nốt nhạc nung nấu trong khuông nhạc xơ cứng. Nó là nhát cắt ứng tác trần trụi của bản thể—nơi tiếng kèn saxophone rền rĩ nghẹn ngào xé rách sự phẳng lặng của đêm đen, nối liền vệt ức ức viễn xứ với tiếng thở dại thô mộc của cội nguồn."

Công bằng mà viết, nó biết đến Jazz, đầu tiên phải kể đến saxophone—thứ nhạc cụ có thanh âm ma mị, da thiết làm nó mê đắm đến hoại tử cả xúc cảm. Và để rõ ràng hơn nữa, người đã khơi gợi, rạch tung cánh cửa đưa nó bước vào địa hạt âm nhạc đầy mê dụ ấy chính là Trần Mạnh Tuấn.

Đó là cả một vệt ký ức lảng bảng ở ngưỡng trời chao đảo giữa những năm tháng cuối cấp phổ thông và bước chân đầu tiên vào ngưỡng cửa đại học. Ngày ấy, cô bạn học chuyên Lê Hồng Phong tròn tuổi mộng đã dắt nó tìm về "thánh địa" của những khoảng lặng: nơi quầy đĩa bày bán ngăn nắp trong nhà sách Xuân Thu nằm khép mình trên con đường Đồng Khởi sầm uất. Ngót nghét đã mấy chục năm trôi qua. Mùi giấy cũ, ánh đèn vàng ám bụi và những bìa đĩa CD xếp hàng đờ đẫn ngày ấy vẫn đọng lại trong tâm khảm nó như một vệt sơn chưa kịp khô.

"Về quê" của Phó Đức Phương qua tiếng kèn saxophone Trần Mạnh Tuấn trở thành giai điệu hòa khí trinh nguyên mà nó chọn lựa. Dù bản chất gốc mang đậm âm hưởng dân gian Bắc Bộ, nhưng qua ngón bấm và hơi thở ứng tác biến tấu tự do của Trần Mạnh Tuấn, câu kèn đã mang trọn vẹn tinh thần Smooth Jazz—vừa mềm mại, vừa phá phá mọi rào cản khuông nhạc xơ cứng. Có một gã sinh viên cứ nghe miết đến đĩa mòn. 

Nó thường thả cho tâm hồn mình dìu dắt vào giai điệu ấy trong những phút giây khắc khoải tìm kiếm xúc cảm để viết bài, hay đơn giản chỉ là để tự mình "hồn lây lất" qua những ngày dài cô độc. Bên cạnh những bản tấu bốn mùa (Four Seasons) kiêu hãnh của Vivaldi hay những bản hòa tấu thanh khiết của Mozart miệt mài đi tìm lại bóng hình ấu thơ và sự biến chuyển diệu kỳ của thiên nhiên, tiếng kèn saxophone

Để rồi ngày hôm nay, cô em "giám tuyển" của riêng nó—một danh xưng đằm thắm nó trân trọng dành riêng cho em—đã gửi vào Nam một thước phim hành trình đầy đặn. Thước phim ấy như một chiếc chìa khóa đồng mở ra cánh cửa lịch sử Việt đan cài cùng từng vệt trầm tích của Jazz.

Nó bước chân theo cuốn sách của Tan - Tangbau, mở cửa. Tác phẩm "Jazz ở Hà Nội" xuất hiện như một khoảng trắng thẩm mỹ tĩnh lặng, đưa nó trôi dạt ngược dòng thời gian, lần tìm về những vệt ký ức lỏng lẻo của một thời sinh viên lang bạt.

Những năm tháng sinh viên ở Sài Gòn, có những đêm mưa rơi chao đảo, nó lang thang qua đường Nguyễn Du, tạt vào góc quán Saxn'Art của Trần Mạnh Tuấn. Giữa không gian đặc quánh khói thuốc và ánh đèn vàng mờ ỉu, tiếng kèn saxophone ngập tràn tính ứng tác cất lên. Nhạc Jazz ở đây không phô trương; nó là tiếng lòng tự do, là sự ngẫu hứng đâm thủng mọi quy chuẩn. 

