Lịch nờ! Con em chết rồi!
Huế, 2023.
Ức uất can tràng hà nhựt thị
Bất bình tâm sự hướng thường minh
(Nguyễn Quang Diêu)
Lòng người có u uất, can tràng có đứt đoạn thì biết đến ngày nào mới nguôi? Những tâm sự bất bình biết hướng về đâu ngoài ánh sáng thường hằng để tìm một lối thoát?
Chiếc xe Limousine màu đen bóng trườn đi êm ru trên con đường ẩm ướt, bỏ lại sau lưng làng Sình đang chìm dần vào bóng tối sau một đêm hỏa hoạn tâm linh tàn khốc. Tiếng gió chướng mùa đông miền Trung quất ràn rạt vào mặt kính xe, nghe xót xa như những tiếng than dài văng vẳng từ lòng đất cổ. Qua khung cửa kính dán phim cách nhiệt tối màu, vầng trăng dội xuống mặt đường nhựa một cái bóng dài ngoẵng, chập chờn trôi theo nhịp bánh xe lăn.
Trong khoang xe ngột ngạt mùi cồn sát khuẩn và lớp da ghế mới cáu, mụ Nuôi – người đàn bà sinh năm Nhâm Ngọ 1942 – tựa hẳn tấm thân gầy guộc, rệu rã vào bả vai săn chắc của Kăn Lịch. Hơi ấm từ lớp áo khoác của người bạn tri kỷ miền sơn cước thấm qua vai, nhưng không cách nào xoa dịu được sự buốt lạnh trong tâm can mụ. Cuộc đời mụ đã đi qua bao nhiêu trận càn, qua những mùa nước nổi hững hờ ở Đồng Tháp Mười rồi Cao Lãnh, chưa bao giờ mụ khóc trước mặt bất kỳ gã đàn ông nào, kể cả ông Liên. Nhưng đêm nay, trước Kăn Lịch, giọt nước mắt kiên cường của mụ cuối cùng cũng vỡ đê, tuôn trào rấm rứt như con nước lũ lại về sông Hương năm 1965.
Mụ ghé đầu vào vai Lịch, tiếng khóc nghẹn ngào từ lồng ngực gầy run lên bần bật:
– Lịch nờ! Con em chết rồi!
Kăn Lịch sững người. Bàn tay vốn quen cầm súng bắn tỉa nơi đại ngàn Trường Sơn khẽ siết lấy bả vai mụ Nuôi, run rẩy:
– Đứa nào?
– Thằng Hùng, thằng thứ ba!
Lời vừa thốt ra, bao nhiêu u uất, đắng cay dồn nén suốt mấy chục năm qua bỗng chốc vỡ tan. Ký ức trong mụ Nuôi cứ thế cuồn cuộn quay về, hiện lên rõ mồn một như những thước phim xưa cũ được chiếu chậm bằng ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu hột vịt.
– Thế nó ra đi có nhẹ nhàng không? – Lịch hỏi vớt, giọng khàn đặc đầy xót xa.
– Kh...ông! Lịch à. Nó đi tức tưởi lắm...
Mụ khóc, khóc dập dồn, khóc cho đến khi lồng ngực đau nhói. Cuộc đời người đàn bà tuổi Ngọ này dường như chưa từng rơi lệ vì một gã đàn ông nào, trừ những đứa con do chính khúc ruột mình đẻ ra. Bốn đứa con trai và một đứa con gái mang trên mình những cái tên do ông Liên đặt: Dũng, Hùng, Anh, Oanh, Chiến – những cái tên gửi gắm ước mơ ngạo nghễ dặm nghìn da ngựa, hình thành theo chiều dài cuộc kháng chiến, nhưng lại là những vết thương rỉ máu suốt cuộc đời bà.
Mụ nhớ thằng hai – đứa con trai đầu lòng mang theo trọn vẹn sự kỳ vọng và chí cầu tiến của mụ và cả dòng họ Phan. Khi nhỏ, nó là một đứa trẻ yếu ớt, nhỏ con, khuôn mặt đầy xương xẩu, lúc nào cũng èo uột mang bệnh khiến mụ phải ôm ấp, nâng niu suốt đêm ngày. Càng kỳ vọng lớn bao nhiêu, cuộc đời nó càng trôi đi trong sự lận đận bấy nhiêu. Nhìn những dặm đường trôi qua, mụ chỉ thấy tiền bạc của mình cứ thế vụn vơi, quăng hết ra đường theo những phi vụ làm ăn bạo phát bạo tàn.
1993, Cao Lãnh, miền Tây
Mụ gom góp tiền của gầy dựng cho nó một sự nghiệp trên sông nước – một nhà máy xay xát gạo nổi được ghép bằng hai chiếc ghe bầu cỡ lớn, liên kết chặt chẽ với nhau bằng những tấm ván dày. Tiếng máy nổ xình xịch ngày đêm, bụi cám bay mù mịt trong ánh hoàng hôn miền Tây đục ngầu phù sa. Thế nhưng, giữa bối cảnh chợ nổi rộn rã ấy, những cô gái buôn gạo đon đả, khéo miệng với nụ cười đưa duyên trên sóng nước đã dễ dàng cám dỗ thằng hai. Sự nghiệp tiêu tan, nhà máy xay xát chìm trong nợ nần, âu cũng là thiếu kinh nghiệm về phần quản lý, chỉ kinh nghiệm chuyên môn thôi chưa đủ.
Rồi một chiều mưa dầm dề, thằng hai lãng tử hồi đầu dắt về một đứa con gái quê tận Bến Tre, mang trên mình một chiếc bụng vượt mặt, gọi là vợ. Đứa trẻ chào đời giữa đất Đồng Tháp, nghiễm nhiên trở thành đích tôn của dòng họ Phan trong những tiếng xì xào, mỉa mai cay nghiệt của người đời.
Mụ chết lặng trong chiều mưa gió đó. Tiếng mưa miền Tây xối xả gõ vào mái tôn gầm sàn nghe rát buốt, làm mụ nhớ về hình ảnh của Mệ nội chúng nó ngày nào. Mệ cũng gặp mụ trong một cơn mưa dầm dề như thế này, thỏ thẻ thuyết phục mụ về một làng Sình để làm dâu thứ. Để rồi giờ đây, đi qua nửa đời giông bão, mụ trôi nổi, dạt trôi đến tận miền sông nước này sau một ngày hòa bình lặp lại.
Mừng chứ?! Ở cái tuổi xế chiều, lãng tử hồi đầu, thằng hai chính là đứa sẵn sàng đón đưa, lo lắng cho mụ từng bữa ăn, chăm cho mụ từng giấc ngủ dù rằng mụ chẳng thiếu thốn điều đó. Mụ xem nhiều cải lương lắm. Kể từ ngày gặp cô đào Thanh Nga trong mật thất Tòa Khâm sứ sực nức mùi máu và cồn năm ấy, rồi dạt đến xứ miền Tây này, cải lương đã trở thành thứ mụ Nuôi yêu rồi đâm ra lo nhiều. Mụ ám ảnh cái cảnh “ngạo đời” của những tuồng tích cải lương viết về cảnh cha mẹ lúc về già. Cảnh những đứa con đùn đẩy trách nhiệm “nuôi mẹ” từ nhà đứa này sang đứa khác, những lời nói mỉa mai, những hành động hắt hủi lạnh lùng của ruột rà xương máu làm lòng mụ đau đớn như máu mủ tự tươm ra. Mụ sợ cái danh "mụ Nuôi" của mình đến cuối đời lại trở thành gánh nặng để các con phải đong đo, tính toán.
Còn thằng ba – thằng Hùng. Khác với người anh cả, thằng ba sinh ra đã có vóc dáng to lớn, khuôn mặt tròn trĩnh, sáng láng và thông minh. Nó là đứa có chất nghệ sĩ đa tài, văn thể mỹ đều giỏi, đi đến đâu cũng nhận được sự thương yêu của thầy cô, bạn bè. Dường như bùn sình của đất phù sa trong những đêm không chăn, vác mướn hàng hóa từ dưới ghe lên tận chợ cũng chẳng làm phôi pha được cái chất phong lưu thiên bẩm của nó, mà chỉ càng làm cho vẻ phong trần ấy thêm phần nam tính, gai góc.
Thằng ba dường như sinh ra để gánh cả một giang san cho thằng anh. Cái tên của nó, khi kết hợp với ông anh hai sẽ trở thành “Hùng Dũng”. Vì cái nghĩa khí ấy, nó luôn là đứa gạt bỏ đi tất cả quyền lợi của mình, nhường nhịn cho anh.
Mụ Nuôi làm sao quên được câu chuyện đám con kể nhau nghe thuở nhỏ. Ngày ấy, chiếc xe đạp đầu tiên mụ chắt chiu mua được, thằng hai đi học bị bạn bè trong làng bắt nạt, bắt phải chở tụi nó về, dẫn đến việc nó sợ hãi không dám đạp xe đi học nữa. Thằng em ba biết chuyện, mặt đanh lại, dặn anh hai: “Mai anh cứ đi học bình thường, chở tụi nó ra đến gốc đa đầu làng, em đón đánh!”. Đúng hẹn, thằng ba đứng đợi dưới bóng cây đa cổ thụ, một mình đối đầu với đám trẻ ngổ ngáo kia, bảo vệ ông anh trai nhỏ bé của mình. Từ đó, không một ai dám đụng đến một sợi tóc của thằng hai nửa. Mỉa may, thằng ba lại là thằng bị ăn đòn nhiều nhất, bao nhiêu mệt mõi, u uất, thằng có tạng người lớn con thường chịu trận, thằng ba đứng chịu đòn để mụ Nuôi xã hết những u uất của đời mình.
Nhưng cuộc đời trớ trêu lắm, nó lại bắt thằng ba phải gắn kết với đứa em thứ tư để tạo thành cái cụm từ "Anh Hùng" định mệnh. Để rồi, mụ phải đắng lòng nhìn đứa học, đứa nghỉ, đứa đi, đứa ở. Rốt cuộc, thằng anh ba đã lẳng lặng nhường lại cho thằng em thứ tư cái khoảng trời đại học xa xôi diệu vợi mà đáng ra nó cũng xứng đáng được chạm tới.
Chính sự ngổ ngáo, cái máu anh hùng nổi cộm cùng những trò chơi nguy hiểm của tuổi mới lớn sau đó đã kéo thằng ba trượt dài vào bóng tối tăm tối của chất trắng. Mụ làm sao quên được một đêm mưa gió bão bùng nơi mảnh đất miền Tây những năm 2000 ấy. Mụ lầm lũi, đầu đội chiếc nón lá rách rưới, một mình đi trong màn đêm heo hút, gõ cửa từng căn nhà, từng con ngõ phố, dòm dập vào từng góc tối tăm chỉ để tìm con. Ánh sáng yếu ớt từ chiếc đèn dầu mụ cầm trên tay không soi sáng nổi con đường, nó chỉ làm bóng dáng mụ thêm chìm sâu, cô độc vào sự bất lực, như thể mụ là một kẻ đã bị gạt bỏ hoàn toàn bên lề cuộc sống này.
Nhưng mụ đâu biết, ở ngay một ngã tư rộn rã tiếng nhạc văn nghệ, từ trên lầu cao nhìn xuống, thằng ba đã thu vào mắt trọn vẹn dáng dấp gầy gò, liêu xiêu của người mẹ đang đi trong bóng đêm thê lương kéo dài. Cái bóng thắt quặn của mụ dưới lòng đường đêm đó đã đâm thẳng vào tâm can nó, khiến thằng ba thức tỉnh, quyết từ bỏ hoàn toàn con đường ăn chơi sa đọa để làm lại cuộc đời.
1999, Cao Lãnh, Miền Tây
Nước ròng bỏ bãi sông Tiền phơi mình dưới cái nắng hanh hao của những ngày cuối cùng thế kỷ XX. Đất Cao Lãnh năm 1999 xôn xao trong cái không khí chuyển giao thiên niên kỷ, nhưng dưới mái nhà sườn đước của mụ, mọi thứ vẫn trôi đi chậm rãi và nặng trĩu. Đó là năm thằng ba nối gót thằng anh hai, dắt về cho mụ một đứa cháu ngoại ngoài giá thú.
Tai mụ lúc nào cũng đầy ắp những lời ra tiếng vào, những câu chuyện tình dang dở của thằng ba kể từ ngày nó dứt hẳn cái thứ chất trắng chết người kia.
