Chiến Phan

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2026

Nhật ký của cha - Sính ngoại và nếu....thì [Dad's diary - Xenophilia and the "If... Then..."]


Sài Gòn tháng Sáu, đám trẻ reo hò vào hè như chim non sổ lồng. Nhưng thời tiết thì ẩm ương như bà chằn gắt gỏng. Bầu trời buổi trưa xanh ngắt, trong veo như mắt trẻ nhỏ nhưng lại nung nấu cái gắt gỏng hầm hập, hắt lên từ mặt đường nhựa thứ hơi nóng hừng hực như lò than. Ông già gọi nắng lưu manh – ban ngày chói chang rực rỡ, nhưng hễ sơ hở là đổ ập cơn mưa dông vào cuối chiều, khiến mọi toan tính của dòng người bỗng chốc ướt sũng.

Gã đàn ông sống lâu nhận là “ông già” đang đèo ba đứa nhóc của mình. Thành phố nhốn nháo và nhộn nhịp.

Ngồi phía cuối, sau xe ông già là thằng nhóc Merci, đứa con trai đầu lòng dạt dào tình cảm. Hàng đêm. Ông già chở đám trẻ đi dạo qua các con phố, ban đầu chỉ là một nghĩa vụ sáo rỗng để "dành thời gian cho con" theo đúng sách vở, nhưng thực chất phần nào muốn giải phóng cho tâm trí ông già vẫn đang kẹt lại ở văn phòng máy lạnh. Ông già đang sống vội, vội đến mức quên mất sự hiện diện đám trẻ xung quanh mình.

Khi chiếc xe lướt qua ngã tư đường Pasteur và Võ Thị Sáu, ngay góc cây xăng quen thuộc, Merci bỗng cất tiếng, giọng ngọng nghịu theo mấy câu cửa miệng coi được trên mạng: – “What’s happen, bro!”

Thằng Lavie và ông già vẫn chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra. Đèn đỏ bật lên, giữ chân dòng người lại giữa giao lộ hối hả.

Theo hướng chỉ của Merci, cả ba cha con cùng nhìn về một hướng ngay trước đầu xe. Hôm nay, góc đường quen thuộc bỗng có một điều khác biệt lạ kỳ. Ngay bên cạnh trụ đèn giao thông, trên khối bê tông cao hơn mặt đường vài centimet – nơi vốn dĩ chỉ toàn khói bụi và những vệt sương che mờ tầm mắt – một gã trai Tây tóc vàng, dáng người cao lớn đang cúi mình ngồi bệt. 

Gã chong một chiếc đèn tích điện nhỏ, cặm cụi chỉ tay vào cuốn vở để dạy học cho một cô bé Việt Nam tầm 8 tuổi. Đó là con gái của một chị bán hàng rong, mớ đồ đạc, hàng hóa sinh nhai của chị trải đầy trên khối bê tông làm nền cho lớp học dã chiến. Con bé ngồi bó gối trên tấm bìa các-tông, đôi mắt đen láy chăm chú nghe theo từng lời giảng giải của ông thầy ngoại quốc.

Đúng lúc đó, một người đàn ông Việt Nam dừng xe lại, cúi mình xuống bắt tay với gã trai Tây sau khi đã mua hàng ủng hộ người mẹ nghèo. Đứa con gái nhỏ và ông thầy ngoại quốc cùng ngước lên, nở một nụ cười rạng rỡ và gửi lời cảm ơn chân thành đến vị khách Việt. Nụ cười ấy tự nhiên, lấp lánh dưới ánh đèn hắt hiu, hoàn toàn đối nghịch với sự nhốn nháo, ngột ngạt của dòng xe cộ đang bấm còi inh ỏi xung quanh. Khung cảnh ấy giống như một khoảng lặng thanh khiết được vẽ nhầm lên một bức tranh đô thị đầy vết xước của những lo toan mưu sinh.

Merci nhìn đăm đắm vào hai thầy trò họ. Đôi mắt thằng nhóc vốn dĩ chứa đầy những tia nghịch ngợm của một đứa mê đá banh và nấu nướng, giờ bỗng chùng xuống, long lanh một nỗi niềm khó tả. 

Thằng nhóc ôm chặt quả bóng vào bụng, lặng đi một hồi lâu rồi bắt đầu nói về “sự nghiệp tương lai”. 


Phần 2: "Sính ngoại"

“Mình thấy hôm qua nè ba” Thằng nhóc Merci chỉ ông già về một clip VTV đang phát triển màn hình.