Và khi lẽo đẽo theo Tan - Tangbau, ký ức Sài Gòn ấy dội ngược, kết nối với một Hà Nội, nó chứng kiến hành trình lẫy lừng của Jazz chốn Bắc Hà: từ những ngón đàn guitar, piano du nhập thời tiền chiến, những đêm nhạc lén lút trong chiến tranh gian khổ, cho đến sự hình thành của Bình Minh's Jazz Club bên hông Nhà hát Lớn dưới sự gầy dựng kiên trung của nghệ sĩ Quyền Văn Minh. Jazz ở Hà Nội hay Sài Gòn, suy cho cùng, đều là tiếng kêu xé ruột của những bản thể khao khát tự do, dùng âm nhạc để phẫu thuật sự cô đơn chốn đô thị.

Như thể nghe em nói, nhỏ nhẹ và thấu suốt giữa tiếng mưa dầm chốn đô thị: 'Anh à, Jazz nước mình đâu chỉ có mỗi Tuấn?

Đó là Quyền Văn Minh—người anh cả đã gầy dựng nên Bình Minh's Jazz Club bên hông Nhà hát Lớn Hà Nội, kẻ dũng cảm đặt những viên gạch nền móng đầu tiên cho Jazz Việt giữa những năm tháng gian khổ.

Đó là Quyền Thiện Đức—người nối nghiệp tiếp quản ngọn lửa, mang tư duy hiện đại thổi vào từng phím kèn da thiết.

Đó là Nguyễn Bảo Long cùng ban nhạc JumpforJoy—thế hệ trút toàn bộ năng lượng trẻ trung, biến Jazz thành một cuộc đối thoại sinh động, cởi mở giữa phố phường; Và là những ngón đàn tài hoa của An Trần, Hoàng Mẫn, hay Nguyễn Tiến Mạnh... những người trẻ mang Jazz Việt vươn ra đại dương bao la, không phải để vay mượn hay, mà để thốt lên tiếng nói nguyên bản của thế hệ mình. Nó gặp lại cả một Trần Tiến thời thanh xuân ngông nghênh với những nốt nhạc đã phải nằm trong danh sách "lưu ý" của thời đại bấy giờ.

Jazz ở Hà Nội hay Jazz ở Sài Gòn, suy cho cùng, đều là tiếng kêu xé ruột của những bản thể khao khát tự do. Họ dùng âm nhạc để phẫu thuật sự cô đơn, biến những đau thương rứt rách thành thứ nghệ thuật trinh nguyên, bất chấp sự bóp nghẹt của hoàn cảnh.

Tan - Tangbau đã không dừng lại ở những góc phố cổ Hà Nội. Qua từng trang biên khảo mẫn cảm, tác giả dắt tay nó bước vào một hành trình viễn xứ bao la, nơi Jazz cất tiếng hát ở khắp nơi trên thế giới.

Nó lắng nghe tác giả rủ rỉ giải mã cội nguồn nguyên bản của thứ âm nhạc ma mị này. Jazz không sinh ra trong các nhung lụa đài các. Nó đâm chồi từ những cánh đồng bông nắng cháy miền Nam nước Mỹ, từ tiếng hò lao động (Work songs) nén chặt nỗi đắng cay của những thân phận nô lệ da đen bị tước đoạt cội nguồn. Trong đêm đen của sự áp bức, họ cất lời ca—không phải để van xin, mà để nương tựa vào nhau, để cống hiến cho hư không những lời thủ thỉ trần trụi về thời mình, về những đớn đau, tủi nhục và nỗi khát khao tự do tột cùng. Từ Mỹ đến Nhật, cả một Shanhai rồi trở lại Hà Nội, Sài Gòn, jazz như viết lại lịch sử bằng những nốt nhạc trên nền nhạc cụ. 