Mụ nhớ hoài những buổi chiều chạng vạng, chiếc ghe của mụ lúc nào cũng có những bóng hồng lui tới. Có cô gái xóm ngoài tình nguyện đến, ngồi bên bực đá sát mé sông rửa đống chén bát mãi chưa xong, chỉ vì phía bên kia cầu ao, gã đàn ông của mụ đang ngồi tắm trần, những gáo nước dội ào ào lên bờ vai vạm vỡ, đôi mắt ngóng về phía cô đầy vẻ trêu lơ. Lại có cô con gái lỡ thì ngồi lặt rau muộn ở sạp chợ cuối ngày, vừa lặt vừa ngân nga những câu vọng cổ buồn đứt ruột đứt gan, gieo vào lòng người nghe một nỗi niềm mong mỏi vô vọng. Tất cả bọn họ, dù thương thằng ba đến thắt lòng, cũng không một ai dám tự tiện bước qua bực cửa để làm dâu họ Phan. Họ cứ lặng lẽ đứng bên lề cuộc đời gã phong trần, chỉ chờ một lời mở miệng đồng ý, một cái gật đầu từ mụ Nuôi.
Thế nhưng, thằng ba gạt phắt hết những tơ vương ấy. Nó chọn cho mình cái nghề rong ruổi trên những chuyến xe tải chở hàng, ném đời mình vào những cung đường uốn khúc quanh co dọc miền đất nước.
2000, Cao Lãnh, Miền Tây
Thời khắc bước sang năm 2000, cả nước hân hoan đón chào một thiên niên kỷ mới, phố thị Cao Lãnh bắt đầu mọc lên những cột đèn đường vàng vọt, tiếng còi xe inh ỏi lấn át tiếng bìm bịp kêu chiều trên ngã rạch.
Đây cũng là năm sự nghiệp của thằng ba phất lên như diều gặp gió. Từ một chiếc xe ba gác tự chế, ngày ngày đổ mồ hôi hột chở thuê từng bao gạo, kiện hàng ở bến xe Cao Lãnh, thằng ba – bằng sự nhạy bén, gan lì và liều lĩnh của một gã trai trẻ tuổi rồng – đã tự mình gầy dựng, vươn lên điều hành cả một hệ thống xe tải lớn chuyên chạy tuyến miền Tây ngược lên Sài Gòn.
Mụ đã tưởng cuộc đời thằng ba từ đây sẽ vững vàng như cái tên mụ đặt, rằng nó sẽ cưới vợ, sinh con rồi sống một đời an yên bên vàm rạch. ... Thằng ba nằm xuống khi tuổi đời còn quá xanh, để lại một khoảng trống hoác lạnh lẽo và một nỗi đau khôn nguôi cào rách tâm can người mẹ già.
Thằng tư thì ngược lại, sở hữu vóc dáng cao ráo, luôn xây dựng hình ảnh của một dân kinh doanh chủ cả thực thụ. Thằng tư tự mang trên mình sự kỳ vọng đổi đời của gia đình, và chính sự kỳ vọng ấy đã đổi cả đời nó. Với chí lớn làm giàu, thằng tư không ngại ngần lao vào những cuộc phiêu lưu mạo hiểm. Số phận chỉ thực sự giáng một đòn chí mạng khi thằng thứ tư – vốn tính tự trọng và căm ghét sự sa ngã của anh hai, cứ than thân trách phận về chí làm trai chẳng đặng, cứ mỗi khi men rượu vào là kiếm cớ gây sự – đã giận dữ đến mức tự chặt đứt một lóng tay của mình để răn đe anh mình, để lại một vết sẹo tàn phế vĩnh viễn trên bàn tay hào hoa.
Năm 2002, tại An Giang,
Thằng tư - thuyết phục được người bạn đồng hành, một vị sếp trực tiếp trong ngành tin tưởng để cùng nhau đứng ra gầy dựng sự nghiệp những bè cá tra, cá ba sa khổng lồ trên sông nước miền Tây. Sông nước bập bùng, sống cùng với những anh em thợ thuyền, (tạo ra sự kiện gây thất thoát và dẫn đến thất bại của một thương vụ đầu tư). Một người sếp nữ.
Năm 2010, Campuchia.
Thằng tư băng rừng lội suối sang tận đất Campuchia để khai thác những thớ gỗ rừng quý giá. Sự nghiệp phất lên nhanh chóng, tiền tiêu như nước, thằng tư sắm xe, xây nhà, sống cuộc đời vương giả. “Ăn của rừng, rưng rưng nước mắt” Nhưng rồi, những canh bạc đỏ đen nơi đất khách và sự biến động của thị trường đã quật ngã gã trai ngạo nghễ; sự tham nhũng và những lời hứa kéo dài. Đó là một chuỗi dài vắng nhà, hai đứa con gái chẳng thấy được mặt cha nhiều lần, đó là lúc một bóng dáng mới xuất hiện, dắt về và gặp phải sự từ chối của mụ Nuôi - đơn giản, đời mụ chỉ rước dâu một lần. Thằng tư thua trắng, gánh trên vai những khoản nợ khổng lồ, tay trắng trở về nhà trong sự bàng hoàng của mụ Nuôi.
Mụ đã cố gắng gầy công xây dựng cho thằng tư, ra sức dẹp bỏ đi những thứ gọi là “dát về” phù phiếm – cái thứ danh hào nhoáng giả tạo bên ngoài mà người đời hay trưng trổ để lòe thiên hạ – bởi cả đời mụ đã quá mệt mỏi, ghê tởm những hư danh huyễn hoặc của dòng họ Phan. Mụ không muốn những bi kịch mục nát ấy lặp lại trên cuộc đời con mình.
Nhưng trớ trêu thay, một chân công chức nhà nước bình lặng, sáng cắp ô đi tối cắp về, làm sao đủ để trói buộc cái chí trai dặm nghìn da ngựa của thằng tư. Tâm trí nó lúc nào cũng quay cuồng nhớ về quãng thời gian sinh viên nghèo khó nhưng rực rỡ cùng bạn bè dưới mái nhà ký túc xá đại học. Nó nhớ từng trận càn quét, những đợt truy quét đô thị của một thời sinh viên sôi nổi chịu nhiều bom đạn, sóng gió. Để rồi dẫu sau này có thất bại ê chề, tay trắng trở về, nó vẫn cố chấp bám víu, duy trì mối quan hệ với những người bạn học cũ nay đã thành công thành đạt. Cái sĩ diện của một gã đàn ông thất thế khiến tâm trạng nó lúc nào cũng như kẻ đi hoang, cứ loay hoay mãi mà không tìm thấy bến đỗ bình yên cho riêng mình.
Sau bốn thằng con trai, mụ sinh được đứa con gái thứ năm – kết tinh tiếp theo ở một khoảng trời những năm khói lửa ác liệt nhất, Giáp Dần 1974. Oanh oanh, liệt liệt như đúng cái tên vận vào người, nhưng cuộc đời con bé lại là một chuỗi hy sinh thầm lặng. Nó tự nguyện bỏ học ngay từ thời tiểu học để cùng mụ bắt đầu chuỗi ngày bươn chải kiếm sống. Ngày đó, nó ngây thơ nghĩ mình là phụ nữ thì chẳng cần phải học cao làm gì, chỉ cần tảo tần làm lụng để kiếm tiền chăm lo cho cánh đàn ông trong dòng họ Phan này biết con chữ, để mai này tụi nó thành tài, lập nghiệp vẻ vang với đời.
Thế là lận đận suốt một đường đời. Những trận càn quét run bần bật nơi góc chợ, cuộc đời “mua gánh, bán bưng” đầy tủi nhục một lần nữa lại vận vào chính đứa con gái của mụ, y hệt như kiếp sống của mẹ nó ngày xưa. Tình duyên cứ thế trôi tuột đi ở cái thời son sắt nhất. Người ta nhìn vào, cứ nghĩ con bé sẽ chẳng thể nào tìm được một đức lang quân khi mà lúc nào quẩn quanh bên cạnh cũng có mụ ngồi canh chừng, xét nét kỹ lưỡng từng người. Nhạc sĩ Trần Tiến viết bài "Chị tôi" dường như là để dành riêng cho đứa con gái thứ năm của mụ ở thời điểm đó, cô đơn và lặng lẽ héo úa theo thời gian. Cho đến một ngày, khi “cầu xây xong đã lâu, đã có người về đưa dâu”, người đàn ông tìm đến rước nó đi là một gã cùng gốc gác nơi mảnh đất miền Trung đầy nắng gió. Mụ mừng thầm trong bụng, tưởng con đã có bờ vai nương tựa. Đâu ngờ, cuộc đời tàn nhẫn lại tiếp tục quăng vật đứa con gái tội nghiệp của mụ vào một góc tối tăm, nghiệt ngã khác của số phận phụ nữ: chuyện hiếm muộn, khát khao có một mụn con.
Sài Gòn, 2015
Mười một năm ròng rã đẫm nước mắt ngược xuôi, cuối cùng đứa cháu gái cũng chịu ra đời, giống như một phép màu trút hết cả gánh nặng ngàn cân cho mụ về đứa con gái thứ năm.
Mụ nhớ mãi những ngày tháng kinh hoàng ở một góc Sài Gòn năm ấy. Để giữ được giọt máu thiêng liêng sau ca thụ tinh nhân tạo đầy may rủi, đứa con gái oanh liệt ngày nào của mụ phải chấp nhận một chế độ cử kiêng, hạn chế đi lại vô cùng khắt khe và tù túng. Đó là những ngày hai mẹ con dắt díu nhau ở nhờ người thân trong một căn nhà nhỏ hẹp nơi góc phố Sài Gòn. Cả thế giới của người phụ nữ mang thai khi ấy chỉ vỏn vẹn trong phạm vi di chuyển từ chiếc giường ngủ đến cái nhà vệ sinh chật chội vài mét vuông. Suốt cả một tháng trời ròng rã, con bé không được bước chân ra khỏi cửa, không được nhìn thấy ánh mặt trời, chỉ nằm im bất động chịu đựng những cơn đau nhức thể xác và sự tra tấn về tinh thần. Mụ Nuôi ngồi bên cạnh, vừa chăm chút từng thìa cháo, vừa vuốt ve đôi bàn chân sưng phù của con, lòng rưng rưng tự hỏi: Rốt cuộc, cái kiếp đàn bà phải chịu khổ sai, chịu đày đọa đến mức nào thì mới được trọn vẹn một tiếng làm mẹ?
Hòa bình, miền Tây những năm 1980
Nắng phương Nam những năm đầu sau ngày giải phóng đổ lửa xuống những bờ kinh xáng đục ngầu phù sa. Đất miền Tây bờ cõi mênh mông, ruộng đồng hoang hóa sau cuộc chiến bắt đầu hồi sinh bằng tiếng máy cày nổ giòn và những cánh cò trắng dập dờn bay trên ruộng lúa sạ. Hòa bình về, nhưng cuộc sống thời bao cấp thắt lưng buộc bụng đẩy những người đàn bà như mụ Nuôi vào một guồng quay mưu sinh tàn nhẫn mới. Cái nghèo, cái khó của buổi giao thời hiện rõ lên những mái lá trung quân bạc màu, những khuôn mặt lam lũ của dân tản cư.
Giữa cái bối cảnh chật vật đó, ông Liên thi thoảng lại từ phố thị tìm về với mụ trong những chuyến công tác ngầm dọc tuyến đường sông. Những cuộc gặp gỡ vội vã, vụng trộm giữa hai bờ chiến tuyến cũ đã dẫn đến việc mụ Nuôi tiếp tục mang thai lần nữa với ông. Nhưng thời cuộc không dung thứ cho sự yếu mềm. Giữa lúc kinh tế kiệt quệ, bốn đứa con trai nhe nhóc còn chưa đủ cơm ăn áo mặc, mụ Nuôi buộc phải đưa ra một quyết định tàn nhẫn: từ bỏ giọt máu chưa kịp thành hình trong bụng.
Đó là một quyết định thắt quặn lòng, nhưng chính sự nghiệt ngã của hoàn cảnh đã biến nỗi đau mất con thành liều thuốc độc, ép người đàn bà tuổi Ngọ phải đứng dậy, lao vào chợ đời. Mụ bắt đầu thực hiện cuộc hành trình kiếm sống từ một góc chợ nghèo miền Tây. Với kiến thức kinh doanh nhạy bén tích lũy từ những ngày làm bánh kẹo, bán bắp rang bơ ở rạp chớp bóng đất Thần Kinh, cộng với sự gan lì bước ra từ làn sóng đạn, mụ nhanh chóng vươn lên thành một tay buôn gạo và nông sản đình đám. Đàn ông quanh vùng nhìn mụ bằng con mắt kiêng dè; bạn hàng góc chợ nể phục sự sắc sảo, sòng phẳng của người đàn bà gốc miền Trung.
Mụ nhớ mãi cái ngày mụ tự tay giải quyết đứa bé trong bụng tại một trạm y tế xã nghèo nàn sực nức mùi thuốc sát trùng rẻ tiền. Bước ra khỏi cửa trạm với thân xác rệu rã và cõi lòng trống hoác, mụ đứng bên mé sông, lén lút châm một điếu thuốc Salem mà một người quen buôn hàng lậu vừa dúi cho. Làn khói thuốc từ điếu Salem khẽ bay qua khóe môi mụ, mang theo mùi bạc hà mát lạnh nhưng cay xè mắt. Vị đắng chát của làn khói hòa cùng vị mặn của giọt nước mắt lăn dài trên vách má đồi mồi. Điếu thuốc ấy, làn khói cay nồng ấy chính là cột mốc tàn nhẫn, đánh dấu ngày mụ chôn vùi sự yếu đuối cuối cùng của một người vợ, chính thức khẳng định vị thế bất bại của một "bà trùm" cô độc giữa chợ đời miền Tây.