Hôm sau,, ông già phát hiện hình ảnh gã trai Tây và cô bé ở cây xăng đã ngập tràn trên VTV và các trang báo lớn. Người ta ca ngợi anh chàng đó – tên là Christopher – bằng những mỹ từ như một thiên sứ của lòng nhân ái. Nhưng chính lúc nhìn thấy sự bùng nổ của truyền thông, đầu của ông già lại bỗng dưng... lạc hướng. Một câu hỏi trần trụi bật ra trong đầu gã sống lâu: "Nếu người ngồi dạy học ở góc đường kia không phải là một gã trai Tây mắt xanh tóc vàng, mà là một người Việt nghèo, một cậu sinh viên tình nguyện lếch thếch, liệu họ có được tôn vinh với một hiệu ứng thế này không?"

Ký ức của một thời bôn ba bỗng chốc quay về, nhạt nhòa nhức nhối. Ông già nhớ về cái quãng trời mưu sinh năm xưa, khi ông già mở một quán cà phê kinh doanh ở quê nhà. Ngày đó, để thử nghiệm một nhận định, ông già cho dán lên trước phòng kính máy lạnh một thông báo bằng tiếng Anh: “Free for foreigners” (Miễn phí cho người nước ngoài). Đo lường. Kẻ thì lắc đầu ngán ngẩm, người thì cười lén, thì thầm thủ thỉ sau lưng ông già: “Ở cái xứ quê này kiếm đâu ra Tây mà bày đặt”, hay “Mắc gì phải miễn phí cho tụi nước ngoài, tụi nó giàu hơn mình mà?”.

Ông già im lặng. Mỗi ngày, ông già đều hỏi nhân viên về số lượng người nước ngoài ra vào, không phải vì ham lợi nhuận, mà vì muốn đo lường sức hút của những gã đến từ ngoài đất nước hình chữ S này đối với tâm lý người Việt ra lao. 

Lạ. Kết quả hiện ra rành rành đầy ngao ngán. Khi có mấy cầu thủ bóng đá nhập tịch tìm đến quán, đám đông xung quanh lập tức quây quanh như thể gặp vĩ nhân. Họ không nói, nhưng ngồi quanh, nở nụ cười thân thiện. 

Thậm chí, cô bạn học thời phổ thông của ông già còn kiêu hãnh dẫn gã bạn trai ngoại quốc đến quán để đón nhận sự ngưỡng mộ của mọi người. Cô bạn chốt lại một câu, dịch thay lời người ban đời mình: “Tao chẳng thích điều này”. Nhìn đám người vây quanh cung phụng một người xa lạ chỉ vì màu da, ông già cay đắng nhận ra một sự thật: Căn bệnh sính ngoại đã thâm căn cố đế.

Lên giảng đường đại học, rồi lớn khôn bước ra phố, ông già và đám bạn cùng lứa cũng từng điên cuồng tìm kiếm những người bạn nước ngoài để chơi cùng. Mục đích ban đầu giản đơn lắm, chỉ là để cải thiện một ngôn ngữ tiếng Anh, để trang bị cho mình một chiếc cần câu cơm nhằm bám trụ lại với thị thành đầy áp lực. Ngược ngạo. Ông già càng chơi với "nước ngoài", cơ hội so sánh càng hiện rõ rành rành như một bức tranh hai màu đối lập Việt - Tây.

Sự khác biệt ấy khiến ông già hoang mang. Câu hỏi này lại dẫn dắt đến nhiều câu hỏi khác: Vì sao có sự khác biệt đó? Sự sính ngoại này từ đâu ra? Sao người Việt lại tự hạ thấp mình và tôn sùng người ngoại quốc đến lạ kỳ như vậy? Có phải điều đó đến từ ngàn năm phong kiến, trăm năm đô hộ, nó đã ăn sâu vào mạch đập, di truyền cả một suy nghĩ tự ti đến tận hôm nay? Ông già đem cái suy nghĩ phản chiếu từ tấm gương thị thành ấy về lại quê nhỏ để đo lường, và câu trả lời nhận về chỉ là sự im lặng đầy bất lực. 

Nhớ. Được dạy học đến thuộc lòng. Người Việt mình tự hào khởi thủy năm trăm con xuống biển, phá sơn năm trăm con con lên núi, tự hào dòng máu Lạc Hồng hào hùng; nhưng nhìn vào thực tại, một đứa trẻ “sống lâu” lên phố như ông già, khi dấn thân vào đời làm kiếp công bộc, lại càng thấy xót xa vô cùng.