Từ Mỹ đến Nhật, lướt qua một Thượng Hải phồn hoa chìm đọng trong sương mù lịch sử, rồi trôi dạt trở lại với Hà Nội cổ kính và Sài Gòn hối hả. Tan - Tangbau đã dẫn dắt nó dấn thân vào một hải trình âm thanh bao la. Jazz không chịu nằm yên trong bất kỳ biên giới địa lý nào. Bằng thứ ngôn ngữ thô mộc của nốt nhạc và hơi thở nén chặt nơi khuông nhạc ứng tác, Jazz âm thầm viết lại lịch sử—một lịch sử không xây bằng gạch đá hay những chiến công kiêu hãnh, mà được tạc nên bởi những vết đớn đau, sự bất tuân và lòng khát khao tự do tột cùng của con người.

Rồi cũng phải nói lời tạm biết Tan Tangbau, nó trở lại những phím gõ và tiếng jazz cũng day dứt, khơi nguồn cảm xúc dâng.

***


To write fairly, its entry into Jazz began first and foremost with the saxophone—that instrument possessing a spellbinding, agonizing voice that enchanted It to the point of emotional necrosis. And to be even more precise, the person who unlocked and slashed wide open the door to that intoxicating realm of music was Tran Manh Tuan.

It was a hazy trail of memory lingering at the unsteady threshold between the final years of high school and the first steps into university. In those days, a high-school classmate from Le Hong Phong, then in the sweet prime of youth, guided It back to the "sanctuary" of quiet intervals: the orderly rows of disc counters inside Xuan Thu Bookstore, nestled along the bustling Dong Khoi Street. Decades have drifted by since. The scent of aged paper, dust-kissed yellow light, and lifeless CD covers lined up back then still linger within its soul like a coat of paint not yet dry.

Phung Duc Phuong’s "Ve Que" (Returning Home), channeled through Tran Manh Tuan’s saxophone, became the pristine melody of harmony It chose. Though rooted deeply in the folk motifs of the Northern delta, through Tran Manh Tuan’s fingering and freely improvised breath, the phrasing embodied the full spirit of Smooth Jazz—soft yet shattering every rigid barrier of the musical stave. There was a university student who played the CD endlessly until the disc wore thin.

It would often let its soul be guided by that melody during agonizing moments of searching for emotion to write, or simply to drift "languid and lost" through long, solitary days. Alongside Vivaldi’s proud Four Seasons or Mozart’s pure concertos tirelessly seeking lost shadows of childhood and the miraculous shifts of nature, the saxophone’s voice stood apart.

And then today, its personal "curator"—a tender title It lovingly reserves for her—sent South a rich, full journey on film. That footage acted like a brass key opening the doors of Vietnamese history, interwoven with every sedimented layer of Jazz.

It steps in behind Tan - Tangbau’s book, opening the door. Jazz in Hanoi emerges like a tranquil aesthetic void, drifting It back against the current of time, tracing loose, fraying memories of a wandering student life.

During student years in Saigon, on nights when rain fell unsteadily, It would wander down Nguyen Du Street, ducking into a corner of Tran Manh Tuan’s Saxn'Art. Amidst a space thick with cigarette smoke and dim yellow light, the saxophone’s voice rose, brimming with improvisation. Jazz here was unpretentious; it was the voice of a free heart, an outburst of spontaneity piercing through all rigid norms.

And as It followed Tan - Tangbau, those Saigon memories surged back, connecting with Hanoi as It witnessed the glorious journey of Jazz in the Northern land: from pre-war guitar and piano chords brought from afar, secretive musical nights during grueling war years, to the founding of Binh Minh's Jazz Club beside the Hanoi Opera House under the steadfast stewardship of artist Quyen Van Minh. Jazz in Hanoi or Jazz in Saigon, at its core, was the soul-shattering cry of beings craving freedom, using music to dissect urban loneliness.