Lần thứ hai mụ tìm đến trạm xá, chiếc bụng lùm lùm sau lớp áo nhuộm màu củ nâu đã bắt đầu máy động. Mụ đã ngồi trên băng ghế xi măng lạnh ngắt, ngửi cái mùi thuốc tẩy nồng nặc đến lợm giọng, sẵn sàng buông tay một lần nữa để nhẹ gánh chợ đời. Thế nhưng, đúng vào cái khắc nghiệt đó, mụ bắt gặp một người đàn bà bạn hàng quen mặt trong sạp chợ cũng đang rũ muôi, ngồi co quắp chờ đến lượt phá thai lần thứ hai. Cái dáng vẻ rã rời, đôi mắt xám ngoét vô hồn như một cái xác không hồn của người đồng cảnh ngộ đập vào mắt mụ chát chúa. Mụ giật mình. Cái máu gan lì của người đàn bà tuổi Ngọ trỗi dậy, mụ đứng phắt dậy, ôm lấy bụng mình rồi quay đầu chạy thẳng ra khỏi trạm xá, quyết định giữ lại giọt máu cuối cùng bằng mọi giá.
Và đứa trẻ sống sót sau cái đêm quay xe định mệnh đó, cuối cùng chính là thằng út.
Đứa con út lớn lên trong sự chứng kiến những trận càn của cuộc sống thời bình nhưng tâm hồn lại đầy rẫy những vết thương lòng khuất lấp. Mụ Nuôi nhắm mắt lại, làn khói thuốc nhạt dần, dẫn mụ nhớ về bối cảnh miền Tây những năm 2000 nghèo khó. Có lần, thằng út mê xem cái tivi màu đen trắng nhà hàng xóm, mải miết nhìn thế giới xa lạ qua khung kính mà không nghe thấy tiếng kêu réo gọi về của anh hai trên chiếc ghe nhỏ đang chông chênh giữa dòng nước nổi. Để rồi khi lội nước về ghe, nó đã bị thằng hai – gã anh trưởng cộc cằn, thô bạo – đánh một trận thừa sống thiếu chết đến mức ngất xỉu ngay trên sàn ván.
Lần khác, chỉ vì vài ba cái mâu thuẫn vụn vặt của lũ trẻ con chơi cùng xóm lội bùn, thằng ba đã nổi máu lãng tử anh hùng cục cằn, lôi thằng út ra đánh đến tưa cả một cây chổi cùn dựng đầu hè. Lớn lên một chút, khi cái nghèo cái khổ bắt đầu phân hóa, hình ảnh thằng tư từ Sài Gòn xa hoa tráng lệ trở về, thẳng tay vứt cho thằng út chiếc cặp da hàng hiệu mốc meo cùng đống quần áo bẩn thỉu như một gã chủ cả thuê người giặt hộ, đã hằn sâu vào tâm trí non nớt của nó cái mặc cảm ê chề. Sự phân biệt giàu nghèo tàn nhẫn không ở đâu xa, mà đóng đinh ngay trong chính gia đình ruột thịt của nó, dưới sự bất lực đau đớn của mụ Nuôi.
Phố thị Sài Thành hoa lệ nhưng lạnh lùng đã làm lòng mụ Nuôi rách nát, giống như khe suối khô hạn bấy lâu nay có giọt nước róc rách chảy qua, tự dưng được dịp tích tụ thành dòng nước mắt muộn màng. Mụ nhớ một ngày nắng gắt, thằng út chở mụ đi qua một con đường đông đúc ở Sài Gòn, khẽ chỉ tay vào một góc khuất trên căn gác nhỏ của một ngôi nhà cổ kính. Đó là nơi mụ đã dắt nó đến để lắng nghe buổi giảng đạo của một vị đức Lạt Lai từ phương xa tìm đến đất nước hình chữ S. Trong không gian tĩnh lặng sực nức mùi trầm, mụ Nuôi cứ rắm rứt lòng mình, tự trách bản thân lẽ ra phải mua được cho thằng út một căn nhà nhỏ tại phố thị này, để nó không phải bôn ba, lang thang nơi phố lạ quê người.
Mụ khóc, khóc như con nước lũ năm xưa cuốn trôi nửa làng Sình ra biển.
Mụ tự nhận mình là "chị Tư", một danh xưng bình dị ở một góc chợ miền Tây khi hòa bình lặp lại năm 1975. Sau ngày đất nước thống nhất, mụ mang những đứa con từ chiến khu và miền Tây về lại chốn cũ Sài Gòn, để rồi bàng hoàng nhận ra mình đã mất trắng tại đây. Ông Liên không còn là của riêng mụ nữa. Ông đã có một người đàn bà khác, một cuộc sống khác ở một góc trời khác. Mụ lẳng lặng rút lui, tự sắp xếp cuộc đời mình sang một trang mới, chấp nhận làm người đàn bà buôn tẩu ở mảnh đất miền Tây đầy nắng gió.
Mụ quay sang Kăn Lịch, ánh mắt lộ rõ vẻ quyết đoán:
– Lịch nờ. Xong chuyến này, em không ở lại Huế đâu. Em phải ra Quảng Trị một chuyến. Em muốn tìm lại Mary – người con gái lai, người chị em kết nghĩa năm nào của em. Chỉ có ở đó, em mới tìm lại được cái phần đời chưa bị bão táp của dòng họ Phan này vùi dập.
Có một nỗi cay đắng chôn sâu mà suốt chặng đường mụ Nuôi không thể cất lên thành lời, bởi mụ nghĩ ngần ấy bi kịch đã là quá sức chịu đựng đối với Kăn Lịch.
Đó là sự thật trớ trêu đằng sau những tờ giấy khai sinh của năm đứa con mụ. Cả năm đứa, từ thằng Dũng, thằng Hùng, thằng Anh, thằng Chiến cho đến đứa con gái thứ năm tên Oanh, trên giấy tờ hộ tịch hợp pháp đều phải đứng tên người mẹ là mụ Cả.
Đó là cái danh phận nghiệt ngã mà ông Liên – người chồng mang danh vĩ mô của mụ – đã lẳng lặng làm sẵn và để lại, như một sự sắp xếp sòng phẳng của thời cuộc. Mụ sinh ra chúng, mang nặng đẻ đau, nhưng về mặt luật pháp của triều đại cũ, mụ chỉ là hư vô. Đám con mụ, trên danh nghĩa, mãi mãi thuộc về người đàn bà chính thất của họ Phan.
Nỗi khoắc khoải của hai người đàn ông tên Dũng
Trong khi chiếc Limousine chở mụ Nuôi đang xuyên qua màn đêm hướng về phía Bắc, thì tại một ngôi nhà vườn cổ kính lợp ngói liệt ở vùng ngoại ô Huế, bầu không khí cũng trầm mặc và ngột ngạt không kém. Tiếng mưa đêm rả rích rơi trên những tán lá vạn tuế ngoài sân, hòa cùng tiếng ếch nhái uể oải kêu sau vườn chuối gãy đổ sau lũ.
Bên trong gian nhà, dưới ánh đèn măng-sông tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, hai người đàn ông đang ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn gỗ gụ sứt góc. Bối cảnh xung quanh sực nức mùi trà hoang được pha bằng nước mưa và vị ẩm mốc đặc trưng của những mảng tường vôi cổ sau mùa lũ lụt.
Dũng – con trai cả của mụ Nuôi – ngồi bất động, đôi bàn tay gầy xương bấu chặt vào ly nước trà đã nguội ngắt. Khuôn mặt gã hằn sâu những nếp nhăn của sự bức bách, do dự. Gã đang phải đối diện với một câu hỏi lớn: Có nên tham dự vào lễ truyền ngôi, định đoạt lại chi thứ của gia tộc họ Phan vào sáng mai hay không? Đằng sau sự tranh giành chiếc ấn ngọc bích cổ kính kia là cả một nỗi niềm khắc khoải của những người đàn ông mang trọng trách kế thừa dòng họ.
Đối diện gã là Thắng – người em họ, nhưng tên khai sinh cũng chính là Dũng. Thắng là đứa con trai duy nhất của thím Loan (vợ ông Lâm). Hai người đàn ông, cùng họ Phan, cùng tên Dũng, và cùng chung cả chữ lót. Cái tên ấy chính là giấc mơ chung của ông Liên và ông Lâm – hai anh em ruột đã gửi gắm vào hai đứa con trai đầu lòng của mình, với mong muốn hai đứa sẽ cùng nhau làm nên sự “Hùng Dũng” để vực dậy gia thế đang ngày một suy vi của dòng họ Phan dưới thời buổi biến động; gần như không thể thay thế nhau. Đánh cho Mỹ chạy, đánh cho Ngụy nhào; tre già thì măng mọc.
Thắng khẽ đẩy đĩa gừng ngào đường về phía anh họ, giọng trầm ấm:
– Anh Dũng... Sáng mai là lễ truyền ngôi rồi. Thằng Trần Bình và vị Trưởng thượng đang chuẩn bị mọi thứ ở chánh điện. Anh là con đầu của mụ, anh không thể trốn tránh mãi được. Anh định có mặt không?
Dũng khẽ thở dài, ngón tay gõ nhịp đều đặn xuống bàn gỗ nghe khô khốc:
– Chú Thắng à... Chú nhìn xem, từ thời mệ nội Thục Từ, đến mụ Cả, mụ Nuôi, rồi bà Tư Vũng Tàu, có người đàn bà nào bước chân vào cái từ đường họ Phan này mà được sống hạnh phúc trọn vẹn một ngày không? Tụi đàn ông chúng ta cứ một mực muốn sự bao dung của họ, rồi lại dùng sự ích kỷ, tham lam của mình để bắt họ phải gánh chịu những bi kịch của thời cuộc. Tôi do dự không phải vì tôi sợ thằng Trần Bình hay cái dự án nghỉ dưỡng của nó. Tôi do dự vì tôi sợ... tôi sợ nếu mình bước chân vào cái chánh điện đó, đặt tay lên chiếc ấn ngọc đó, tôi lại tiếp tục trở thành một gã đàn ông như ông cụ Liên ngày xưa, bắt vợ con mình phải chìm trong vũng lầy hận thù không lối thoát.
Thắng im lặng, nhìn xoáy vào chén trà xanh sóng sánh. Gã hiểu sự giằng xé trong lòng người anh họ. Cái tên "Dũng" mà hai người cha đặt cho họ, rốt cuộc không phải để tranh giành một chiếc ấn ngọc vô tri, mà là để có đủ dũng khí bước ra khỏi cái bóng ma phong kiến đang đè nặng lên từng số phận dưới mái nhà cổ kính này. Cuộc chuyện trò của hai người đàn ông tên Dũng kéo dài đến tận canh ba, giữa tiếng gió lay qua khe cửa gỗ, bỏ ngỏ một quyết định đầy kịch tính cho ngày hội ngộ sáng hôm sau.
DẬY THÌ - NGƯỜI ĐÀN BÀ LAI
Nằm trên băng ghế da êm ái của chiếc xe đang lao đi trong đêm, mụ Nuôi nhắm nghiền mắt lại. Tiếng động cơ xe rì rầm ngoài kia dần lùi xa, nhường chỗ cho tiếng gió sông Hương của một thuở xa xăm dội về, kéo mụ chìm sâu vào những hồi ức của những năm tháng tuổi thơ thơ dại—cái thuở mụ vẫn còn là con bé Nuôi ngô nghê, chưa một ngày bị cái danh phận dâu con dòng họ Phan này xiềng xích, đọa đày.
Mụ nhớ như in những năm đầu thập niên 1950 đầy biến động ấy. Hiệp định Genève vừa ký kết xong xuôi, vĩ tuyến 17 thình lình vạch một đường cắt ngang đất nước làm đôi. Huế của mụ đột ngột bị quăng vào giữa vòng xoáy, trở thành một trung tâm chính trị – văn hóa đô thị miền Nam đầy bất ổn dưới thời Ngô Đình Diệm. Những dòng người di cư lục tục đổ về, rồi những người lính Mỹ đầu tiên bắt đầu nghênh ngang xuất hiện trên đường phố. Họ mang theo khói xăng khét lẹt, thứ âm nhạc xập xình và lối sống thực dụng phương Tây, cứ thế xung đột chan chát, bôm bốp với cái nếp sống phong kiến, cung đình rêu phong và thủ cựu của đất Kinh kỳ.