Bước vào đời làm việc, tiếp xúc rộng hơn giữa hai môi trường Á và Âu, chiếc gương soi tự hiện ra càng rõ nét. Ông già thấy rõ sự khác biệt giữa cái thâm trầm, kín kẽ của người Á Đông với sự quyết đoán, sòng phẳng của người phương Tây; thấy cả ranh giới mong manh giữa sự thực dụng văn minh và sự gian manh núp bóng. Khoảng trời suy nghĩ ấy cứ thế bơ vơ, ông già chỉ biết để lại cho riêng mình gặm nhấm.

Để rồi, sự dồn nén bấy lâu bỗng chốc bùng nổ vào cái ngày ông già đứng trên bục vinh danh cao rộng của nhà hàng Hòa Bình, lặng im ngắm nhìn buổi lễ tốt nghiệp của lứa sinh viên FPT Polytechnic. Nhìn xuống dưới, hàng ngàn gương mặt trẻ măng, ngơ ngác và thơ ngây đang làm lễ, những đứa trẻ mang tư duy "mai tính sau" chỉ mong ngóng chương trình nhanh nhanh chóng chóng kết thúc để thu dọn đồ đạc ra về.

Tự trào một tiếng, ông già cất lời, nói những điều thật cao cả như để vỗ về chính bản thân mình, vỗ về nỗi đau đau đáu gặm nhấm tâm can bấy lâu nay: – “Người Việt mình rất giỏi. Thật đấy! Đừng tự đóng khung bản thân vào sự bạc nhược hèn nhát hay nét ngông nghênh vô lối. Mọi thứ định kiến hay tự ti, tất cả đều bắt đầu từ chính suy nghĩ của các bạn.”

Tiếng nói được hệ thống âm thanh khuếch đại, nương theo thiết kế tinh tế của trần lọc âm trầm bổng, cứ thế lan tỏa trong không gian như tiếng sóng dạt vào bờ cát, nhẹ tênh và thong thả. Người nghe, kẻ không, nhưng lời nói ấy đã thuộc về khoảng trời của những tâm tư thức tỉnh.

Thế sự xoay vần, thời gian trôi. Sau này, ông già có cơ hội gặp gỡ và trò chuyện cùng những người Việt dám bước ra thế giới rộng lớn, hiên ngang làm việc tại các tập đoàn công nghệ hàng đầu ở xứ người. Khi trở về, họ đều mang nặng một tâm tư rười rượi giống nhau. Mỗi lần hỏi về nỗi niềm trăn trở ấy, họ lại ví von đầy xót xa: – “Sao cứ phải là lúa chín thì phải chịu cúi đầu?”.

Bởi vì dấn thân đi đến đâu, họ cũng phải chịu nhiều sự phân biệt và kỳ thị, từ những cái nhìn tích cực cho đến tiêu cực. Người Việt mình thông minh, tổng hợp nhanh và xử lý vấn đề tốt bậc nhất, nhưng tại sao khi đã thành danh ở xứ người, họ lại chẳng muốn quay về lại nước nhà? Câu trả lời xót xa và đắng chát vô cùng: Vì họ sợ phải chịu cảnh miệt khinh, sợ phải đối diện với cái tâm lý sính ngoại và sự đố kỵ hẹp hòi của chính đồng bào mình. Nhiều khi, điều khiến họ tổn thương sâu sắc nhất, chỉ đơn giản là không thể chấp nhận được một đám đông sính ngoại đến mù quáng – một thực tại mà bản thân họ đã nếm trải đủ đầy, đau đớn nhưng chẳng biết phải sẻ chia cùng ai.


Ông già chìm trong mớ suy nghĩ già nua, phức tạp và đầy vết xước của người lớn, cho đến khi tiếng gọi của Merci kéo ông già trở lại với thực tại.

Bản kế hoạch "Nếu... Thì..."