As if hearing her murmur, soft and penetrating amid the urban drizzle: "Anh, our country's Jazz isn't just Tuan, you know?"

It was Quyen Van Minh—the eldest brother who built Binh Minh's Jazz Club beside the Hanoi Opera House, the courageous soul who laid the very first foundation stones for Vietnamese Jazz during grueling years.

It was Quyen Thien Duc—the heir taking up the flame, breathing modern thought into every poignant key.

It was Nguyen Bao Long alongside the band JumpforJoy—a generation pouring out youthful energy, transforming Jazz into a vivid, open dialogue across city streets; and the gifted hands of An Tran, Hoang Man, or Nguyen Tien Manh... young souls carrying Vietnamese Jazz out into the boundless ocean, not to borrow or imitate, but to utter the original voice of their own generation. It even encountered a youthful, reckless Tran Tien, whose notes once sat on the era's "watch list."

Jazz in Hanoi or Jazz in Saigon, at its core, was the soul-shattering cry of beings craving freedom. They used music to dissect loneliness, transforming jagged, torn anguish into pristine art, defying the strangulation of circumstances.

Tan - Tangbau did not halt at the ancient corners of Hanoi. Through every sensitive page of research, the author led It by the hand into a vast journey abroad, where Jazz sings across every corner of the world.

It listened to the author softly decoding the raw origins of this spellbinding music. Jazz was not born in aristocratic silks. It sprouted from sun-scorched cotton fields in the American South, from labor work songs compressing the bitter plight of black slaves stripped of their roots. In the dark night of oppression, they raised their voices—not to beg, but to lean on one another, offering the void raw whispers about their lives, their era, their pain, humiliation, and ultimate thirst for freedom. From America to Japan, across an entire Shanghai, and returning to Hanoi and Saigon, Jazz re-wrote history with notes struck across instruments.

From America to Japan, sweeping past a opulent Shanghai submerged in historical mist, then drifting back to ancient Hanoi and hurried Saigon, Tan - Tangbau led It to embark upon a vast acoustic voyage. Jazz refuses to rest within any geographic border. Through the rustic language of notes and breath compressed upon improvisational staves, Jazz silently re-wrote history—a history not built of stone, mortar, or proud conquests, but carved out of human pain, defiance, and an ultimate longing for freedom.

And then, bidding farewell to Tan - Tangbau, It returned to the clicking keys as the sound of Jazz lingered, poignant, stirring a surging tide of emotion

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

[Sách] Vangogh - Steven Naifeh & Gregory White Smith


"Thế giới này chỉ coi tôi như một kẻ không ra gì... nhưng tôi muốn cho họ thấy cái gì đang nằm trong trái tim của một kẻ 'không ra gì' như thế." 

Nó tha thẩn dẫn cô công chúa nhỏ của mình dạo ngang thế giới hội họa. Những nét nghệch ngoạc, những màu sắc pha ngẫu hứng, be bét dính chặt lên áo quần, cứ thế cô nhỏ say sưa. Lạ, mà nhớ. Nó chợt thấy lại cái chất nghệ sĩ ấy từng hiện hữu nơi hai cậu anh trai của nàng công chúa—có lẽ là gene, là chuyện di truyền của một dòng máu khao khát biểu đạt. Ngỡ ngàng nhìn lại chính mình, nó cũng từng nghệch ngoạc mấy đường chì, rồi lấy đau lưng làm cớ, lấy bận rộn làm lý do để trở về với viết lách, bỏ lại những bức tranh nhuốm màu loang chưa kịp khô. Như thể khi bước vào thế giới của Van Gogh, nó gặp lại một gã cô đơn trong chính ngôi nhà mình, trong chính thế giới mình đang sống.

Nó tìm thấy Vincent van Gogh qua công trình đồ sộ của Steven Naifeh và Gregory White Smith. Cuốn sách dày hơn 900 trang này không chỉ là những con chữ; nó là mùi sơn dầu, mùi xác thân rệu rã, và mùi của một linh hồn quyết không để mình bị "bỏ quên".