But giữa cái bối cảnh xáo trộn, tranh tối tranh sáng ấy, ông trời lại cho mụ gặp Kăn Lịch. Ngày đó, mụ mới là một con bé mười bốn tuổi đầu óc rỗng tuếch, còn Lịch là cô bé người dân tộc Pa Kô bước ra từ chiến khu miền núi phía Tây Thừa Thiên. Lịch có đôi mắt sáng rực như hai ngôi sao đêm giữa đại ngàn và một tính cách hoang dã, can trường chẳng biết sợ hãi là gì. Hai đứa con gái—một đứa dưới xuôi sương gió, một đứa trên ngàn lam lũ—đã quấn quýt lấy nhau, cùng nhau lớn lên dưới những bóng cây đại già rụng trụi lá bên dòng sông Hương. Chúng nó đã đi qua những ngày tháng đói kém bằng cách chia nhau từng củ sắn lùi cháy sém, bẻ đôi từng quả vả chín chát ngọt, và gằn vai gánh những bó củi khô từ đường núi đem về phố bán kiếm sống qua ngày.
Cứ ngỡ cái nghèo mà yên bình đó sẽ kéo dài mãi, nhưng rồi, một bước ngoặt đột ngột ập đến, tàn nhẫn xé nát cái tuổi thơ trong trẻo, không lo nghĩ của hai đứa. Mụ sẽ không bao giờ quên được cái buổi chiều thu xám xịt năm 1956 ấy. Mệ ngoại của mụ—người thân duy nhất, là chỗ dựa hơi ấm cuối cùng của mụ trên cuộc đời này—đã đột ngột trút hơi thở cuối cùng, nằm im lìm, lạnh ngắt trên chiếc giường tre ọp ẹp. Mụ mất mệ, mất đi cả bầu trời che chở, chính thức bị quăng ra giữa chợ đời lộng gió kể từ ngày hôm đó.
Trớ trêu thay, đúng vào cái khoảnh khắc mụ Nuôi hoảng hốt nhận ra hơi ấm trên tay mệ ngoại đã tắt hẳn, thì dưới gấu quần nâu sồng của mụ, dòng máu kinh nguyệt đầu đời bất ngờ tuôn chảy, nóng hổi và quạnh đỏ. Sự trùng hợp đến nghiệt ngã ấy khiến con bé Nuôi 14 tuổi khóc thét lên vì sợ hãi. Mụ cứ tưởng mình đang phải gánh chịu một thứ hình phạt tâm linh ghê rợn vì cái chết của mệ.
Giữa gian nhà tranh vắng lặng sực nức mùi tử khí, chỉ có Kăn Lịch ở bên cạnh. Hai đứa con gái ngô nghê, không có một người lớn nào chỉ bảo, đã cùng nhau loay hoay tìm hiểu về sự trưởng thành của cơ thể phụ nữ. Lịch đã chạy ra bờ suối, hái những chiếc lá rừng có tính sát khuẩn và dùng mảnh vải thô rách để lau đi vết máu đầu đời cho mụ Nuôi, vỗ về mụ bằng thứ tiếng Kinh chưa sỏi:
– Nuôi nờ... Đừng sợ. Con gái ai cũng phải chảy máu như rứa mới lớn được. Từ nay, Nuôi hết làm con nít rồi.
Mụ Nuôi chính thức trở thành đứa trẻ mồ côi từ ngày mệ ngoại qua đời. Sau đám tang lạnh lẽo và đơn độc ấy, mụ buộc phải gói ghém vài bộ đồ rách rưới, rời bỏ gian nhà tranh lộng gió để về nhà người dì—mẹ của cậu Tám và cậu Lữ—để nương tựa sinh sống.
Ngôi nhà của người dì là một thế giới hoàn toàn khác biệt đối với mụ. Đó là nơi phong kiến ngột ngạt với những quy củ hà khắc đến nghẹt thở, nơi mụ bắt đầu phải học cách cúi đầu, nhẫn nhục và làm việc quần quật từ tờ mờ sáng đến đêm khuya để đổi lấy miếng cơm manh áo qua ngày. Nhưng giữa cái bầu không khí xám xịt, xơ cứng đầy định kiến ấy, ông trời vẫn rủ lòng thương khi cho mụ có cậu Tám và cậu Lữ—hai người đàn ông duy nhất trong cái gia đình ấy hết mực yêu thương, đùm bọc đứa cháu gái côi cút này.
Cậu Tám và cậu Lữ lúc bấy giờ là những người đàn ông có học thức, tài hoa. Cậu Lữ làm nghề thông ngôn, một phiên dịch viên đắt giá cho quân đội Mỹ tại mảnh đất Bình Trị Thiên đầy khói lửa bấy giờ. Ký ức sâu đậm nhất của mụ Nuôi về những ngày tháng huy hoàng ngắn ngủi đó là hình ảnh mỗi lần cậu Lữ đi làm về. Cậu cao lớn, phong nhã, vai vác cả bao tiền lớn quăng cái rầm xuống chiếc phản gỗ giữa nhà, cười hào sảng bảo mọi người xúm lại đếm. Những xấp tiền giấy thẳng thớm, thơm mùi mực mới ngập tràn cả gian phòng. Mỗi lần nhìn mụ Nuôi lầm lũi bưng nước hầu hạ, cậu Lữ lại xoa đầu mụ, ánh mắt trìu mến hứa chắc nịch:
– Con Nuôi đừng lo. Đợi qua đợt này, cậu sẽ lo cho con ăn học đàng hoàng, kiếm một cái nghề tử tế để làm lấy cái cần câu cơm, không phải chịu kiếp gánh củi, chạy chợ cực thân nữa nghe con!
Lời hứa của cậu Lữ ấm áp như bếp lửa đêm đông, gieo vào lòng con bé Nuôi 14 tuổi một niềm hy vọng lấp lánh về tương lai. Câu nói ấy thiêng liêng đến mức, suốt cả cuộc đời lưu lạc rách nát sau này, mỗi khi chạm vào những tủi nhục tột cùng, mụ Nuôi lại rấm rức nhắc hoài một câu cửa miệng đầy tiếc nuối: "Nếu cậu Lữ còn sống và tỉnh táo, thì đời mụ đã không khổ đến nông nỗi này..."
Đâu ai ngờ, dâu bể thời cuộc ập đến nhanh như một cái chớp mắt. Khi quân đội Mỹ bắt đầu mất dần quyền kiểm soát tại vùng chiến thuật Bình Trị Thiên, họ chuẩn bị rút lui và yêu cầu cậu Lữ cùng gia đình phải di tản sang Mỹ để bảo toàn tính mạng. Nhưng lòng yêu quê hương, đất tổ quê cha đã khiến cậu Lữ thẳng thừng từ chối lời đề nghị viễn xứ ấy.
Sự bướng bỉnh và từ chối của cậu đã phải trả một cái giá quá đắt. Để bảo mật hoàn toàn cho những tài liệu, những cuộc trò chuyện quân sự tuyệt mật mà cậu từng làm thông ngôn suốt bao năm qua, người ta đã tàn nhẫn tiêm cho cậu một liều thuốc cực độc. Liều thuốc ấy không lấy đi mạng sống của cậu, nhưng nó đã phá hủy hoàn toàn hệ thần kinh, biến một người đàn ông thông minh, tài hoa, một thông ngôn kiệt xuất bỗng chốc trở thành một kẻ điên dại, ngơ ngơ ngác ngác, lúc khóc lúc cười không còn chút tỉnh táo nào để giữ hay lộ bất kỳ bí mật nào nữa.
Nhìn cậu Lữ ngày nào oai phong vác bao tiền về nhà, giờ đây chỉ biết ngồi một góc cười khờ dại, bốc bùn đất chơi bên thềm, lòng mụ Nuôi như có ngàn mũi dao đâm. Chỗ dựa duy nhất vừa mới nhen nhóm đã vụt tắt. Mụ Nuôi một lần nữa bị đẩy rơi xuống vực sâu, chính thức bắt đầu chuỗi ngày dài chịu đựng giông bão cuộc đời khi không còn ai che chở.
Hélène
Nhưng cũng chính tại ngôi nhà của cậu Tám, mụ Nuôi đã gặp Hélène – người đàn bà lai Pháp, vợ của cậu Tám. Hélène là người phụ nữ có nhan sắc rực rỡ nhưng mang một số phận vô cùng lạc loài. Cha bà là một sĩ quan quân đội Pháp đã bỏ rơi hai mẹ con bà khi quân Pháp rút về nước sau năm 1954. Về làm dâu nhà cậu Tám, Hélène bị gia đình chồng coi khinh, rẻ rúng là "máu lai hoang dại", là thứ sản phẩm thừa thãi của thời cuộc. Sự cô độc và ghẻ lạnh đã kéo hai tâm hồn – cô bé Nuôi mồ côi 14 tuổi và người đàn bà lai Pháp xinh đẹp – xích lại gần nhau. Họ tìm thấy ở nhau sự đồng điệu của những kẻ bị gạt bỏ bên lề gia tộc.
Năm 1957, để tự cứu lấy mình khỏi sự khinh miệt chỉ biết ăn bám, mụ Nuôi cùng Hélène phải bắt đầu chạy chợ bán kẹo bánh, tần tảo kiếm từng đồng cắc nuôi sống bản thân với sự giám sát người dì, má của cậu Tám, cậu Lữ.
Trong một lần vô tình nhìn thấy những người lính Mỹ da màu ăn thứ hạt gì nổ bung ra, thơm lừng mùi bơ tại một góc phố, mụ Nuôi – với óc kinh doanh nhạy bén thiên bẩm – đã nảy ra một ý tưởng táo bạo: làm bắp rang bơ để bán ở các rạp chớp bóng ở Huế. Đây là một món ăn vô cùng xa lạ, chưa từng có ai làm ở đất Kinh kỳ bấy giờ.
Trong một lần vô tình nhìn thấy những người lính Mỹ da màu ăn thứ hạt gì nổ bung ra, thơm lừng mùi bơ tại một góc phố gần cư xá sĩ quan ở Huế, mụ Nuôi – với óc kinh doanh nhạy bén thiên bẩm – đã nảy ra một ý tưởng táo bạo: làm bắp rang bơ để bán ở các rạp chớp bóng ngay tại đất này. Đây là một món ăn vô cùng xa lạ, chưa từng có ai làm ở xứ Kinh kỳ cựu trào bấy giờ.
Mụ gom góp số tiền ít ỏi tích lũy được từ những buổi gánh củi, mua một chiếc nồi gang dày từ chợ Dinh, ít hạt bắp nếp địa phương và vài hộp bơ sáp quân tiếp vụ tuồn ra từ những cửa hàng bán đồ phế thải của lính Mỹ. Hàng đêm, dưới gian bếp nhỏ ám khói trong ngôi nhà vườn của cậu Tám ở vùng Kim Long ngoại ô Huế, mụ Nuôi và Hélène lại cùng nhau nhóm củi gộc. Tiếng bắp nổ lụp bụp đều đặn bên tai và mùi bơ thơm lừng, béo ngậy tỏa ra, đánh thức cả một vùng ký ức nghèo khó nhưng đầy ắp hy vọng của hai tâm hồn lạc loài.
Hai người đàn bà đóng bắp vào những chiếc túi xếp bằng giấy báo cũ, dựng một chiếc xe đẩy bằng gỗ thô sơ có hai bánh xe đạp hỏng. Khi trời chập choạng tối, họ liều lĩnh đẩy xe hàng vượt vài cây số dọc bờ sông Hương vào thẳng trung tâm thành phố, dừng trước rạp chớp bóng "Tân Tân" – nơi gã Lý trưởng rạp chớp bóng, Sáu "Bình" (một kẻ trung thành với chế độ mới, khét tiếng thực dụng và hách dịch) đang cai quản dưới trướng mật vụ Trần Văn Bình.
Đêm hôm đó, ánh đèn neon màu của rạp chớp bóng rực rỡ hắt xuống những tà áo dài trắng của đám học sinh Đồng Khánh, Quốc Học đang đứng xếp hàng chờ mua vé xem phim Pháp. Mùi bơ thơm phức, ấm nóng từ chiếc xe đẩy của mụ Nuôi nhanh chóng thu hút đám đông thanh niên trẻ tuổi hiếu kỳ. Những đồng tiền cắc đầu tiên rơi vào chiếc hộp thiếc kêu lẻng kẻng, lẻng kẻng giòn giã, khiến lồng ngực mụ Nuôi rộn ràng một niềm vui tự chủ chưa từng có.
Ngay phía bên kia đường, dưới bóng râm của một rặng long não cổ thụ, một chiếc xe Citroën Traction Avant màu đen tuyền cáu cạnh đang im lìm nổ máy, đèn pha tắt phụt. Kính sau của xe khẽ hạ xuống một lóng tay, để lộ một làn khói thuốc xì-gà mỏng bay ra, thơm mùi lá thuốc ngoại quốc đắt tiền.