Sau khoảnh khắc chứng kiến câu chuyện ở góc đường Pasteur, Merci bật ra trong đầu mình hàng loạt những câu hỏi và mệnh đề “nếu…thì…”

“Ba ơi, nếu mai này con lớn lên, con trở thành một đầu bếp giỏi, con kiếm được tiền…” – “Thì sao con?” – Ông già mỉm cười, mắt vẫn dõi về con đường phía trước, phố ồn ao, ông già vẫn nghe rõ được tiếng con

“Nếu mai này con kiếm được nhiều tiền, thì đầu tiên con có thể tự lo cho bản thân con nè. Sau đó, con sẽ lo cho gia đình mình thật đầy đủ,...” Thằng nhóc Merci bổng dừng lại chút. “Và… nếu con còn dư tiền, con sẽ dùng nó để giúp các em, giúp những cuộc đời ‘thấy tội’ ngoài đường giống như em bé ở cây xăng hôm nọ đó ba.”

“Thấy tội” – cái từ ngữ rặt chất Nam Bộ, mộc mạc, bình dị mà chứa đựng một dung lượng yêu thương quá lớn. Ông già khựng lại, lắng nghe đứa con trai mười tuổi của mình mà sống mũi bỗng cay xè. Ông già – một gã sống lâu, có cơ hội đi đây đó, đắm chìm ở mấy triết lý cao siêu, nhưng cuối cùng tâm hồn lại bị che mờ bởi những hoài nghi, định kiến và sự phòng thủ lạnh lùng. 

Thằng nhóc Merci của ông già chẳng cần biết đến những phức tạp của lịch sử hay tâm lý học đám đông, nhưng cái lòng trắc ẩn tự nhiên trong tim thằng nhóc đã làm lay động ông già trong phút giây. Sự ngây thơ của con không cần bất cứ một bộ lọc chỉnh sửa nào của công nghệ, nó mang đến cho ông già một nụ cười tự nhiên – thứ nụ cười thanh thản mà bấy lâu nay ông già phải đi tìm kiếm một cách mệt mỏi trên những trang mạng xã hội giả tạo hay một đường đời công bộc. 

Bên ngoài cửa sổ, trời Sài Gòn về đêm đã dịu mát sau cơn mưa dông muộn. Tiếng còi xe hối hả đã vãn, thành phố bắt đầu chìm vào một nhịp thở sâu lắng. Ông già biết, ngày mai guồng quay áp lực vẫn sẽ tiếp diễn, thế giới ngoài kia vẫn sẽ đổi thay chóng mặt. Nhưng ông già không còn thấy hoang mang hay cô liêu nữa. Bởi vì bên cạnh ông già, đã có một ngọn hải đăng nhỏ mang tên Merci, thắp sáng lòng trắc ẩn và dắt dìu ông già đi qua những ngày dặm dài bằng tất cả sự tin yêu.

Mở mắt ra thôi, dù đời có ngắn, lòng ông già vẫn dạt dào những yêu thương vì đã có con bên đời.

Cảm ơn cuộc sống vì những ngộ nhận, để ta biết trân trọng hơn những phút giây thật lòng

***

Saigon in June. The kids cheer for summer like fledglings escaping a cage. But the weather is as temperamental as an ill-tempered crone. The midday sky is deep blue, clear as a child's eyes, yet simmering with a stifling rage, radiating a scorching heat from the asphalt like a charcoal kiln. The Old Man calls it "rogue sunlight"—blazing and brilliant by day, but the moment you let your guard down, it unleashes a torrential thunderstorm in the late afternoon, leaving the calculations of the bustling crowd instantly drenched.

The long-lived man who calls himself "the Old Man" is carrying his three kids on the back of his bike. The city is chaotic and bustling.

Sitting at the very back of the bike is Merci, his deeply affectionate firstborn son. Night after night. The Old Man takes the kids for rides through the streets. At first, it was merely a hollow duty to "spend time with the children" as prescribed by the parenting books, but in truth, it was a way to liberate his own mind, which remained trapped back in the air-conditioned office. The Old Man was living in a rush, a rush so blinding that he often forgot the very presence of the children riding with him.

As the bike glides past the intersection of Pasteur and Vo Thi Sau, right by the familiar gas station corner, Merci suddenly speaks up, his voice mimicking some slang he caught online:

—“What’s happen, bro!”

Lavie and the Old Man have yet to understand what is going on. The red light turns on, holding back the rushing crowd at the busy intersection.

Following Merci’s pointing finger, the father and sons look ahead of the bike. Today, that familiar street corner holds a strange, rare difference. Right next to the traffic light pillar, on a concrete slab rising a few centimeters above the road—a place normally filled only with dust and exhaust fumes—a tall, blonde Western youth sits hunched over.