Vincent van Gogh chính là hiện thân khắc nghiệt nhất của người đứng ở giữa hai thế giới. Một bên là khát khao mãnh liệt về sự thánh thiện, lòng mộ đạo của một mục sư; một bên là sự điên cuồng, bản năng của một nghệ sĩ muốn phá vỡ mọi quy chuẩn.

Nó từng tự hỏi: có phải những người mang trên mình gánh nặng sáng tạo, vì nhìn rõ quá một nhân gian, vì chạm thấu lằn ranh mong manh giữa thiên đường và địa ngục, nên họ thường thấy cô đơn và lạc lối? Để rồi, trong sự nghẹt thở của thực tại, có người chọn một con đường tiêu cực là đoạn tuyệt một kiếp nhân sinh. Naifeh và Smith đã bóc tách hàng ngàn lá thư để cho thấy Vincent chưa bao giờ tìm thấy một "căn tính" ổn định. Ông là kẻ lưu vong bị "phó mặc" bởi những chuẩn mực trí thức trung lưu (như tầng lớp mà Ben Tran mô tả), một linh hồn lạc lõng giữa những bức tường định kiến.

Đọc về Van Gogh, nó bắt lại nhịp của thời đại hôm nay qua hình ảnh một nữ họa sĩ của những họa tiết chấm bi. Yayoi Kusama—người cũng mang trong mình nỗi chán chường sâu sắc dù sinh ra trong một gia đình giàu có. Sự ức chế lớn khôn theo năm tháng, khiến bà gửi hồn vào những chấm bi bất tận. Thế giới tung hô bà, con người chiêm ngưỡng bà, nhưng bà lại tìm thấy mình trong một "nhà thương điên", một bệnh viện tâm thần.

Ngỡ ngàng thay, nó tự hỏi: Vậy thì ai điên? Là Van Gogh, là Yayoi Kusama, hay chính là chúng ta—những kẻ đang hối hả ngoài kia? Nếu M. Scott Peck định nghĩa cái ác là sự lười biếng tâm linh, thì phải chăng sự "điên" của người nghệ sĩ chính là nỗ lực hiện diện tuyệt đối? Vincent vẽ như một kẻ điên, làm việc đến kiệt sức để không "phó mặc" linh hồn mình cho sự dối trá của vẻ ngoài đức hạnh. Ông thổi hồn vào đôi giày cũ, chiếc ghế nan, phơi bày những vết nứt tâm hồn như nghệ thuật Kintsugi.

"Tôi là một người đàn ông của những đam mê... Tôi phải tự coi mình là một kẻ bị giam cầm trong sự rầu rĩ, hay tôi phải nỗ lực để thoát ra bằng cách bùng cháy?"

Vincent giống như "con chim nhại" trong văn chương Harper Lee – một sinh vật chỉ biết hót (vẽ) bằng cả trái tim để tặng cho đời, nhưng lại bị sự tàn khốc của xã hội bắn rơi. Giả thuyết về cái chết của ông trong sách không chỉ là một bi kịch cá nhân, mà là hành động "Omoiyari" tột cùng – một sự hy sinh âm thầm. Ông ra đi rực rỡ ở độ tuổi mà trí tuệ kết tinh (theo Arthur C. Brooks) còn chưa kịp thành hình, nhưng ngọn lửa từ trí tuệ linh hoạt của ông đã đủ để sưởi ấm cho nhân loại suốt hàng thế kỷ.

"Những vết nứt trong tâm hồn tôi không phải là khiếm khuyết, chúng là nơi ánh sáng đi vào."