Bên trong khoang xe tối tăm, đặc vụ Trần Văn Bình đang cúi rạp người, nét mặt đầy vẻ kính cẩn lẫn sợ hãi trước một người đàn ông trung niên mặc complet sẫm màu, mái tóc chải mượt ngược ra sau, đôi mắt sắc lạnh giấu sau làn khói xám. Đó chính là Cố vấn tối cao Ngô Đình Nhu – bộ óc quyền lực nhất đứng sau toàn bộ guồng máy mật vụ miền Nam bấy giờ, người đang thực hiện chuyến thị sát ngầm từ Sài Gòn ra Huế để kiểm tra mức độ kiểm soát an ninh đô thị.
Gã cố vấn không thèm nhìn đám đông đang hân hoan quanh chiếc xe bắp rang bơ, gã chỉ gõ nhẹ ngón tay đeo nhẫn vàng xuống bọc da ghế, cất giọng trầm thấp nhưng uy quyền, sắc lạnh:
– Thằng Bình nờ... Hãy bảo đảm rằng những thứ "văn hóa vỉa hè" lai Mỹ đó không che mất tai mắt của mật vụ chúng ta tại các phòng trà và rạp chớp bóng. Đừng để một con bé bán bắp và một mụ lai Pháp làm loạn cái nề nếp đô thị này mà tôi đang xây dựng. Lo liệu cho sạch sẽ vào!
– Dạ thưa Cố vấn, em hiểu rồi ạ! – Trần Văn Bình run rẩy cúi đầu vâng lệnh.
Chiếc Citroën đen âm thầm lăn bánh, lướt qua rạp chớp bóng rồi mất hút vào màn đêm sâu thẳm của phố thị Huế, để lại sau lưng gã tay sai Sáu Bình đang hăm hở bước ra từ phòng vé với chiếc roi da cầm tay, bắt đầu tiến về phía chiếc xe đẩy của mụ Nuôi và Hélène.
Đêm hôm đó, ánh đèn màu của rạp chớp bóng rực rỡ hắt xuống đường phố. Mùi bơ thơm phức từ chiếc xe đẩy của mụ Nuôi nhanh chóng thu hút đám đông thanh niên, học sinh Đồng Khánh, Quốc Học đứng xếp hàng chờ mua. Những đồng tiền cắc đầu tiên rơi vào chiếc hộp thiếc kêu lẻng kẻng khiến lòng mụ Nuôi rộn ràng niềm vui.
– Ai cho phép tụi bây mang cái thứ đồ ăn lai căng này đến quấy rối rạp chớp bóng của tao? Tịch thu hết cho tao!
Nhìn thấy nhan sắc rực rỡ, đằm thắm của Hélène dưới ánh đèn rạp, đôi mắt Sáu Bình lộ rõ vẻ thèm khát đê tiện. Gã tiến lại gần, đưa bàn tay thô bạo định sàm sỡ, vuốt ve khuôn mặt lai Pháp của bà:
– Hoặc là... cô em lai Pháp này chịu đi với tao một đêm, tao sẽ cho phép cái xe bắp này đứng đây bán suốt đời.
Hélène sợ hãi lùi lại. Trong khoảnh khắc kịch tính ấy, mụ Nuôi – dù mới 14 tuổi nhưng đầu óc vô cùng nhanh nhạy và lém lỉnh – đã nhanh chóng bước lên chắn trước mặt Hélène. Mụ cố tình nở một nụ cười ngây thơ, cúi đầu cung kính:
– Dạ thưa ông Lý trưởng... Tụi em thân cô thế cô, có biết chi đâu ạ. Món bắp này tụi em làm riêng để dâng lên ông dùng thử trước. Tiện đây, cậu Lữ nhà em có gửi biếu ông chai rượu nếp cẩm ngon lắm, ông dùng thử một ly cho ấm lòng đêm lạnh ạ.
Vừa nói, mụ Nuôi vừa lanh tay rót một ly rượu nếp cẩm đậm đặc (mà mụ đã lén pha thêm chút thuốc ngủ nhẹ của người dì vào từ trước để phòng hờ) dâng lên bằng hai tay. Sáu Bình nghe danh cậu Lữ, lại thấy con bé nhỏ nhắn ngoan ngoãn, liền mất cảnh giác. Gã cười hô hố, nốc cạn ly rượu rồi ngoắc tay cho đám lính lệ tránh ra.
Chỉ chưa đầy mười lăm phút sau, chất cồn hòa cùng thuốc ngủ bắt đầu ngấm, gã Sáu Bình mặt đỏ gay, lảo đảo rồi gục xuống chiếc ghế bành ở lối vào rạp chớp bóng, ngáy khò khò.
– Hélène nờ! Chạy mau! – Mụ Nuôi khẽ thì thầm.
Không một chút chần chừ, mụ Nuôi và Hélène cùng nhau dùng hết sức lực đẩy chiếc xe bắp rang bơ băng qua những con hẻm tối tăm của Huế, trốn thoát khỏi sự truy đuổi của đám lính lệ. Đêm đó, dưới mái hiên nhà cậu Lữ, hai người đàn bà ngồi đếm lại những đồng tiền cắc ướt đẫm mồ hôi, vừa thở dốc vừa bật cười khúc khích vì cú lừa ngoạn mục dành cho gã lý trưởng hách dịch.
Chính những đồng tiền cắc đầu tiên từ chiếc xe bắp rang bơ ấy đã nuôi sống gia đình người dì suốt những năm tháng loạn lạc, và cũng là cột mốc đầu tiên đánh dấu sự tự chủ, óc kinh doanh bén nhạy của mụ Nuôi trước khi mụ bước vào cuộc đời làm dâu đầy giông bão của dòng họ Phan.
1998, Quảng Trị
Nắng tháng Bảy ở miền Trung dội xuống đất Quảng Trị cái nóng như rang, như quạt, khô khốc và nồng vị gió Lào. Mụ Nuôi bước xuống từ chuyến xe đò bụi bặm, bàn chân mang dép cao su giẫm lên lớp cát nóng bỏng của dải đất một thời bom cày đạn xới.
Làng hiện ra trước mụ bằng một sự đối nghịch đến nao lòng. Một bên là dòng sông Thạch Hãn lững lờ trôi, mặt nước phẳng lặng như tờ nhưng dưới đáy sâu lại là nơi nhuộm đầy máu, xương và nước mắt của hàng vạn con người đã nằm xuống trong những năm tháng khói lửa ác liệt nhất. Con sông hiền hòa ấy mang một gánh nặng tâm linh quá lớn, khiến người đi qua chỉ dám nhìn mà không dám thở mạnh. Một bên là ngôi miếu cổ rộng lớn, mái ngói âm dương rêu phong xám xịt, đứng trầm mặc tựa lưng vào bụi tre ngà khổng lồ ngay đầu làng. Bụi tre ấy rễ bám sâu vào lòng đất cằn cỗi, như một chứng nhân lịch sử cố bấu giữ lấy từng tấc đất quê hương qua bao mùa bão giông và đạn bom càn quét.
Trải dài từ bệ thờ ngôi miếu cổ xuống sát mép nước dòng Thạch Hãn là một bãi cát trắng dài, mịn màng nhưng bỏng rát. Cứ mỗi độ tháng Bảy âm lịch về, bãi cát này lại trở thành một cõi âm cảnh giữa trần gian. Người dân trong vùng bày biện la liệt những chiếc bàn cúng tạm bằng tre, những mâm lễ đơn sơ với cháo loãng, khoai luộc, muối hạt, bỏng ngô và hàng ngàn nén nhang thắp lên nghi ngút khói để cúng cô hồn, chiến sĩ trận vong – những linh hồn không nơi nương tựa đã nằm xuống trên mảnh đất này. Mùi trầm hương bài quyện cùng mùi đất nóng và gió sông lồng lộng tạo nên một bầu không khí thâm nghiêm, u uất đến nghẹn thở.
Mụ Nuôi chậm rãi đi từ đầu làng, chiếc nón lá che khuất nửa khuôn mặt đã hằn sâu những nếp nhăn thời gian. Bước chân mụ vững chãi nhưng trĩu nặng suy tư. Đi bên cạnh mụ là thằng Quỵ – đứa con trai mang hai dòng máu của Madame Hélène năm nào. Thằng Quỵ cao lớn, làn da bánh mật khỏe khoắn và đôi mắt sâu hoắm thừa hưởng từ mẹ. Nó khẽ gạt những nhánh tre xòa xuống đường, cất giọng rặt sệt khẩu ngữ miền Trung nhưng có phần trầm lắng:
– Dì Nuôi nờ... Đi men theo bãi cát này thêm một đoạn nữa, qua bực đá sau miếu là tới chỗ mẹ con đang ở. Mẹ cứ ngóng dì mãi.
Mụ Nuôi không nói, chỉ gật đầu, siết chặt chiếc quai nón.
Khi bóng dáng một người đàn bà luống tuổi, mặc bộ đồ bà ba tối màu, mái tóc đã pha sương đang đứng lụi cụi dọn dẹp mâm cúng cô hồn bên vách miếu hiện ra, mụ Nuôi khựng lại. Hélène – người con gái lai Pháp rực rỡ của rạp chớp bóng đất Thần Kinh năm 1957, nay đã là một bà lão khắc khổ của đất Quảng Trị.
Nhận ra tiếng bước chân trên cát, Hélène quay đầu lại. Hai người đàn bà ở hai đầu thế kỷ, trải qua hai cuộc chiến tranh và những cuộc trốn chạy dâu bể, đứng nhìn nhau trong vài giây ngắn ngủi tưởng chừng như vô tận. Giữa bãi cát dài lồng lộng gió và khói nhang nghi ngút, họ cứ đứng từ xa nhìn nhau một chập dài, như thể đang cố lách qua lớp sương mù của bốn mươi năm định mệnh để tìm lại gương mặt của đối phương thuở thanh xuân.
– Nuôi nờ... – Hélène thốt lên, giọng run rẩy nghẹn ngào, hai hàng nước mắt tự bộc phát lăn dài trên gò má đầy nếp nhăn vết đồi mồi.
– Hélène... – Mụ Nuôi khẽ gọi, chiếc nón lá trên tay run lên bần bật.
Rồi chẳng ai bảo ai, cả hai nhào tới ôm chầm lấy nhau nức nở ngay bên bụi tre đầu làng. Tiếng khóc nghẹn ngào, tức tưởi của hai người đàn bà góa bụa, rách nát sau những cuộc bể dâu vang lên xót xa giữa khoảng không gian tĩnh mịch. Mụ Nuôi vùi đầu vào bả vai đã gầy guộc của người chị em kết nghĩa, nước mắt ướt đẫm chéo áo bà ba màu chàm. Vừa khóc, mụ vừa nghẹn ngào, nấc lên từng tiếng, nửa như hờn dỗi thời cuộc, nửa như không tin vào sự thật trớ trêu này:
– Biết ai không... biết ai không mà khóc? Hélène nờ, bà biết tôi là ai không mà bà khóc nhiều như rứa?
Hélène siết chặt tấm lưng còng của mụ Nuôi, đôi bàn tay gầy guộc run rẩy vuốt dọc mái tóc bạc phơ của mụ, khóc nấc lên trong kẽ nấc:
– Nuôi nờ... Sao tôi không biết cho được! Con bé Nuôi lém lỉnh lừa gã lý trưởng Sáu Bình cứu tôi năm mười bốn tuổi ở rạp chớp bóng đất Thần Kinh... Có hóa thành tro bụi tôi cũng nhận ra bà mà!
Họ cứ thế ôm nhau khóc nức nở dưới chân ngôi miếu cổ, khóc cho tuổi trẻ đã bị dòng họ Phan và cuộc chiến tranh vùi dập, khóc cho những người đàn ông đã đi qua đời họ rồi bỏ lại những vết thương lòng rỉ máu, và khóc cho cả sự sống sót kiên cường, gan lì của hai người đàn bà tuổi Ngọ giữa dòng đời vạn biến. Tiếng khóc của họ hòa vào tiếng sóng vỗ rầm rập của dòng Thạch Hãn đầy hoài niệm, như một khúc ca tiễn biệt những cay đắng của quá khứ để mở ra một bến đỗ bình yên cuối đời.
Phần 1:https://chienphan.blogspot.com/2023/04/gio-ve-mien-trung-nguoi-ba-o-au-song.html
Phần 2: https://chienphan.blogspot.com/2023/04/gio-ve-mien-trung-2-lang-sinh.html
Phần 3: https://chienphan.blogspot.com/2026/05/story-gio-ve-mien-trung-3-tu-uong.html
Phần 4: https://chienphan.blogspot.com/2026/06/story-gio-ve-mien-trung-4-imperial.html
Phần 5: https://chienphan.blogspot.com/2026/06/story-gio-ve-mien-trung-5-ben-thuy.html
Phần 6: https://chienphan.blogspot.com/2026/06/story-gio-ve-mien-trung-6-song-khua.html
Phần 7: https://chienphan.blogspot.com/2026/06/story-gio-ve-mien-trung-7-au-xao.html
Phần 8: https://chienphan.blogspot.com/2026/06/story-gio-ve-mien-trung-8-phong-thu.html
Phần 9: https://chienphan.blogspot.com/2026/07/story-gio-ve-mien-trung-9-vang-ma.html
Phần 10: https://chienphan.blogspot.com/2026/07/story-gio-ve-mien-trung-10-tan-tro-lua.html
Phần 11: https://chienphan.blogspot.com/2026/07/story-gio-ve-mien-trung-11-sap-gu.html
“Lịch nờ! My child is dead!”