He has set up a small rechargeable light, painstakingly pointing his finger at a notebook to tutor a Vietnamese girl about eight years old. She is the daughter of a street vendor; the mother's meager wares—the very tools of her survival—are strewn across the concrete block, serving as the backdrop for this makeshift classroom. The little girl sits with her knees tucked against her chest on a sheet of cardboard, her dark eyes intensely focused on every word of explanation from her foreign teacher.

Right at that moment, a Vietnamese man stops his motorbike, leaning down to shake hands with the Western youth after buying some goods to support the poor mother. Both the little girl and her foreign teacher look up, breaking into radiant smiles and offering sincere thanks to the Vietnamese customer. That smile is so natural, shimmering under the dim light, in stark contrast to the chaotic, suffocating rush of traffic honking relentlessly around them. It is a scene like a pure pocket of silence painted by mistake onto an urban canvas scarred with the struggles of making a living.

Merci stares intently at the teacher and student. The boy's eyes, usually filled with the mischievous spark of someone obsessed with soccer and cooking, suddenly soften, glistening with an indescribable emotion.

Clutching his football tightly to his belly, he falls silent for a long moment before speaking of his "future career."

Part 2: "Xenophilia"

“I saw this yesterday, Dad,” Merci says, pointing out a VTV clip broadcasting on the screen.

The next day, the Old Man discovers that the image of the Western guy and the little girl at the gas station has flooded VTV and major news outlets. People praise him—his name is Christopher—with beautiful words, calling him an angel of benevolence. Yet, the moment he witnesses this media explosion, the Old Man's mind suddenly... wanders off-track. A naked question pops into the head of the one who has lived long:

"If the person sitting and teaching on that street corner wasn't a blue-eyed, blonde Western guy, but a poor Vietnamese man, or a disheveled student volunteer, would they be celebrated with such a massive wave of public acclaim?"

Memories of a past journey suddenly rush back, blurry yet painful. The Old Man remembers his struggling years when he opened a cafe in his hometown. In those days, to test a hypothesis, he posted a notice in English on the glass door of the air-conditioned room: "Free for foreigners."

Assessment.

Some shook their heads in dismay; others snickered, whispering behind his back: “Where on earth are we going to find Westerners in this countryside? Why show off?” or “Why should we offer free things to foreigners? They are richer than us anyway.”

The Old Man kept silent. Every day, he asked his staff about the number of foreign customers coming in—not out of greed for profit, but because he wanted to measure how much gravity these outsiders from beyond this S-shaped land held over the Vietnamese psyche.

Strange.

The results revealed themselves clearly and dismally. When a few naturalized foreign soccer players came to the cafe, the crowd instantly swarmed them as if they had encountered great historical figures. They didn't speak, but sat around them, wearing friendly smiles.

Even an old high school classmate of his proudly brought her foreign boyfriend to the shop to bask in everyone's admiration. She concluded with a sentence, translating on behalf of her partner: “I don't like this.” Watching the crowd gather around and serve a stranger simply because of his skin color, the Old Man bitterly realized a harsh truth: the disease of xenophilia is deeply rooted in the bones.

Entering university auditoriums, then growing up and stepping onto the streets, the Old Man and his peers had once frantically sought out foreign friends to hang out with. The initial goal was simple enough—just to improve their English, to equip themselves with a livelihood tool to cling to this high-pressure city.

Irony.

The more the Old Man associated with "foreigners," the more the contrast became glaringly obvious, like a stark two-tone painting of East and West.

That difference left the Old Man bewildered. This question led to many others: Why such a difference? Where does this foreign obsession come from? Why do Vietnamese people self-deprecate and revere foreigners so strangely? Could it stem from a thousand years of feudalism, a hundred years of colonization, flowing through our veins, inheriting a subconscious inferiority complex that persists to this day? The Old Man took this urban-mirror reflection back to his small hometown to measure, and the only answer he received was a powerless silence.

Remembrance.

We are taught until we memorize it by heart. Our people take pride in the origin story of fifty children heading to the sea and fifty ascending the mountains, proud of our heroic Lac Hong lineage. Yet looking at reality, a "long-lived" child who went to the city like the Old Man—once throwing himself into life as a mere public servant—only feels a profound heartache.

Entering the professional world, interacting broadly between Asian and European environments, the self-reflecting mirror became clearer. The Old Man saw clearly the difference between the deep, guarded reserve of East Asians and the decisive, straightforward nature of Westerners; he saw the thin line between civilized pragmatism and deceit hiding in plain sight. That canopy of thought remained desolate; the Old Man could only keep it to ruminate on by himself.