Van Gogh và Kusama đã "chạy về phía miền bí ẩn", bỏ lại đằng sau sự "nghẹt thở" của những định kiến. Dù bị "bỏ quên" bởi thế gian hay tự giam mình trong bệnh viện, họ vẫn hiện diện rực rỡ nhất. Còn chúng ta, trong sự "tỉnh táo" của mình, liệu có đang thực sự sống, hay chỉ đang lẩn tránh sự thật như lời Atticus Finch từng cảnh báo?

***



"The world sees me as a nonentity, an eccentric, and an unpleasant person... but I want to show them, through my work, what lies in the heart of such a 'nonentity'."

He wanders with his little princess through the world of art. Crude scribbles, colors blended with spontaneous whims, stains clinging stubbornly to clothes—yet the little one is utterly enthralled. Strange, yet familiar. He suddenly sees that artistic flair once present in the princess's two older brothers—perhaps it is the genes, the hereditary trait of a bloodline yearning for expression. Startled, he looks back at himself: he too once sketched a few charcoal lines, only to use back pain as a pretext and busyness as an excuse to return to writing, leaving behind paintings with bleeding colors that had not yet dried. It is as if by stepping into Van Gogh’s world, he encounters a lonely man within his own home, within the very world he inhabits.

He finds Vincent van Gogh through the monumental work of Steven Naifeh and Gregory White Smith. This book, over 900 pages long, is more than just words; it is the smell of oil paint, the scent of a weary body, and the aura of a soul determined not to be "forgotten."

Vincent van Gogh is the harshest embodiment of a man caught between two worlds. On one side is a fierce longing for sanctity and the piety of a pastor; on the other is the madness and instinct of an artist seeking to shatter every norm.

He once wondered: is it that those carrying the burden of creativity, because they see the human world too clearly, because they touch the fragile line between heaven and hell, often find themselves lonely and lost? And then, in the suffocation of reality, some choose the negative path of severing their earthly existence. Naifeh and Smith deconstructed thousands of letters to show that Vincent never found a stable "identity." He was an exile "abandoned" by middle-class intellectual standards (much like the class described by Ben Tran), a soul wandering between walls of prejudice.

Reading about Van Gogh, he catches the rhythm of the modern era through the image of a female painter of polka-dot patterns. Yayoi Kusama—who also carries a deep melancholy despite being born into a wealthy family. An inhibition that grew with age, leading her to pour her soul into endless dots. The world applauds her, people admire her, yet she finds herself in an "asylum," a psychiatric hospital.

Startled, he asks himself: So, who is mad? Is it Van Gogh, Yayoi Kusama, or is it us—the ones rushing about out there? If M. Scott Peck defines evil as spiritual laziness, then is the "madness" of the artist actually an effort of absolute presence? Vincent painted like a madman, working to the point of exhaustion so as not to "abandon" his soul to the deceit of a virtuous facade. He breathed life into old shoes, a wicker chair, and exposed the cracks of his soul like the art of Kintsugi.

"I am a man of passions... Must I consider myself a prisoner of gloom, or must I strive to break out by burning?"

Vincent is like the "mockingbird" in Harper Lee’s literature—a creature that does nothing but sing (paint) with its whole heart as a gift to the world, only to be shot down by the cruelty of society. The hypothesis of his death in the book is not just a personal tragedy, but an act of ultimate "Omoiyari"—a silent sacrifice. He departed brilliantly at an age when crystallized intelligence (according to Arthur C. Brooks) had not yet fully formed, but the flame from his fluid intelligence was enough to warm humanity for centuries to come.

"The cracks in my soul are not flaws; they are where the light enters."

He sips the last of his coffee; the melody of Vivaldi’s Winter seems to be shifting into the climactic notes of life. The book reminds him: A person’s identity does not lie in what they possess, but in what they dare to burn away to preserve their true self.

Van Gogh and Kusama "ran toward the mystery," leaving behind the "suffocation" of fixed prejudices. Whether "forgotten" by the world or self-confined in a hospital, they remain most vibrantly present. And us, in our "sanity," are we truly living, or are we merely evading the truth as Atticus Finch once warned?

[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...