Huế, 2023.
When will the raging storms within the chest subside? Where can a restless soul turn, if not toward the eternal light to find a way out? (Nguyễn Quang Diêu)
If a person's heart is heavy with stifled resentment, and their very gut is torn to shreds, on what day can they finally find peace? Where else can a restless, indignant soul turn, if not toward the eternal light, to seek an escape?
The glossy black limousine glided smoothly over the damp road, leaving behind Sình Village, which was sinking slowly into the darkness after a night of devastating spiritual fire. The harsh Central winter headwind lashed relentlessly at the car windows, sounding as mournful as long-drawn sighs rising from the ancient earth. Through the dark, tinted glass, the moon cast a long, lanky shadow onto the asphalt, wavering as the wheels rolled on.
Inside the cabin—suffocating with the smell of antiseptic alcohol and crisp, brand-new leather—Mụ Nuôi, a woman born in the Year of the Horse (1942), leaned her frail, exhausted body entirely against the firm shoulder of Kăn Lịch. The warmth from her mountain-dwelling lifelong friend’s jacket seeped through her shoulder, yet it was powerless to thaw the icy chill in her heart. Her life had endured countless military sweeps and the listless flood seasons of Đồng Tháp Mười and Cao Lãnh, but she had never shed a tear in front of any man—not even Mr. Liên. Yet tonight, before Kăn Lịch, this resilient woman’s tears finally burst their dam, pouring out in muffled sobs like the floodwaters returning to the Perfume River in 1965.
She buried her head in Lịch's shoulder, her choked sobs shuddering violently from her thin chest:
“Lịch nờ! My child is dead!”
Kăn Lịch froze. The hand that was once so accustomed to holding a sniper rifle in the vast Trường Sơn jungles gently squeezed Mụ Nuôi's shoulder, trembling:
“Which one?”
“Hùng, the third one!”
The moment the words escaped her lips, decades of accumulated resentment and bitterness shattered all at once. The memories within Mụ Nuôi rushed back in torrents, appearing as vividly as old film reels projected in slow motion by the flickering, dim light of a peanut-shaped oil lamp.
“Did he... did he pass away peacefully?” Lịch asked softly, her voice raspy with deep sorrow.
“N... no! Lịch. He died in such agony and injustice...”
She wept, sobbing convulsively until her chest ached. It seemed this woman of the Horse year had never shed a tear for any man, save for the children born of her own flesh and blood. Four sons and one daughter bore the names given to them by Mr. Liên: Dũng, Hùng, Anh, Oanh, and Chiến—names that carried grand dreams of conquering thousands of miles on horseback, names shaped along the length of the resistance war, but which ultimately became bleeding wounds throughout her life.
She remembered her second son, the firstborn—the vessel of absolute hope and ambition for both herself and the entire Phan clan. In his infancy, he was a fragile, tiny baby with a bony, skeletal face, always sickly and frail, forcing her to cradle and cherish him through endless nights. The grander the expectations, the more wretchedly his life drifted. Looking back at the miles they traveled, she only saw her hard-earned money slowly dwindling, thrown to the wind in high-stakes, volatile business ventures.
Cao Lãnh, The Mekong Delta, 1993.
She had pooled all her savings to build a career for him on the river—a floating rice mill assembled from two massive wooden barges, securely bound together by thick planks. Day and night, the engine sputtered rhythmically, and rice bran dust blew into a haze under the muddy alluvial sunset of the Mekong Delta. Yet, amidst the bustling, lively floating market, the smooth-talking, charming rice-trading girls with their inviting smiles on the water easily seduced her second son. His career crumbled, and the rice mill sank into debt; after all, he lacked management experience—professional expertise alone was never enough.
Then, on a dreary, rainy afternoon, her reformed prodigal second son dragged home a country girl from Bến Tre, her belly heavily swollen, calling her his wife. The child was born in the land of Đồng Tháp, automatically becoming the eldest grandson of the Phan clan amidst the scathing, mocking whispers of the townspeople.
She had stood paralyzed in that windy, rainy afternoon. The torrential Southern rain beating violently against the corrugated iron sheets of the stilt house felt like sharp slaps, reminding her of their grandmother’s face from long ago. She, too, had met her during a relentless rain just like this, softly coaxing her to return to Sình Village to become the second daughter-in-law. And now, having crossed through half a lifetime of tempests, she found herself drifting and floating all the way to this watery region after the return of peace.
Should she be happy?! In her twilight years, her reformed prodigal eldest son was the very one who was always ready to drive her around and fret over her every meal and sleep, even though she wanted for nothing. She watched a lot of cải lương (reformed opera). Ever since she met the actress Thanh Nga in the blood-and-alcohol-scented secret chamber of the French Resident Superior’s Palace, and then drifted to this Mekong Delta region, cải lương had become something she loved, but also something that made her worry deeply. She was haunted by the "defiant" plots of those operas depicting parents in their old age. The scenes of children pushing the burden of "supporting mother" from one household to another, the mocking words, the cold-hearted rejections from one's own flesh and blood made her heart bleed as if her own essence were seeping out. She feared that the name "Mụ Nuôi" (literally "the foster woman") would, at the end of her life, become a liability that her children would measure and calculate.
And then there was her third son—Hùng. Unlike his older brother, Hùng was born with a towering stature, a round, bright, and highly intelligent face. He possessed the soul of a multi-talented artist, excelling in writing, sports, and arts, beloved by teachers and friends alike. It seemed the thick silt of the fertile soil during those blanketless nights spent working as a hired laborer, hauling cargo from boats up to the market, could never dull his innate elegance; it only lent a rugged, masculine edge to his wind-worn charm.
Hùng seemed to have been born to shoulder an entire empire for his older brother. His name, when combined with his brother's, formed “Hùng Dũng” (Heroic Courage). Because of that sense of loyalty, he was always the one to cast aside his own privileges, constantly yielding to his brother.
How could Mụ Nuôi ever forget the story her children told one another when they were young? In those days, with her hard-earned savings, she had bought their very first bicycle. Her second son, bullied by village boys on his way to school and forced to cart them back and forth, eventually became too terrified to ride it to school anymore. His younger brother, Hùng, upon hearing this, tightened his jaw and told his older brother: “Tomorrow, you just go to school as usual. Ride them to the banyan tree at the entrance of the village, and I’ll be waiting there to beat them up!” True to his word, Hùng waited under the shade of the ancient banyan tree, facing the rowdy kids all by himself to protect his small, timid older brother. From then on, no one dared touch a single hair on the second son's head.
Ironically, Hùng was the one who got beaten the most. All the exhaustion and stifled rage of the household were often taken out on him, the large-framed boy who quietly bore the brunt of it. Hùng would stand still, absorbing the blows so that Mụ Nuôi could vent all the bitterness of her life.
But life is cruel; it forced Hùng to be paired with his fourth brother to form the fateful phrase "Anh Hùng" (Hero). Consequently, she had to endure the heartbreak of watching one child study while the other dropped out, one leave while the other stayed. In the end, the older brother quietly surrendered his chance at college—a distant, lofty dream he fully deserved—to his younger brother.
It was that very wildness, the swelling heroic blood, and the dangerous games of adolescence that eventually dragged her third son down into the pitch-black abyss of heroin. How could she ever forget that stormy, rain-swept night in the Mekong Delta in the early 2000s? She had trudged along, her head shielded by a tattered conical hat, walking alone through the desolate night, knocking on every door, searching every alley and dark corner just to find her son. The feeble light from the oil lamp she held did not illuminate the road; it only served to swallow her shadow deeper into the darkness of helplessness, as though she were a soul completely cast aside by life.
But she did not know that at a bustling intersection filled with music, looking down from a high balcony, her third son had captured the entire image of his mother’s frail, swaying figure walking in the long, sorrowful shadow of the night. Her contorted shadow on the street that night stabbed straight into his soul, waking him up, prompting him to completely abandon his destructive path and rebuild his life.
Cao Lãnh, The Mekong Delta, 1999.
The low tide exposed the banks of the Tiền River under the dry, pale sun of the final days of the twentieth century. The land of Cao Lãnh in 1999 hummed with the anticipation of the millennium, but beneath her roof of mangrove rafters, everything still moved slowly and heavily. That was the year her third son followed in the footsteps of his older brother, bringing home an illegitimate granddaughter.
Her ears were always filled with the gossip and unfinished love stories of Hùng since the day he broke free from that deadly drug. The romantic, chivalrous nature of a man born in the Year of the Dragon (1952)—the age of the dragon soaring over the waters—made many country girls yearn for him.
She remembered those twilight hours when her home was always visited by young women. There was a girl from the outer hamlet who volunteered to come over, sitting on the stone ledge by the river washing a pile of dishes that never seemed to finish, simply because on the other side of the pond, her son was bathing bare-chested, pouring scoops of water over his broad shoulders, his eyes drifting toward her with a teasing look. There was also an unmarried girl sitting at the end of the day at the market stall, plucking morning glory stems while humming mournful vọng cổ verses that tore at the listener's heart, planting a seed of hopeless longing. All of them, though they loved Hùng to the point of heartache, dared not step over the threshold to become a daughter-in-law of the Phan family. They merely stood quietly on the margins of the roguish man's life, waiting for a single word of consent, a nod of approval from Mụ Nuôi.
Yet, Hùng brushed aside all those lingering attachments. He chose for himself the trade of driving cargo trucks, throwing his life onto the winding, twisting roads across the country.
Cao Lãnh, The Mekong Delta, 2000.
As the year 2000 arrived, the entire country rejoiced to welcome a new millennium. The town of Cao Lãnh began to sprout pale yellow streetlights, and the blaring of car horns drowned out the cry of the coucal bird in the late afternoon over the canals.
This was also the year Hùng’s career soared like a kite in the wind. From a self-made three-wheeled cart, sweating bullets daily to transport bags of rice and crates of goods at the Cao Lãnh bus station, Hùng—with the sharpness, grit, and audacity of a young man born in the Year of the Dragon—had built his way up to manage a large fleet of trucks running the route from the Mekong Delta to Saigon. Those ten-ton trucks bearing the name "Hùng Dũng" roared day and night on national highways riddled with potholes and red mud.
She had believed Hùng’s life from then on would be as solid as the name she gave him, that he would marry, have children, and live a peaceful life by the canal. Who could have foreseen that those overnight drives, cut through exhausting sleepiness and the dense fog of the river region, would ultimately take him away forever on a slippery, rainy night? Hùng passed away while his life was still too young, leaving behind a cold, hollow space and an agonizing ache that tore at his old mother’s heart.
Her fourth son was the polar opposite—tall and always carrying himself with the air of a true businessman. He bore the family's expectations of changing their fortunes on his shoulders, and it was those very expectations that altered his entire life. Driven by a grand ambition to get rich, he did not hesitate to plunge into perilous adventures. Destiny only dealt a lethal blow when the fourth son—by nature proud and resentful of his second brother’s downfall, constantly lamenting his unfulfilled manly ambitions, and picking fights whenever alcohol entered his system—became so enraged that he chopped off one of his own finger joints to warn his brother, leaving a permanent, crippling scar on his once-handsome hand.
An Giang, 2002.
The fourth son managed to convince his partner—a direct female supervisor who trusted him—to co-found a massive enterprise of striped catfish and basa fish cages in the Mekong Delta. On the undulating waters, living alongside the fishermen, a transaction went awry, leading to the collapse of a major investment.
Cambodia, 2010.
Her fourth son braved jungles and crossed streams to reach Cambodia to exploit precious timber. His career skyrocketed; money flowed like water, and he bought cars, built houses, and lived like a king. “Eat from the forest, weep tears of blood.” But then, gambling debts in a foreign land and market fluctuations brought the arrogant man to his knees; corruption and empty, lingering promises dragged him down. It was a long period of absence from home, where his two daughters rarely saw their father's face. That was also when a new woman appeared in his life, whom he brought home only to face Mụ Nuôi’s refusal—simply because she would only accept one daughter-in-law in her lifetime. He lost everything, carrying colossal debts, returning home empty-handed to his mother’s utter shock.
She had tried her best to build a foundation for him, actively stripping away the superficial vanities—the hollow, glittering prestige that people loved to flaunt—because she had spent her life exhausted and disgusted by the illusionary titles of the Phan clan. She did not want those rotten tragedies to repeat in her children’s lives.
Yet, ironically, a quiet civil service job, leaving in the morning and returning in the evening, could never chain down the wild, ambitious spirit of her fourth son. His mind was always racing with memories of his impoverished yet brilliant university days in the dormitory. He remembered every raid, every urban sweep during those turbulent, war-torn student years. Even when he failed miserably later in life and returned empty-handed, he still stubbornly clung to his relationships with his former classmates who had become successful. The pride of a fallen man kept him in a constant state of wandering, drifting endlessly without ever finding a peaceful harbor of his own.