And then, that long-suppressed tension erupted on the day the Old Man stood on the grand stage of the Hoa Binh Restaurant, quietly observing the graduation ceremony of a cohort of FPT Polytechnic students. Looking down, he saw thousands of fresh, naive, and innocent faces participating in the ritual—kids carrying the "worry about it tomorrow" mindset, only wishing for the program to end as quickly as possible so they could pack up and go home.

Letting out a self-deprecating laugh, the Old Man spoke up, uttering lofty words as if to soothe his own self, to ease the gnawing pain that had eaten at his heart for so long:

—“We Vietnamese are exceptionally talented. Truly! Do not box yourselves into a frame of cowardly weakness or empty, reckless arrogance. Every prejudice, every inferiority complex—it all begins in your own mind.”

His voice, amplified by the sound system, drifted through the acoustic ceiling's delicate design, spreading across the space like waves washing onto the shore—weightless and unhurried. Some listened, others did not, but those words belonged to the sky of awakened contemplations.

The world turns, time flows. Later on, the Old Man had the chance to meet and speak with Vietnamese people who dared to step out into the vast world, proudly working at top tech corporations in foreign lands. Upon their return, they all carried the same heavy, melancholic sentiment. Every time he asked about that restless sorrow, they would offer a heartbreaking metaphor:

—“Why must ripe rice always bow its head?”

Because no matter where they go, they face discrimination and prejudice, ranging from positive stereotypes to negative biases. We Vietnamese are intelligent, quick to synthesize, and among the best at problem-solving. But why, after achieving fame abroad, do they not want to return to their homeland?

The answer is incredibly painful and bitter: Because they fear the disdain; they fear facing the xenophilic mindset and the narrow-minded jealousy of their own countrymen. Often, what hurts them most deeply is simply their inability to accept a crowd blindly obsessed with foreigners—a reality they themselves have tasted fully and painfully, yet find no one to share it with.

The Old Man sinks into the worn, complicated, and scarred thoughts of an adult, until Merci's voice pulls him back to reality.

Part 3: The "If... Then..." Blueprint

After witnessing the scene on the corner of Pasteur, Merci’s mind starts firing off a series of questions and "if... then..." propositions.

—“Dad, if in the future I grow up, become a great chef, and make money...”

—“Then what, my boy?”

The Old Man smiles, his eyes still fixed on the road ahead. Amidst the noisy street, he hears his son's voice with absolute clarity.

—“If I make a lot of money, then first, I can take care of myself. After that, I will provide fully for our family...” Little Merci suddenly pauses for a moment. “And... if I have any money left over, I will use it to help other kids, to help those pitiful lives on the streets, just like that little girl at the gas station the other day, Dad.”

"Thấy tội"—that quintessential Southern Vietnamese expression, rustic, simple, yet holding a massive capacity for love.

The Old Man is taken aback. Listening to his son, his eyes sting with tears. The Old Man—a long-lived fellow who had the chance to travel here and there, immersing himself in lofty philosophies—had, in the end, allowed his soul to be clouded by doubts, prejudices, and a cold defensiveness.

His boy Merci doesn't need to know the complexities of history or crowd psychology. Yet, the natural compassion in his heart moves the Old Man in an instant. His child’s innocence needs no tech filters; it gifts the Old Man a natural smile—the kind of serene smile he has spent so much exhausting time searching for on fake social media platforms or along the weary path of a public servant.

Outside the window, the Saigon night sky has cooled down after the late thunderstorm. The frantic honking of motorbikes has subsided; the city begins to settle into a deep breath.

The Old Man knows that tomorrow, the high-pressure grind will resume, and the world out there will continue to spin at a dizzying pace. But the Old Man no longer feels bewildered or lonely. Because beside him, a tiny lighthouse named Merci has lit up the path of compassion, guiding the Old Man through long, dusty days with absolute trust and love.

Just open your eyes. Though life may be short, the Old Man's heart still overflows with love because he has his children by his side.

Thank you, life, for the misconceptions, so that we may cherish these honest, heartfelt moments all the more.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

[Nhật ký của cha] Merci, ông già & con chữ [Dad's diary - Merci, the old man & language]

  Ai rồi cũng phải lớn! Ông già nhận ra điều đó khi ngồi ly trà cúc còn ủ hơi nóng ở một đêm cuối hạ, lắng nghe thằng nhóc Merci nói bằn...