After four sons, she gave birth to her fifth child—a daughter, the product of her union during the most fierce years of war, the Year of the Tiger (1974). Oanh (Resounding)—a name that destined her for a tumultuous life, yet her existence was a quiet chain of silent sacrifices. She voluntarily dropped out of school in elementary years to help her mother earn a living. Back then, she naively thought that as a woman, she didn't need a high education; she only needed to toil and work to fund the education of the men in the Phan clan, so that they might succeed and bring honor to the family.
And so her life was a series of hardships. The trembling market raids and the humiliating life of a street vendor once again fell upon her daughter, mirroring the exact life of her mother before her. Her youth and prime slipped away. People looked at her and assumed she would never find a husband, especially with her mother always hovering nearby, meticulously scrutinizing every suitor. Trần Tiến’s song "Chị tôi" (My Sister) seemed to have been written just for her at that time—lonely, quietly fading away with the years. Until one day, when "the bridge had long been built, and someone came to take the bride," the man who came to marry her was a fellow countryman from the sun-drenched, windy Central Coast. Mụ Nuôi rejoiced in her heart, thinking her daughter finally had a shoulder to lean on. She had no idea that cruel life would continue to fling her poor daughter into another dark, agonizing corner of a woman's destiny: infertility, and the desperate, painful longing for a child.
Saigon, 2015.
After eleven long, tear-stained years of searching, a granddaughter was finally born, like a miracle that lifted a thousand-pound weight off her shoulders for her fifth daughter.
She remembered those harrowing days in a small corner of Saigon. To preserve the precious life after a highly uncertain IVF procedure, her once-resilient daughter had to submit to an extremely strict and stifling bed-rest regime. Those were the days mother and daughter huddled together in a relative's tiny house in a cramped Saigon alley. The pregnant woman's entire world was confined to the few square meters between her bed and the small restroom. For an entire month, she could not step out of the door, could not see the sun, lying completely still, enduring physical aches and mental torture. Mụ Nuôi sat by her side, feeding her spoonfuls of porridge and massaging her swollen feet, her heart weeping as she wondered: Just how much must a woman suffer, how much must she be punished, before she can earn the simple right to be called a mother?
Peace, The Mekong Delta, the 1980s.
The Southern sun in the early years after liberation poured fire onto the canal banks, murky with red silt. The vast delta, with lands left barren after the war, began to revive with the roaring sound of tractors and white egrets hovering over sown rice fields. Peace had returned, but the tight-belt economy of the subsidy period pushed women like Mụ Nuôi into a ruthless new cycle of survival. The poverty and hardship of this transitional era were etched into the faded thatch roofs and the weathered faces of the displaced.
Amidst those grueling struggles, Mr. Liên would occasionally find his way back to her from the city during secret missions along the waterways. Those brief, hurried, and clandestine encounters between two sides of the old frontline led to her becoming pregnant with him once again. But the times showed no mercy to weakness. In the midst of economic exhaustion, with four young boys barely having enough to eat, Mụ Nuôi was forced to make a heart-wrenching decision: to abort the unformed life in her womb.
It was a agonizing decision, but the cruelty of circumstance turned the pain of losing a child into a bitter potion, forcing her to stand tall and plunge into the market. She began her journey of making a living in a poor corner of a delta market. Armed with the business acumen gathered from her days making candy and selling popcorn at the cinema in the old capital, combined with the grit forged under gunfire, she rapidly rose to become a prominent trader of rice and agricultural produce. Men in the region looked at her with wary respect; her fellow market vendors admired the sharp, fair nature of this woman from the Central region.
She remembered vividly the day she took care of the pregnancy herself at a squalid commune clinic that reeked of cheap antiseptic. Stepping out of the clinic with a battered body and a hollow soul, she stood by the river, secretly lighting a Salem cigarette that a smuggling acquaintance had just slid into her hand. The smoke from the Salem drifted past her lips, carrying a cool but stinging menthol scent. The bitter taste of the smoke mingled with the salt of tears rolling down her weathered cheeks. That cigarette, that stinging haze, was a brutal milestone—marking the day she buried the last vestige of her vulnerability as a wife, officially establishing her undefeated position as a solitary "boss" in the delta markets.
The second time she went to the clinic, her belly, slightly swelling under her brown-dyed shirt, had already begun to quicken. She sat on the cold concrete bench, inhaling the nauseating stench of bleach, ready to let go once more to lighten the burden of her market life. Yet, in that exact moment, she caught sight of a familiar female vendor from the market, sitting curled up, waiting for her turn to undergo her second abortion. The woman’s exhausted posture and her glazed, lifeless eyes—like a corpse without a soul—struck Mụ Nuôi with shocking force. She shuddered. The stubborn, fiery spirit of her Horse year rose up; she stood up abruptly, cupped her belly, and ran straight out of the clinic, determined to protect this last drop of blood at all costs.
And the child who survived that fateful night of retreat was none other than her youngest son.
Her youngest grew up witnessing the raids of peacetime, but his soul was riddled with hidden wounds. Mụ Nuôi closed her eyes, the smoke fading, drawing her back to the impoverished delta of the early 2000s. There was a time when the youngest was so engrossed in watching the black-and-white television at a neighbor’s house, staring at a foreign world through the glass, that he failed to hear his second brother’s shouting for him from their small boat tossing in the floodwaters. When he finally waded back, his oldest brother—harsh, brutal, and bad-tempered—beat him within an inch of his life until he fainted on the wooden deck.
Another time, over some trivial squabble among the neighborhood kids wading in the mud, her third son, in a fit of roguish temper, dragged the youngest out and beat him until the old broom by the door split to pieces. As they grew older and the divide between rich and poor began to widen, the image of the fourth son returning from glamorous Saigon, carelessly tossing a moldy, high-end leather bag and a pile of dirty clothes to the youngest as if hiring a servant to wash them, stamped a humiliating inferiority complex into his young mind. The brutal class division was not far away; it was nailed right inside his own family, under the agonizing, helpless gaze of Mụ Nuôi.
Glamorous but cold Saigon had torn Mụ Nuôi’s heart to pieces, like a dried-up stream suddenly flooded by late-flowing tears. She remembered a scorching day when her youngest drove her past a crowded street in Saigon, pointing to a hidden attic of an ancient house. It was there she had taken him to listen to a sermon by a Tibetan Dalai Lama who had traveled to Vietnam from afar. In the quiet space filled with the aroma of incense, Mụ Nuôi had wept silently, blaming herself for not being able to buy him a small house in the city, so that he would not have to wander and struggle in a strange land.
She wept, crying like the floodwaters of old that swept half of Sình Village out to sea.
She called herself "Chị Tư" (Sister Four), a humble name in a corner of the delta market when peace returned in 1975. After the country’s unification, she brought her children from the war zones and the delta back to her old haunts in Saigon, only to realize with shock that she had lost everything there. Mr. Liên was no longer hers alone. He had another woman, another life under a different sky. She quietly withdrew, arranging her life into a new chapter, accepting her fate as a traveling merchant in the windy, sunny delta.
She turned to Kăn Lịch, her eyes sharp with resolve:
“Lịch nờ. After this trip, I am not staying in Huế. I must go to Quảng Trị. I want to find Mary—my mixed-race sister, my sworn sister from years ago. Only there can I find the piece of my life that was not crushed by the storms of the Phan clan.”
There was a bitter sorrow buried so deep that Mụ Nuôi could not utter a word of it throughout their journey, for she believed that much tragedy was already too much for Kăn Lịch to bear.
It was the cruel irony behind the birth certificates of her five children. All five of them, from Dũng, Hùng, Anh, Chiến, to her fifth daughter, Oanh, had their legal mother’s name registered as Mụ Cả (the First Wife). That was the cruel status that Mr. Liên—her husband in name only—had quietly arranged and left behind, like a clinical settlement of the times. She had carried them, given birth to them in pain, but under the law of the old regime, she was non-existent. Her children, in name, belonged forever to the legitimate wife of the Phan clan.
The Sorrow of Two Men Named Dũng
While the limousine carrying Mụ Nuôi sped through the night toward the North, the atmosphere inside an old garden house with traditional clay tiles in the outskirts of Huế was no less somber and suffocating. The night rain pattered on the sago cycad leaves in the yard, blending with the sluggish croaks of frogs in the banana grove ruined by the flood.
Inside the house, under the pale yellow light of a kerosene mantle lamp, two men sat facing each other across a chipped mahogany table. The room was thick with the scent of wild tea brewed with rainwater and the damp smell of old lime-washed walls after the flood season.
Dũng—Mụ Nuôi's eldest son—sat motionless, his thin, bony hands gripping a cup of cold green tea. His face was etched with deep lines of hesitation and pressure. He was facing a monumental question: Should he attend the succession ceremony tomorrow morning to determine the lineage of the Phan clan? Behind the struggle for that ancient jade seal lay a profound anguish of men bearing the heavy yoke of lineage.
Opposite him sat Thắng—his cousin, whose birth name was also Dũng. Thắng was the only son of Aunt Loan (Mr. Lâm's wife). Two men of the same Phan clan, bearing the exact same name, Dũng, and sharing the same middle name. That name was the shared dream of Mr. Liên and Mr. Lâm—two brothers who had bestowed it upon their firstborn sons, hoping they would together form "Hùng Dũng" (Heroic Courage) to revive the declining fortunes of the Phan clan in a changing world; they were virtually irreplaceable to each other. Defeat the Americans, overthrow the puppets; when the old bamboo dies, the young shoots grow.
Thắng gently pushed a plate of candied ginger toward his cousin, his voice low and warm:
“Brother Dũng... Tomorrow morning is the succession ceremony. Trần Bình and the Clan Elder are preparing everything in the ancestral hall. You are the eldest son of Mụ Nuôi; you cannot run from this forever. Do you plan to show up?”
Dũng let out a soft sigh, his fingers tapping rhythmically on the dry wooden table:
“Thắng... Look at us. From the time of Grandmother Thục Từ, to Mụ Cả, Mụ Nuôi, and then Aunt Tư Vũng Tàu, has any woman who stepped into this Phan ancestral hall ever lived a single day of complete happiness? We men always demand their tolerance, and then we use our own selfishness and greed to make them bear the tragedies of the times. I am not hesitating because I fear Trần Bình or his resort project. I hesitate because I fear... I fear that if I step into that hall, if I lay my hand on that jade seal, I will become just like the old man Mr. Liên, dragging my wife and children into a swamp of endless resentment with no way out.”
Thắng remained silent, staring into his cup of green tea. He understood the conflict tearing at his cousin's heart. The name "Dũng" (Courage) that their fathers had given them was not meant for squabbling over an inanimate jade seal, but to find the strength to walk away from the feudal ghost weighing down every soul beneath this ancient roof. The conversation of the two men named Dũng stretched until the third watch of the night, amidst the wind whistling through the wooden shutters, leaving a dramatic decision open for the gathering tomorrow morning.
PUBERTY — THE MIXED-RACE WOMAN
Lying on the plush leather seat of the car speeding through the night, Mụ Nuôi closed her eyes. The low hum of the engine faded, replaced by the wind of the Perfume River from a distant era, pulling her deep into the memories of her childhood—the time when she was still the naive little Nuôi, not yet chained and tormented by her status as a daughter-in-law of the Phan family.
She remembered clearly those turbulent years of the early 1950s. The Geneva Accords had just been signed, and the 17th parallel suddenly slashed the country in two. Her Huế was abruptly thrown into the vortex, becoming a highly unstable southern political and cultural hub under Ngô Đình Diệm. Streams of refugees poured in, and the first American soldiers began to strut down the streets. They brought with them the pungent smell of gasoline, loud music, and a pragmatic Western lifestyle that clashed violently with the rigid, ancient feudal traditions of the imperial city.
But amidst that chaotic, shadowy landscape, heaven brought her Kăn Lịch. At that time, she was just a clueless fourteen-year-old girl, while Lịch was a Pa Kô girl who had emerged from the mountainous war zones of western Thừa Thiên. Lịch had eyes that shone like two night stars in the forest, and a wild, fearless nature. The two girls—one from the lowlands, hardened by the elements, the other from the mountains, worn by labor—stuck together, growing up under the ancient banyan trees shedding their leaves by the Perfume River. They survived those impoverished days by sharing burnt sweet potatoes, splitting bitter-sweet figs, and carrying heavy bundles of firewood down from the mountains to sell in the city.
They thought that peaceful poverty would last forever, but a sudden turn of events brutally shattered their innocent youth. She would never forget that bleak autumn afternoon of 1956. Her grandmother—her only living relative and her sole source of warmth in the world—suddenly drew her last breath, lying cold and still on the creaking bamboo bed. She lost her grandmother, her shelter, and was officially cast out into the windy market of life from that day on.
Ironically, at the very moment she realized her grandmother's hand had gone cold, her first menstrual blood began to flow, hot and dark red beneath her brown trousers. The cruel coincidence terrified the fourteen-year-old girl. She wept in fear, believing she was being punished by some dreadful spiritual curse for her grandmother's death.
In the quiet, thatched house reeking of death, only Kăn Lịch was there. Two innocent girls, without an adult to guide them, struggled to make sense of the changes in a woman's body. Lịch ran to the stream, gathered antiseptic forest leaves, and used a rough, torn rag to wipe away her friend's first blood, comforting her in broken Vietnamese:
“Nuôi nờ... Don't be afraid. Every girl must bleed like this to grow up. From now on, you are no longer a child.”
Mụ Nuôi became an orphan from the day her grandmother passed away. After that cold and lonely funeral, she packed her few tattered clothes, left her wind-swept thatched hut, and moved into the house of her aunt—the mother of Uncle Tám and Uncle Lữ—to seek shelter.
Her aunt's house was a completely different world. It was a suffocating feudal household with suffocatingly strict rules, where she had to learn to bow her head, endure, and work from dawn till dusk just to earn her daily meals. Yet, in that grey, rigid atmosphere of prejudice, heaven showed mercy by giving her Uncle Tám and Uncle Lữ—the only two men in that family who loved and protected the orphaned girl with all their hearts.
Uncle Tám and Uncle Lữ were educated, talented men. Uncle Lữ worked as an interpreter, a highly sought-after translator for the US military in the war-torn lands of Bình Trị Thiên. Mụ Nuôi’s deepest memory of those brief, glorious days was the image of Uncle Lữ returning from work. Tall and elegant, he would fling a massive sack of money onto the wooden platform in the middle of the house, laughing heartily as he told everyone to gather and count it. The crisp, new bills filled the room with the scent of fresh ink. Whenever he saw her quietly serving water, Uncle Lữ would pat her head and promise with a warm, steady gaze:
“Don't worry, Nuôi. Once this phase passes, I will send you to school and get you a proper trade, so you won't have to carry firewood and run around the market anymore!”
Uncle Lữ's promise was as warm as a hearth in winter, planting a glimmer of hope in her fourteen-year-old heart. That promise was so sacred that throughout her later shattered, wandering life, whenever she hit rock bottom, she would repeat with bittersweet regret: “If only Uncle Lữ were still alive and sane, my life would never have been this miserable...”
No one could have foreseen how quickly the tides of war would turn. As the US military began to lose control of the Bình Trị Thiên tactical zone, they prepared to withdraw and demanded that Uncle Lữ and his family evacuate to America for their safety. But his love for his homeland and ancestors made him flatly refuse the offer of exile.
His stubborn refusal came at an unimaginably high cost. To ensure absolute secrecy regarding the classified military conversations he had translated over the years, they brutally injected him with a highly toxic drug. The drug did not kill him, but it completely destroyed his nervous system, turning a brilliant, talented interpreter into a madman, dazed and incoherent, laughing and crying without any sanity left to keep or spill any secrets.
Watching the once-proud Uncle Lữ, who used to carry sacks of money home, now sitting in a corner laughing foolishly and playing with mud on the veranda, tore Mụ Nuôi's heart to pieces. Her only source of hope, barely ignited, had been snuffed out. She was cast down into the abyss once more, beginning her long, solitary journey through the tempests of life with no one left to protect her.
Hélène
But it was also in Uncle Tám’s house that she met Hélène—Uncle Tám’s mixed-race French wife. Hélène was a woman of stunning beauty but possessed a deeply marginalized fate. Her father, a French military officer, had abandoned her and her mother when the French forces withdrew after 1954. Coming to Uncle Tám’s house as a daughter-in-law, Hélène was despised by her husband's family as a "wild, half-breed bloodline," an unwanted remnant of the times. Their shared loneliness and isolation drew the fourteen-year-old orphan and the beautiful mixed-race woman together. They found solace in each other as outcasts on the fringes of the clan.
In 1957, to save themselves from the humiliation of being seen as freeloaders, Mụ Nuôi and Hélène began to run around the market selling cakes and candies, scraping together every cent under the watchful eye of her aunt, the mother of Uncle Tám and Uncle Lữ.
Once, upon seeing black American soldiers eating some kind of kernel that popped into fragrant, buttery white puffs near the officers' quarters in Huế, Mụ Nuôi—with her innate business acumen—conceived a bold idea: making popcorn to sell at the cinemas in Huế. This was an entirely foreign snack, unheard of in the traditional imperial city at the time.
She gathered the meager savings she had made from hauling firewood, bought a thick cast-iron pot from Dinh Market, some local glutinous corn, and a few tins of military-grade butter smuggled out from the disposal shops of the US military. Every night, in the small, smoky kitchen of Uncle Tám's garden house in the Kim Long suburbs of Huế, Mụ Nuôi and Hélène would light the stove. The rhythmic popping of the corn and the rich, buttery aroma filled the air, awakening a realm of impoverished but hopeful memories for the two lonely souls.
The two women packed the popcorn into bags folded from old newspapers and built a rudimentary wooden cart using two broken bicycle wheels. As dusk fell, they boldly pushed the cart for miles along the Perfume River straight into the city center, stopping in front of the "Tân Tân" cinema—governed by the hách dịch and pragmatic cinema chief, Sáu "Bình," who operated under the wing of secret agent Trần Văn Bình.
That night, the neon lights of the cinema cast a colorful glow onto the white ao dai of Đồng Khánh and Quốc Học students queuing for tickets to a French film. The warm, fragrant aroma of butter from her cart quickly drew a curious crowd of young people. The first coins dropped into the tin box with a metallic clink, filling her chest with a joyous sense of independence she had never felt before.
Across the street, under the shade of an ancient camphor tree, a sleek black Citroën Traction Avant sat idling with its headlights switched off. The rear window rolled down an inch, letting out a thin wisp of cigar smoke that smelled of expensive foreign tobacco.
Inside the dark cabin, agent Trần Văn Bình bowed deeply, his face a mix of reverence and fear before a middle-aged man in a dark suit. His hair was slicked back, and his cold eyes were veiled behind the grey smoke. This was Supreme Advisor Ngô Đình Nhu—the most powerful mind behind the entire southern secret service apparatus, on a covert inspection tour from Saigon to Huế to check urban security.
The advisor did not spare a glance at the cheerful crowd around the popcorn cart. He merely tapped his gold-ringed finger on the leather seat and spoke in a low, authoritative, and chilling voice:
“Trần Văn Bình... Ensure that these American-hybrid street cultures do not blind our agents' eyes and ears in the tea rooms and cinemas. Do not let a popcorn girl and a mixed-race French woman disrupt the urban order of this city I am building. Clean it up thoroughly!”
“Yes, Advisor, I understand!” Trần Văn Bình replied, bowing his head in fear.
The black Citroën silently rolled away, passing the cinema before vanishing into the deep night of Huế, leaving behind the lackey Sáu Bình, who was stepping out of the ticket booth with a leather whip in hand, heading straight toward Mụ Nuôi and Hélène’s cart.
The colorful lights of the cinema shone brightly onto the street. The warm aroma of butter from the cart quickly drew a crowd of students queuing for tickets. The first coins clinked into her tin box, filling her heart with joy.
“Who allowed you to bring this hybrid trash to disrupt my cinema? Confiscate it all!” Sáu Bình barked.
Seeing Hélène’s striking, mature beauty under the theater lights, Sáu Bình’s eyes filled with crude lust. He stepped closer, reaching out a rough hand to touch her mixed-race face:
“Or... if this French-hybrid girl spends a night with me, I’ll let this cart stand here forever.”
Hélène shrank back in terror. In that tense moment, fourteen-year-old Nuôi, sharp-witted and quick-thinking, stepped in front of her. She forced an innocent smile and bowed respectfully:
“Sir... We are poor and helpless, we know nothing. We made this popcorn specially for you to try first. And Uncle Lữ sent this bottle of fine glutinous rice wine for you to warm yourself on this cold night.”
As she spoke, she quickly poured a glass of thick rice wine—which she had secretly laced with a mild sleeping pill belonging to her aunt—and offered it with both hands. Sáu Bình, hearing Uncle Lữ's name and seeing the obedient young girl, let his guard down. He laughed boisterously, downed the glass, and waved his men away.
Less than fifteen minutes later, the alcohol and sleeping pill took effect. Sáu Bình, his face flushed red, staggered and slumped into an armchair at the entrance, snoring loudly.
“Hélène! Run!” Mụ Nuôi whispered.
Without a second thought, the two women pushed the cart with all their might through the dark alleys of Huế, escaping the pursuit of the guards. That night, under the eaves of Uncle Lữ's house, they counted the sweat-soaked coins, panting and laughing quietly at the trick they had played on the arrogant chief.
Those first coins from the popcorn cart kept her aunt's family alive through those turbulent years, marking Mụ Nuôi's first step toward independence and business acumen before she entered her stormy life as a daughter-in-law of the Phan clan.
Quảng Trị, 1998.
The July sun of the Central region beat down on Quảng Trị with scorching, baking heat, dry and heavy with the Lao wind. Mụ Nuôi stepped off the dusty bus, her rubber-soled sandals pressing into the scorching sand of a land once ravaged by bombs and shells.
The village appeared before her in a heartbreaking contrast. On one side, the Thạch Hãn River flowed silently, its surface as calm as a mirror, but its depths held the blood, bones, and tears of tens of thousands of souls who had fallen during the fiercest years of the war. The gentle river carried such a heavy spiritual weight that passersby dared not breathe heavily. On the other side stood a grand, ancient temple with mossy grey tiles, resting silently against a massive grove of ivory bamboo at the village entrance. The bamboo roots ran deep into the barren earth, like a historical witness clinging to every inch of the homeland through storms and relentless bombardment.
Stretching from the temple's altar down to the edge of the Thạch Hãn River was a long, fine, but scorching white sandy beach. Every July of the lunar calendar, this beach turned into an ethereal realm between the living and the dead. Locals set up rows of makeshift bamboo altars, laying out simple offerings of thin rice gruel, boiled sweet potatoes, salt, popcorn, and thousands of burning incense sticks to appease the wandering souls and fallen soldiers—the homeless spirits who had perished on this land. The scent of incense mingled with the hot earth and the river wind, creating a solemn, suffocatingly melancholic atmosphere.
Mụ Nuôi walked slowly from the entrance, her conical hat obscuring half of her face lined with age. Her steps were steady but heavy with thought. Walking beside her was Quỵ—the mixed-race son of Hélène. Quỵ was tall, with healthy bronze skin and the deep-set eyes of his mother. He gently brushed aside the bamboo branches hanging over the path, speaking in a thick but quiet Central accent:
“Aunt Nuôi... If we walk along this sand a bit further, past the stone steps behind the temple, we’ll reach where my mother lives. She’s been waiting for you.”
Mụ Nuôi did not speak; she merely nodded, tightening her grip on her hat strap.
When the figure of an elderly woman in a dark bà ba shirt appeared, leaning over to tidy an altar by the temple wall, Mụ Nuôi froze. Hélène—the radiant French-hybrid girl of the cinema in 1957—was now a weathered, frail old woman of Quảng Trị.
Hearing footsteps on the sand, Hélène turned around. The two women from opposite ends of the century, survivors of two wars and countless flights of destiny, stood looking at each other in a brief silence that felt like eternity. Under the vast, windy sky and amidst the rising incense smoke, they stood at a distance, looking at each other for a long moment, as if trying to pierce through forty years of fate to find the youthful faces of their past.
“Nuôi nờ...” Hélène cried out, her voice trembling, tears spilling down her heavily lined, age-spotted cheeks.
“Hélène...” Mụ Nuôi called out softly, the conical hat in her hand shaking violently.
Then, without a word, the two rushed into each other’s arms, weeping bitterly by the bamboo grove. The choked, agonizing cries of the two widowed, battered women echoed mournfully in the quiet space. Mụ Nuôi buried her face in her sworn sister’s thin shoulder, her tears soaking the chàm-colored fabric of her shirt. As she wept, she sobbed, half in resentment of their fate, half in disbelief of this cruel reality:
“Do you know... do you know who this is, that you weep so much? Hélène nờ, do you even know who I am to cry like this?”
Hélène held Mụ Nuôi’s hunched back tightly, her frail, trembling hands stroking her friend’s silver hair, sobbing through her tears:
“Nuôi nờ... How could I not know! The clever little Nuôi who tricked Sáu Bình to save me when she was fourteen at the cinema... Even if I turn to dust, I would still recognize you!”
They held each other and wept beneath the ancient temple, mourning the youth stolen by the Phan clan and the war, weeping for the men who had crossed their lives only to leave bleeding wounds, and crying for their own fierce, stubborn survival amidst a changing world. Their cries merged with the steady lapping of the Thạch Hãn River, like a hymn bidding farewell to the bitter past to welcome a peaceful harbor at the end of their lives.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét